RSS

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong Luật hình sự Việt Nam

12 Tháng 11

Ths. Phạm văn Báu.

Trường Đại Học Luật Hà Nội

Bài viết được sưu tầm trên tạp chí luật học số 5/2004

Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, những hành vi này không chỉ trực tiếp xâm phạm an toàn công cộng, mà còn còn cản trở hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc điều tra, xử lí người phạm tội, gián tiếp khuyến khích người khác phạm tội nhiều lần. Do vậy, trong luật hình sự Việt Nam những hành vi này bị coi là tội phạm rất sớm. Dưới chế độ phong kiến, dù không được quy định thành tội danh riêng như trong luật hình sự hiện nay nhưng nhiều quy định của luật coi như là tội phạm và trừng trị nghiêm khắc người có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do “ ăn trộm” “ ăn cướp” hoặc do “ phạm tội đại hình hay trừng trị mà lấy được”. Dưới chế độ mới ở nước ta, từ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay, Nhà nước luôn coi những hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là tội phạm. Thời kì đầu, luật cũng chưa quy định tội chưa chấp tài sản hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thành tội danh riêng mà coi và xử phạt người có hành vi này như là những người chính phạm, tức là chứa chấp, tiêu thụ của gian là đồng phạm nếu có sự hứa hẹn trước hành vi “oa trữ” tức là chứa chấp, tiêu thụ của gian là đồng phạm nếu có hứa hẹn trước với hành vi “ oa trữ” không phải là đồng phạm mà là một tội riêng biệt nếu không có hứa hẹn trước.

Khi Nhà nước ban hành các pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được quy định thành tội riêng. Nhưng theo pháp lện này, tội chưa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là những tội có khách thể là quan hệ sở hữu và được xếp vào nhóm tội có ý trực tiếp xâm phạm tài sản. Trong các pháp lệnh đó cũng chưa có sự phân biệt hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là tội phạm độc lập nếu không có hứa hẹn trước, với hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là đồng phạm nếu có sự hứa hẹn, thỏa thuận trước giữa người chứa chấp, tiêu thụ, với người có tài sản do chiếm đoạt mà có.

Sự phân biệt hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có cấu thành độc lập với hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có cấu thành hành vi đồng phạm chỉ được thể hiện trong văn bản giải thích luật lien ngành: Tòa án nhân dân tối cao. Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ công an.

Trong BLHS năm 1985, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đã được quy định thành tội riêng tại Điều 201. Điều luật này quy định;

  1. 1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản mà biết rõ là người khác phạm tội mà có thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm.

  1. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm ;
  1. a. có tổ chức;
  2. tài sản có số lượng lớn hoặc có giá trị lớn ;
  3. tái phạm nguy hiểm

Ngoài ra , theo các khoản 2, 3 tại Điều 218, người phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có còn có thể bị quản chế hoặc cấm cư trú từ 1 đến 5 năm. Bị phạt tiền từ một nghìn đồng đến năm mươi ngìn đồng và có thể bị tịch thu một phần tài sản do người khác phạm tội mà có không còn được coi là cố ý trực tiếp xâm phạm tài sản mà là tội cố ý trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng có khách thể trực tiếp là trật tự công cộng. BLHS cũng phân biệt ngay trong luât trường hợp chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tộimà có cấu thành tội độc lập với trường hợp chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có cấu thành hành vi đồng phạm quy đồng phạm qua quy định.; “ Người nào không hứa hẹn trước ….” . BLHS không giới hạn đối tượng của tội phạm này như trong các pháp lệnh mà mở rộng đối tượng của tội chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có không chỉ là tài sản bị chiếm đoạt mà còn là tài sản do người khác phạm bất cứ tội gì mà có. Trong lần sữa đổi bổ sung BLHS lần thứ hai năm 1991, quy định về hình phạt của tội này đã được sữa đổi bổ sung theo hướng phân hóa trách nhiệm hình sự một cách rõ hơn. Cụ thể, Điều 201 mới được cấu tạo bởi ba khung hình phạt. Trong đó có một số tình tiết định khung tăng nặng được quy định bổ sung thêm. Đồng thời hình phạt tiền là hình phạt bổ sung được thay đổi từ một nghìn đồng đến năm mươi nghìn đồng thành từ một triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

Hiện nay, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được quy định tại điều 250 BLHS năm 1999. So với những quy định tại điều 201 BLHS năm 1985, quy định về tội này trong BLHS 1999 có nhiều điểm mới. Đó là ; Phân hóa hình phạt từ ba đến bốn khung hình phạt chính và một khung hình phạt bổ sung. Trong đó nhiều tình tiết tăng nặng định khung mới được quy định. Đồng thời phạm vi áp dụng hình phạt tiền cũng được mở rộng hơn ( không chỉ quy định hình phạt bổ sung như trước mà còn quy định là hình phạt chính).

Nghiên cứu quy định của luật về tội phạm này và những quy định khác trong luật hình sự, tham khảo thức tiễn chúng tôi thấy còn một số vấn đề cần được nghiên cứu, góp phần giải đáp những vướng mắc mà thực tiễn xét xử đặt ra. Đó là;

1. Về đối tượng của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Tội danh và quy định của điều luật đã cho thấy đối tượng của tội phạm này là tài sản và tài sản đó phải do người khác phạm tội mà có. Ở đây, câu hỏi được đặt ra là phải có phải mọi đối tượng vật chất do phạm tội mà có đề được coi là tài sản và là đối tượng của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có không? Cụ thể , chứa chấp hoặc tiêu thụ những đối tượng vật chất là hàng cấm do người khác phạm tội mà có như các loại pháo, thuốc lá điếu sản xuất tại nước ngoài, ma túy…có phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có không?  Theo chúng tôi, hàng cấm đã được BLHS quy định là đối tượng của các tội phạm riêng mà không được coi là tài sản vì thế, người chứa chấp hoặc tiêu thụ đối tượng là hàng cấm do người khác phạm tội mà có vì bất kì mục đích, động cơ gì sẽ không coi là phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có tùy tính chất của đối tượng được chứa chấp và tiêu thụmà truy cứu trách nhiệm hình sự của ngừoi có hành vi về các tội danh tương ứng trong BLHS, ví dụ” chứa chấp hoặc tiêu thụ chất ma túy ( không hứa hẹn trước) là phạm tội tàng trử mua bán trái phép chất ma túy( Điều 194) . Theo các hiểu này, đối tượng của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có chỉ có thể là tài sản ( các đối tượng vật chất, hàng hóa, tiền) do phạm tội mà có trừ các đối tượng vật chất là hàng cấm do phạm tội mà có.

2. Về mức độ hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và về dấu hiệu “…do người khác phạm tội mà có”

Trong quy định về tội này, điều luật không xác định chứa chấp, tiêu thụ tài sản có giá trị bao nhiêu mà chỉ quy định “… chứa chấp, tiêu thụ tài sản mà biết rõ là do người khác phạm tội mà có…” . Qua quy định này có thể hiểu, chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ( trừ đối tượng là hàng cấm ) luôn cấu thành tội phạm mà không phụ thuộc vào mức độ. Nhưng từ đó rẫn đế một bất hợp lí sau;

Trong khi hành vi chứa chấp , tiêu thụ tài sản có giá trị nhưng vẫn có bị coi là phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có vì tài sản chứa chấp, tiêu thụ có giá trị không lớn nhưng tài sản lại do người khác phạm tội  mà có thì trái lại, hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản có giá trị lớn vẫn không bị coi là phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có vì tài sản chứa chấp, tiêu thụ dù có giá trị lớn nhưng tài sản lại không do người khác phạm tội mà có vì người thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác không thỏa mãn dấu hiệu về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự . Ví dụ; A mới 15 tuổi có hành iv trộm cắp tài sản của người khác có giá trị dưới 200 triệu đồng và mang đi bán . B  biết tài sản do A bán cho mình là tài sản do trộm cắp mà có. Nhưng do người có tài sản bán là A không phải là người phạm tội nên B tiêu thụ tài sản này cũng không phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Với bất hợp lí trên đây chúng tôi kiến nghị ; Bổ sung yếu tố định lượng giá trị tài sản chứa chấp hoặc tiêu thụ và sữa cụm từ “ do người khác phạm tội mà có” trong cấu thành cơ bản của tội này bằng cụm từ “ do người khác vi phạm pháp luật mà có”. Việc sữa đổi này không chỉ loại trừ các bất cập trên đây mà còn đáp ứng các yêu cầu sau.

Thứ nhất, hành vi chứa chấp tiêu thụ tài sản do phạm tội hay do vi phạm pháp luật mà có phải đến một giá trị nhất định mới thể hiện đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của loại tội này, trong trường hợp chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản chưa đạt mức đã định trong luật thì những hành vi này cũng sẽ bị coi là tội phạm khi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản nhiều lần; hoặc;

Thứ hai, sử dụng cụm từ “ do người khác vi phạm pháp luật mà có” có nghĩa rộng hơn “ do người khác phạm tội mà có ởi người vi phạm pháp luật có thể là người phạm tội hoặc tuy không phạm tội vì chủ thể thiếu một trong những dấu hiệu của chủ thể của tội phạm và người này không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do chính sách hình sự của Nhà nước với riêng họ – chính sách đối với người chưa thành niên phạm tội.

3. Về dấu hiệu lỗi của người chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do ngươig khác phạm tội mà có.

Theo quy định của điều 250 BLHS; “ Người nào… mà chứa chấp, tiêu thụ mà biết rõ là do người khác phạm tội mà có…”. Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp.

Trong thực tiễn, thái độ tâm lí của người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có có thể là;

-        Biết rõ tài sản do người khác phạm tội mà có;

-        Chỉ biết mà không biết rõ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Đấu tranh với người phạm tội này còn cho thấy không ít trường hợp bằng giác quan hoặc kinh nghiệm tiêu thụ tài sản của người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ biết rõ tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng chỉ khai nhận là biết mà không biết rõ và những tình tiết khách quan, chủ quan khác của vụ án chỉ cho phép cơ quan điều tra chứng minh và kết luận được người có hành vi chứa chấp, iêu thu chỉ biết mà không biết rõ tài sản do người khác phạm tội mà có. Bởi có một điều đương nhiên là những kẻ bị tình nghi không bao giờ tự thú thật ý thức của mình, vì thế đòi hỏi các yếu tố biết rõ vừa không thực tế trong nhiều trường hợp vừa phức tạp với cơ quan tội phạm trong tình hình hiện nay. Vì vậy theo chúng tôi cần nghiên cứu và sữa chữa quy định của luật hiện nay theo hướng quy định của không chỉ phản ánh được thực tiễn khách quan của các vụ án loại tội này cũng như thái độ tâm lí của đa số các trường hợp người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Trong thực tế chỉ biết tài sản do người khác phạm tội mà có mà không và trong nhiều trường hợp không thể “ biết rõ” tài sản do phạm tội mà có nhưng vẫn chứa chấp, tiêu thụ và chấp nhận tất cả mà còn giảm bớt nghĩa vụ của các cơ quan điều tra trong việc chứng minh yếu tố “ biết rõ” của người phạm tội trước những diễn biến phức tạp của loại tội này hiện nay bởi chứng minh các yếu tố “ biết” đơn giản hơn các yếu tố “ biết rõ”. Trong sự thống nhất giữa các dấu hiệu khách quan ( hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do… đến một giới hạn nhất định do luật quy định hoặc…) và chủ quan ( người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản “ biết” tài sản do… mà có) là đã phản ánh được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm này. Với cách tiếp cận này, theo chúng tôi cụm từ “ biết rõ là do…” thành “ biết là do…”. Nếu người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài “ biết rõ” tài sản là do người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng mà có thì cần coi tình tiết này là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt.

Từ những phân tích trong các mục 2 và 3 trên đây, chúng tôi kiến nghị sữa tên tội danh và quy định trong cấu thành tội phạm cơ bản tội chứa chấp hoặc tiêu thụ… Bổ sung vào cấu thành tăng nặng( khung 2) của điều luật tình tiết tăng nặng “ Biết rõ tài sản chứa chấp, tiêu thụ là do người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng”. Sữa các tình tiết quy phạm tại điểm c khoản 2 và điểm a khoản 3, khoản 4 bằng những giá trị tài sản cụ thể. Và Điều 250 mới sẽ có tên gọi và cấu trúc như sau;

Điều 250 tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

  1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết là do người khác vi phạm pháp luật mà có, có giá trị từ 1 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 1 triệu đồng nhưng chứa chấp, tiêu thụ tài sản nhiều lần hoặc có tính chất chuyên nghiệp hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm pháp luật thì bị phạt…
  2. Phạm tội một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt…

a…

b…

c. Chứa chấp, tiêu thụ tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng .

d…

đ…

e. Biết rõ tài sản chứa chấp, tiêu thụ là do người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mà có.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt…

a. Chưa chấp, tiêu thụ tài sản có giá trị từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng ;

b…

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt…

a. Chứa chấp, tiêu thụ tài sản có giá trị 500 triệu đồng trở lên;

b….

About these ads
 
 

One response to “Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong Luật hình sự Việt Nam

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 59 other followers

%d bloggers like this: