RSS

Cần có sự hướng dẫn thống nhất về việc xử lý một số tội phạm trong bộ luật hình sự năm 1999

20 Tháng 10

TS. Nguyễn Minh Đức
Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu TPH & PNTP-Học viện CSND

Nguyễn Thị Hải Yến
Giáo viên Bộ môn Pháp luật-Học viện CSND

Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 là công cụ sắc bén và hữu hiệu của Nhà nước ta trong việc quản lý xã hội, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, đáp ứng những yêu cầu mới của đất nước. Đồng thời đánh dấu một bước quan trọng trong việc bổ sung, hoàn thiện pháp luật hình sự nước ta. Sau gần 10 năm áp dụng và thi hành BLHS, các cơ quan có thẩm quyền trong việc hướng dẫn, giải thích BLHS trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm xét xử đã kịp thời ban hành nhiều văn bản giải thích những quy định mới được sửa đổi, bổ sung trong BLHS 1999.

Tuy nhiên nhiều chế định, tội danh mới được sửa đổi, bổ sung đến nay vẫn chưa có hướng dẫn, giải thích chính thức từ phía cơ quan có thẩm quyền, hoặc có giải thích nhưng chưa rõ ràng, dẫn đến có những cách hiểu khác nhau và tất yếu sẽ đưa đến hậu quả là: định tội danh khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự không đúng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà chủ thể tội phạm gây ra, hoặc tội phạm lợi dụng việc quy định không rõ ràng đó để chối tội,… Trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin đề cập và trao đổi về một số hành vi và tội danh được quy định trong BLHS 1999, mà hiện đang có những quan điểm không thống nhất hoặc trái ngược nhau khi xử lý.

Một là, khoản 1 Điều 97 BLHS – Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ quy định: “Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, thì…” Vậy theo tinh thần của điều luật này thì hiểu thế nào cho đúng là “dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép”, thực tế đang có những cách hiểu khác nhau về vấn đề này như sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, thực tế đang có một trong những hành vi có tính chất bạo lực (như cố ý gây thương tích, giết người, gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ, hủy hoại tài sản), theo quy định của pháp luật thì người đang thi hành công vụ chưa cần thiết phải sử dụng vũ lực (sử dụng súng, cộng cụ hỗ trợ khác) để ngăn chặn một trong những hành vi nêu trên, nhưng đã sử dụng vũ lực dẫn đến hậu quả chết người (có thể chết chính những người đang có một trong những hành vi nguy hiểm nêu trên hoặc người xung quanh không có liên quan đến hành vi nguy hiểm cho xã hội, thì bị coi là phạm vào Đ.97 BLHS. Quan điểm thứ hai cho rằng, thực tế có một trong những hành vi nêu trên đang diễn ra, pháp luật cho phép cần phải dùng vũ lực ngay để ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội để bảo vệ lợi ích của nhà nước và lợi ích hợp pháp của công dân và người thi hành công vụ trong qúa trình dùng vũ lực đã làm chết một hoặc nhiều người xung quanh khác – người không có hành vi liên quan tới những hành vi nguy hiểm cho xã hội nói trên, thì bị coi là phạm vào Đ.97 BLHS. Quan điểm thứ ba cho rằng, thực tế có một trong những hành vi nêu trên đang diễn ra cần phải dùng vũ lực ngay để ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng phải tuân theo quy định của pháp luật về việc sử dụng vũ khí và công cụ hỗ trợ và không được phép gây ra cái chết cho người có hành vi nguy hiểm, nhưng thực tế người thi hành công vụ đã không tuân theo quy trình về sử dụng vũ khí và công cụ hỗ trợ, nên đã gây ra cái chết cho chính những người đang có hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc người xung quanh – người không có liên quan đến hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hoặc trong khi làm những nhiệm vụ khác (như Cảnh sát giao thông đuổi xe vi phạm đã gây tai nạn làm chết người) thì mới bị coi là phạm vào Đ.97 BLHS.

Ví dụ, vụ án “Kiểm lâm bắn nhầm đồng đội” xảy ra tại huyện TL, tỉnh BT vào tháng 3/2002. Vụ việc cụ thể như sau: Ngày 17/3/2002 Tổ kiểm soát lâm sản gồm năm người đang làm nhiệm vụ tại cửa rừng thuộc huyện TL tỉnh BT đã phát hiện một nhóm “lâm tặc” khoảng 15 tên đang sử dụng xe bò vận chuyển một số lượng lớn gỗ từ trong rừng đi ra, Tổ kiểm soát yêu cầu dừng lại để kiểm tra, nhưng tên cầm đầu đã hô hào đồng bọn cầm dao và mã tấu xông vào chém các đồng chí trong tổ công tác, và đã gây thương tích nặng cho một Kiểm lâm viên, thấy vậy đồng chí Tổ trưởng đã chạy vào Trạm cách đó khoảng 15m lấy khẩu súng AK và nhằm thẳng vào đám lâm tặc bắn liền 5 phát, nhưng không trúng tên nào mà lại trúng vào một đồng chí kiểm lâm viên làm đồng chí này chết ngay tại chỗ[i]. Sau vụ việc này có ý kiến cho rằng, đồng chí Tổ trưởng phạm tội giết người (Đ.93 BLHS), bởi hành vi “nhằm thẳng” vào đám lâm tặc bắn liền 5 viên đạn mà không cần biết là có người chết hay không đã đủ yếu tố cấu thành tội giết người (trong khi thực tế có người chết). Ý kiến khác cho rằng hành vi tấn công người thi hành công vụ của bọn “lâm tặc” là cực kỳ nguy hiểm, việc nổ súng của đồng chí Tổ trưởng là hoàn toàn cần thiết nhằm bảo vệ tài sản nhà nước và tính mạng của đồng đội, nhưng việc nổ súng đó (dùng vũ lực) đã không tuân thủ các quy định của pháp luật về việc sử dụng vũ khí quân dụng và đã gây ra cái chết cho chính đồng đội của mình. Do vậy hành vi bắn trên phạm vào tội làm chết người trong khi thi hành công vụ Đ.97 BLHS, chứ không phạm tội giết người.

Trên cơ sở các ý kiến về vụ án này và từ những quan điểm nêu trên, chúng tôi cho rằng quan điểm thứ nhất là hoàn toàn không chính xác với tinh thần của khoản 1 Đ.97 BLHS, nếu thực tế trường hợp xảy ra như quan điểm thứ nhất, người thi hành công vụ mà sử dụng vũ lực gây hậu quả chết người thì cần phải truy tố về tội giết người Đ.93 BLHS. Còn đối với quan điểm thứ hai, chúng tôi cho rằng cách hiểu này chưa đầy đủ, bởi thực tế nếu người thi hành công vụ sử dụng vũ lực có thể làm chết chính người có hành vi xâm hại thì xử lý theo tội danh nào? Như vậy chỉ có quan điểm thứ ba mới hoàn toàn chính xác và đầy đủ theo đúng với quy định của Đ.97 BLHS. Hai là, về hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị say rượu hoặc bị tai nạn đang bất tỉnh nhân sự, hiện nay đang có những quan điểm định tội danh khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, người nào chiếm đoạt tài sản của người khi họ đang ở trong tình trạng say rượu hoàn tòan không có khả năng quản lý tài sản hoặc người bị tai nạn (có thể là tai nạn giao thông, tai nạn lao động, hoặc bất ngờ đột quỵ) hoàn toàn bất tỉnh thì phạm vào tội “Cướp tài sản” Đ.133 BLHS, bởi vì đây là hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị hại trong tình trạng bị “tê liệt” về ý trí và không có “khả năng chống cự”. Quan điểm thứ hai cho rằng, trong trường hợp này người có hành vi chiếm đoạt tài sản phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” Đ.138 BLHS, bởi vì người phạm tội hoàn toàn không có hành vi sử dụng “vũ lực”, hoặc hành vi tác động làm “tê liệt ý trí” mà chỉ là hành vi lợi dụng tình trạng bất tỉnh của người bị hại để “lén lút” chiếm đoạt tài sản mà thôi.

Ví dụ, vụ án “Chiếm đoạt tài sản của người say rượu” xảy ra tháng 7/2006 tại Thị xã Tây Ninh. Vụ việc cụ thể như sau: Đêm 15/7/2006 Huỳnh Văn S và Lê Công Q đi uống rượu về phát hiện chị P say rượu nằm mê mệt bên đường, thấy chi P đeo nhiều vàng trên người S và Q đã đưa chị P vào lề đường lấy đi một bộ vòng ximen 14 chiếc, 3 chiếc nhẫn vàng, 1 điện thoại di động, tổng giá trị tài sản là 7,2 triệu đồng. Đến gần sáng chị P tỉnh rượu và phát hiện bị mất tài sản vội đi báo cơ quan Công an. Sau một thời gian điều tra Công an Tây Ninh đã xác định S và Q là thủ phạm chiếm đoạt số tài sản trên của chị P. Sau khi sự việc xảy ra có các quan điểm sau: một bộ phận các cơ quan tiến hành tố tụng Thị xã Tây Ninh cho rằng S và Q phạm tội cướp tài sản Đ.133 BLHS vì lý do hành vi chiếm đoạt tài sản khi chị P đang ở trong tình trạng bị tê liệt ý trí. Nhưng quan điểm của luật sư bào chữa cũng như một số khác của cơ quan tiến hành tố tụng thị xã Tây Ninh và đa số người khác cho rằng S và Q phạm tội trộm cắp Đ.138 BLHS vì họ không có bất kỳ hành vi dùng vũ lực hoặc hành vi nào khác làm tê liệt ý trí của chị P, mà họ chỉ lợi dụng chị P say rượu để lén lút chiếm đoạt tài sản, nên không phạm tội cướp tài sản[ii]. Với những quan điểm trên, vụ án này hiện đang bị kháng cáo.

Theo chúng tôi, trường hợp người nào mà lợi dụng sự bất tỉnh (tê liệt ý trí) của người say hoặc người bị nạn, mà có hành vi chiếm đoạt tài sản thì chỉ phạm tội trộm cắp tài sản theo Đ.138 BLHS, mà không thể xử lý về tội cướp tài sản, bởi vì trường hợp này không thỏa mãn dấu hiệu “dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác” làm tê liệt ý trí của người quản lý tài sản theo khoản 1 Đ.133 BLHS. Còn trước đó, nếu người có hành vi chiếm đoạt chuốc rượu cho một người nào đó làm cho họ bị say hoặc trước đó do vi phạm an toàn giao thông đã trực tiếp gây ra tai nạn làm cho người có tài sản bị bất tỉnh (mặc dù trước đó hoàn toàn không có ý định chiếm đoạt tài sản, còn nếu có ý định chiếm đoạt từ trước thì không có gì phải bàn cãi), sau đó lòng tham nổi lên và chiếm đoạt tài sản của họ thì phải bị xử lý về tội cướp tài sản theo Đ.133 BLHS, bởi xét trong mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả, thì hành vi chuốc rượu hoặc gây tai nạn đó là hành vi đi liền trước và là nguyên nhân trực tiếp làm cho người có tài sản bị rơi vào tình rạng bị “tê liệt” ý trí không còn khả năng quản lý tài sản, điều này hoàn toàn thỏa mãn yếu tố cấu thành tội phạm cướp tài sản – đó là “có hành vi khác”.

Ba là, trường hợp người phạm tội thực hiện nhiều tội phạm trong cùng một điều luật như: Tội bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật (Đ.123 BLHS); tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Đ.194 BLHS); tội chế tạo tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Đ.230 BLHS); tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (Đ.232 BLHS);… Qua nghiên cứu tổng kết công tác xét xử của ngành Tòa án cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ở một số địa phương chưa có sự thống nhất về việc xác định tội danh đối với người khi thực hiện hai hoặc nhiều hành vi trong cùng một điều luật, dẫn đến việc áp dụng hình phạt thiếu chính xác hoặc không tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội. Cụ thể là thực tế có hai quan điểm sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, trường hợp một người thực hiện cùng một lúc hai hoặc nhiều hành vi trong cùng một điều luật thì chỉ bị xử phạt về một tội theo tên gọi của điều luật đó, chẳng hạn, người có hành vi bắt người trái pháp luật rồi đưa đến một địa điểm nào đó giữ hoặc giam, thì chỉ bị tuyên phạt về “Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật” Đ. 123 BLHS. Nhưng quan điểm thứ hai lại cho rằng, trường hợp như trên sẽ bị bị truy tố, xét xử chung với tất cả các hành vi được quy định trong điều luật và phải tuyên phạt về hai tội “Bắt người trái pháp luật” và “Giữ người trái pháp luật” theo Đ.123 BLHS.

Ví dụ, trong vụ án “Bắt, giữ người trái pháp luật” xảy ra tháng 7/2005 tại Diên Khánh tỉnh Khánh Hòa đã có hai khẳng định khác nhau của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Tình tiết của vụ việc như sau: do có mâu thuẫn với nhau từ trước Nguyễn Văn Lộc đã bắt ông Lê Văn Hưng ở dọc đường rồi áp giải ông Hưng về nhà có tường rào bao quanh và đưa vào nhà đóng cửa, khống chế, sau một thời gian nhất định ông Hưng đã được giải thoát. Sau khi xảy ra vụ việc trên Cơ quan CSĐT Công an huyện và VKSND huyện Diên Khánh đã khởi tố và truy tố về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Đ.123 BLHS, nhưng TAND huyện Diên Khánh sau khi nghiên cứu hồ sơ lại cho rằng “Bắt” và “Giữ” là hai tội riêng biệt nên đã ra Quyết định số 02/HSST-QĐ trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung[iii]. Và sau đó Cơ quan CSĐT đã đình chỉ điều tra về tội “Giữ người trái pháp luật” mà chỉ khởi tố về tội “Bắt người trái pháp luật”, với lý do hành vi giữ người sau đó là sự tiếp diễn liên tiếp của hành vi bắt, hỗ trợ cho hành vi bắt.

Từ những quan điểm và với vụ việc nêu trên, theo chúng tôi quan điểm thứ nhất là đúng với quy định của Đ.123 BLHS và hoàn toàn nhất trí với quan điểm cho rằng, không thể tách hành vi “Bắt người trái pháp luật” thành một tội danh độc lập mà phải khởi tố với tội danh “Bắt, giữ người trái pháp luật” hoặc “Bắt, giam người trái pháp luật” hoặc “Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật” theo đúng tên gọi của Đ.123 BLHS thì mới chính xác, bởi theo quy định của điều luật, hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật không thể xảy ra độc lập mà có sự liên hệ mật thiết, logic với nhau: bắt thì phải giữ, muốn giữ hoặc giam thì phải bắt[iv].

Tóm lại, với một số vấn đề nêu trên có thể nói rằng đây là những lỗ hổng của pháp luật hình sự nước ta và thực trạng đường lối xử lý các loại án trên đang có vấn đề về nhận thức đối với các quy định trong BLHS cần phải được nhanh chóng khắc phục. Theo chúng tôi trước mắt các cơ quan Công an, Kiểm sát, Tòa án cần khẩn trương ban hành văn bản liên tịch giải thích, hướng dẫn cụ thể việc xử lý đối với các tội phạm nêu trên nói riêng và một số chế định cũng như tội phạm cụ thể khác nói chung trong BLHS 1999 để đảm sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật hình sự phục vụ yêu cầu đấu tranh chống tội phạm hình sự trong tình hình hiện nay, đảm bảo sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật, xử lý đúng, người đúng tội. Đồng thời khắc phục những lỗ hổng của pháp luật hình sự nhằm hạn chế tối đa những thiếu sót và những tiêu cực trong việc giải quyết các vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, góp phần nâng cao hiệu quả vào tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.
Nguồn: Tạp chí Công an nhân dân số 1/2008

About these ads
 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 64 other followers

%d bloggers like this: