RSS

Một số vấn đề lý luận về hình phạt tiền

27 Tháng 8

1. Khái niệm và đặc điểm của hình phạt tiền

Hình phạt tiền có tên gọi tiếng Pháp là “amende”, Tiếng Đức là “Geldstrafe”, tiếng anh là “Fine” và tiếng Ả Rập là “ Diya” và nó thể hiện trong cái gọi là “ Fridensgeld” hoặc “ argent de la paix”, nghĩa là số tiền nhất định mà người phạm tội phải nộp cho cộng đồng để thiết lập lại hòa bình thông qua quyết định tư pháp.1

Bộ luật hình sự hiện hành không nêu khái niệm hình phạt tiền như một số nước trên thế giới 2. Hiện nay, trong giới nghiên cứu lý luận hình sự cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm hình  phạt tiền3. Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung Điều 30 Bộ luật hình sự ( BLHS) quy định về hình phạt tiền, chúng ta có thể khái niệm như sau:

Hình phạt tiền là một loại hình phạt được áp dụng với tư cách là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung, khi hình phạt chính là loại hình phạt khác, do Tòa án quyết định trong những trường hợp do BLHS quy định mà theo đó người bị kết án bị tước một số tiền nhất định tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm trên cơ sở xem xét đến tình hình tài sản của người bị kết án và sự biến động của giá cả thị trường.

Từ khái niệm này cho thấy hình phạt tiền có những dấu hiệu cơ bản sau:

- Thứ nhất hình phạt tiền là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế bằng tiền của Nhà nước. Với tư các là một hình phạt được quy định trong BLHS thì hình phạt tiền mang tính nghiêm khắc nhất so với phạt tiền được quy định trong các biện pháp cưỡng chế khác của nhà nước. Tình nghiêm khắc nhất của hình phạt tiền trong BLHS thể hiện ở chỗ là nó tước đi ở người phạm tội một khoản tiền nhất định, nghĩa là trực tiếp làm hạn chế về mặt lợi ích vật chất của người phạm tội, Đồng thời, người bị kết án phạt tiền còn phải gánh chịu hậu quả pháp lý là mang lại án tích trong một thời hạn theo quy định của pháp luật4. Ngoài ra, mức phạt tiền tối thiểu và tối đa trong Luật hình sự cũng cao hơn so với các biện pháp cưỡng chế khác của Nhà nước. Chẳng hạn như trong Luật hành chính, mức phạt tiền tối thiểu là 5.000 đồng, tối đa là 500.000.000 đồng 5 trong khi đó Luật hình sự mức phạt tối thiểu hiện nay là 1.000.000 đồng, tối đa không xác định. Trong phần các tội phạm BLHS, chế tài phạt tiền được quy định đối với các tội phạm cụ thể ở hai dạng. Ở dạng thứ nhất, luật quy định mức phạt tiền được quy định bội số lần trị giá hàng phạm pháp hoặc giá trị của lợi bất chính. Ở dạng quy định thứ nhất, luật quy định mức tối đa là 1 tỉ đồng đối với phạt tiền là hình phạt chính; 500.000.000 đồng đối với phạt tiền là hình phạt bổ sung. Ở dạng thứ hai, mức tối đa tiền phạt không xác định vì mức tiền phạt phụ thuộc vào giá trị bất chính và được xác định theo bội số lần giá trị đã nêu. Qua đó cho thấy, hình phạt tiền trong Luật hình sự là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước trong các biện pháp cướng chế bằng tiền của Nhà nước.

Thứ hai: Hình phạt tiền được quy định trong BLHS. Cũng như các loại hình phạt khác trong Luật hình sự, hình phạt tiền được quy định trong văn bản Luật hình sự. Trong BLHS, hình phạt tiền được quy định ở cả phần chung và phần các tội phạm.. Phần chung quy định điều kiện, nội dung, phạm vi và nguyên tắc áp dụng hình phạt tiền, cách thức thi hành hình phạt tiền. Phần các tội phạm, hình phạt tiền được quy định với tư cách là hình phạt chính trong 68 Điều trong tổng số 263 Điều luật về tội phạm cụ thể với các tội có hậu quả ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự hành chính và một số tội phạm khác mà BLHS quy định. Với tư cách là hình phạt bổ sung, thì hình phạt tiền được quy định ở 103/263 Điều luật về tội phạm cụ thể, áp dụng đối với tội tham nhũng, ma túy, và một số tội phạm khác mà Bộ luật có quy định.

Thứ Ba: Phạt tiền là một loại hình phạt,, nên phải do Tòa án quyết định đối với người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội theo một trình tự riêng biệt. Theo Điều 127 Hiến Pháp 1992, Tòa án là cơ quan xét xử của nước CHXHCNVN; Điều 1 Luật Tổ chức tòa án nhân dân xác định chỉ có Tòa án nhân dân mới thẩm quyền xét xử các vụ án Hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình… và theo Điều 26 Bộ luật hình sự, thì cơ quan duy nhất có quyền áp dụng hình phạt đối với người phạm tội là Tòa án. Chỉ có Tòa án mới có quyền nhân danh Nhà nước quyết định một người có phải chịu hình phạt hay không và nếu chịu thì loại và mức hình phạt cụ thể áp dụng như thế nào. Vì vậy, hình phạt tiền với tư cách là một hình phạt trong hệ thống hình phạt được quy định trong BLHS thì cũng phải do Tòa án áp dụng và theo một trình tự riêng biệt. Trình tự riêng biệt đó là trong quá trình xét xử và quyết định hình phạt, Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Toàn bộ quá trình tố tụng để đi đến phiên toà xét xử để định tội và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội đều do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước tiến hành, đó là các cơ quan thực hiện hoạt động điều tra tội phạm, Viện kiểm sát thực hiện công tác kiểm sát điều tra, thực hiện quyền công tố của Nhà nước, thay mặt Nhà nước truy tố người phạm tội, buộc tội họ trước Tòa án và cuối cùng là Tòa án thực hiện chức năng xét xử theo trình tự mà pháp luật đã quy định.

Cũng giống như các hình phạt khác trong hệ thống hình phạt, phạt tiền chỉ có thể áp dụng đối với cá nhân người phạm tội. Bởi vì hình phạt là hậu quả pháp lý của tội phạm, là công cụ để thực hiện trách nhiệm hình sự. Theo luật hình sự Việt Nam thì trách nhiệm hình sự là trách nhiệm hình sự cá nhân6. Vì vậy, hình phạt nói chung, hình phạt tiền nói riêng chỉ có thể áp dụng đối với chính cá nhân phạm tội, chứ không được áp dụng đối với các thành viên trong gia đình hoặc đối với người thân thiết khác của người phạm tội. Tòa án cũng không được áp dụng hình phạt đối với tổ chức, với pháp nhân, vì Luật hình sự không thừa nhận pháp nhân hoặc tổ chức là chủ thể của tội phạm7.

Thứ tư: Phạt tiền là buộc người bị kết án phải nộp một khoản tiền nhất định để sung quỹ Nhà nước trong những trường hợp do luật quy định. “ Một khoản tiền nhất định” được hiểu là khoản nằm trong giới hạn giữa mức tối thiểu  và mức tối đa của từng điều luật cụ thể trong Phần các tội phạm của BLHS có quy định về hình phạt tiền. “ Trong những trường hợp luật quy định” là chỉ trong những trường hợp mà Điều luật cụ thể trong phần các tội phạm của BLHS có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc là hình phạt bổ sung thì Tòa án mới được áp dụng, còn trong những trường hợp khác mà Điều luật khác cụ thể trong phần các tội phạm của BLHS không có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc là hình phạt bổ sung, thì Tòa án không được áp dụng.

Chẳng hạn, phạt tiền là hình phạt chính áp dụng đối với người phạm tội buôn lậu theo quy định tại khoản 1 Điều 153 BLHS, thì mức phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng. Phạt ít hơn mười triệu đồng hoặc nhiều hơn một trăm triệu đồng đều là không đúng. Hoặc phạt tiền là hình phạt bổ sung áp dụng đối với người phạm tội mua dâm người chưa thành niên theo quy định tại Khoản 2 Điều 256 BLHS. Hình phạt bổ sung là phạt tiền, từ năm triệu đồng đến dưới mười triệu đồng. Phạt ít hơn năm triệu đồng  hoặc nhiều hơn năm triệu đồng cũng đều là không đúng.

Thứ năm: Khoản tiền buộc phải nộp phải tùy thuộc vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm, có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, cũng như sự biến động của giá cả thị trường. Về nguyên tắc, phạt tiền là một loại hình phạt được quy định trong BLHS; Khi quyết định hình phạt và mức phạt tiền, Tòa án phải xem xét và cân nhắc đến các quy định của BLHS; tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện; nhân thân người phạm tội; các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời có xem xét tới tình hình tài sản của người phạm tội và biến động của giá cả thị trường. Trên cơ sở đó, Tòa án có thể quyết định mức phạt tiền hợp lý, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Có như vậy thì mới đảm bảo được tính khả thi của hình phạt tiền trên thực tế.

Thứ sau: Phạt tiền là hình phạt được áp dụng là hình phạt chính hoặc áp dụng là hình phạt bổ sung, khi hình phạt chính là loại hình phạt khác. Hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do BLHS quy định và được áp dụng là hình phạt bổ sung khi hình phạt tiền không phải là hình phạt chính đối với người phạm tội về tham nhũng, mua túy hoặc những tội phạm khác do BLHS quy định. Như vậy, hình phạt tiền chỉ được áp dụng là hình phạt chính hoặc là hình phạt bổ sung khi hình phạt chính không phải là hình phạt tiền đối người phạm tội trong số các tội phạm cụ thể được quy định trong phần các tội phạm BLHS.

2. Vai trò, vị trí  của hình phạt tiền trong hệ thống hình phạt

Trong hệ thống hình phạt, phạt tiền là hình phạt vừa được quy định là hình phạt chính, vừa được quy định là hình phạt bổ sung. Như vậy, nếu coi hệ thống hình phạt được cấi thành từ hai hệ nhỏ; Hệ các hình phạt chính và hệ các hình phạt bổ sung thì hình phạt tiền có mặt ở cả hai hệ đó. Giữ một vị trí độc lập ở nhóm các hình phạt chính, cả ở nhóm các hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, tính chất lưỡng tính này của hình phạt tiền hoàn toàn không cho phép áp dụng nó trong cùng một trường hợp cần xử lý mà mà chỉ mở ra khả năng đa dạng hóa các biện pháp xử lý hình sự, tăng cường tính linh hoạt trong việc áp dụng, định hướng áp dụng khung hình phạt mà luật đã quy định. Chính vì lẽ đó mà khi quy định hình phạt tiền trong hệ thống hình phạt, nhà làm luật nước ta đã ghi rõ cụ thể áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung khi không áp dụng là hình phạt chính và chỉ trong trường hợp có điều luật quy định thì phạt tiền mới được áp dụng là hình phạt chính.

Hình phạt tiền là hình phạt có khả năng tác động một cách trực tiếp và có hiệu quả về mặt kinh tế đối với người phạm tội. Tuy nhiên, trong hệ thống hình phạt không phải chỉ riêng phạt tiền là biện pháp có khả năng tác động về mặt kinh tế đối với người bị kết án. Trong những hình phạt chính thì cải tạo không giam giữ  cũng có khả năng tác động về mặt kinh tế đối với người bị kết án ở một mức độ nhất định – Người bị phạt cải tạo không giam giữ “ bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5 – 20% để sung công quỹ Nhà nước” ( Khoản 3 Điều 31 BLHS ). Trong các hình phạt bổ sung thì tịch thu tài sản cũng là một biện pháp xử lý hình sự có tác động trực tiếp tới người bị kết án về mặt kinh tế ( tài sản). Nhưng khác với cải tạo không giam giữ, tác động về mặt kinh tế mà phạt tiền có khả năng đưa lại cho người bị kết án mạnh mẽ và trực tiếp hơn, nó không dừng ở mức độ như một nội dung trong các hạn chế pháp lý ( quyền và lợi ích) của hình phạt cải tạo không giam giữ. Tuy mạnh mẽ và trực tiếp về mặt hạn chế những lợi ích kinh tế đối với người bị áp dụng nhưng phạt tiền lại là hình phạt nhẹ hơn so với cải tạo không giam giữ xét về mặt nghiêm khắc. Điều này có thể nhận thấy qua sự trật tự sắp xếp các hình phạt chính trong hệ thống hình phạt của BLHS. Do vậy, hình phạt tiền được quy định là hình phạt chính sẽ tạo ra khả năng phân hóa và cụ thể hóa tối ưu trách nhiệm hình sự đối với những trường hợp cần được áp dụng biện pháp hình phạt có khả năng tác động mạnh mẽ về mặt kinh tế của người phạm tội mà chưa cần sử dụng tới các hạn chế pháp lý khác. Cần tránh quan điểm sai lầm là việc quy định phạt tiền là một hình phạt trong hệ thống hình phạt của Luật hình sự thì không thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật. Bởi vì trong trường hợp phạm tội mà tính nguy hiểm của hành vi phạm tội chưa đến mức áp dụng hình phạt tù thì hình phạt khác nặng hơn hình phạt này thì có thể áp dụngg hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù cho người phạt tội và hình phạt tiền là một hình phạt trong số đó. Có thể, nếu phạt tiền ( Cùng với mức phạt cụ thể ) được Tòa án tuyên phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn có thể đạt được mục đích của hình phạt. Cũng giống như các hình phạt trong hệ thống hình phạt, áp dụng hình phạt tiền đối với người phạt tội khôg chỉ là răn đe của Nhà nước đối với người phạm tội, tước bỏ khả năng, cơ hội tái phạm của người phạm tội, mà còn có tác dụng thức tỉnh người phạm tội nhận thức được tính chất sai trái của hành vi phạm tội, từ đó tự giác tuân thủ pháp luật. Đồng thời, việc áp dụng phạt tiền nghiêm minh đối với người phạm tội còn có vai trò giáo dục đối với những người không vững vàng trong xã hội từ bỏ ý định phạm tội của mình cũng như giáo dục mọi công dân trong xã hội nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tích cực tham gia công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Trong hệ thống hình phạt của nướcc ta, các hình phạt chính được sắp xếp theo một trình tự nhất định, căn cứ vào mức độ nghiêm trọng của từng loại hình phạt cụ thể trong các hình phạt chính được sắp xếp từ nhẹ tới nặng. Phạt tiền với tư cách là hình phạt chính, là  biệt pháp giữ vị trí nối tiếp cảnh cáo – là  biện pháp ít nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, với cải tạo không giam giữ  – là biện pháp xử lý nhẹ hơn tù có thời hạn, tạo nên tính liên tục theo hướng tăng dần mức độ nghiêm khắc của các biện pháp hình phạt. Nhờ đó mà hệ thống hình phạt không có những khoảng trống, giữ được tính chỉnh thể.

Trong hệ thống các hình phạt bổ sung, phạt tiền cùng với tịch thu tài sản làm phong phú, cân đố hệ thống hình phạt, giúp cho việc thực hiện chính sách hình sự một cách năng động, bảo đảm tốt hơn nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt, nhằm để hoàn thành chức năng xã hội của hình phạt, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện một cách đầy đủ và có hiệu quả những khả năng vốn có của các biện pháp này trong đấu tranh phòng chống tội phạm.

Với tư các là hình phạt bổ sung, phạt tiền tuy chỉ được áp dụng kèm theo các hình phạt chính ( Không phải phạt tiền ), nhưng có tác động tích cực trong công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm. Vai trò tích cực của nó được thể hiện thông qua việc chủ động loại trừ khả năng phạm tội mới của người bị kết án việc tiếp tục cải tạo, giáo dục người phạm tội sau khi chấp đã chấp hành xong hình phạt chính. Ưu điểm nổi bật của hình phạt bổ sung nói chung, phạt tiền nói riêng được thể hiện chính trong vai trò phòng ngừa tội phạm, nó tác động trực tiếp vào hoàn cảnh khách quan làm cho người phạm tội mất đi các điều kiện xã  hội có thể để tái phạm, đó là tiền bạc của người bị kết án. Tác dụng phòng ngừa của phạt tiền với tư các là hình phạt bổ sung trong một vụ án cụ thể, cùng với hình pạht chính khác không phải là hình phạt tiền, có tác dụng hỗ trợ và bổ sung cho nhau, tăng thêm hiệu quả của hình phạt đối với người phạm tội; cho nên, kết hợp đúng đắn việc áp dụng hình phạt chính với hình phạt tiền là hình phạt bổ sung nói riêng, các hình phạt bổ sung khác nói chung đối với người phạm tội là một trong những điều kiện quan trong để đạt được mục đích của hình phạt.

Trong BLHS hiện hành, số điều luật có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính chiếm 68/263 Điều và với tư cách là hình phạt bổ sung, hình phạt tiền được quy định  ở 103/263 Điều ( Phần các tội phạm). Nếu so sánh với BLHS 1985 thì con số này thứ tự là 11/215 Điều và 52/215 Điều. Qua đó cho thấy BLHS 1999 đã mở rộng một cách đáng kể phạm vi áp dụng hình phạt tiền với cả hai tư cách: Hình phạt chính là hình phạt bổ sung. Điều này thể hiện các đánh giá cũng như cách nhìn mới của Nhà nước và xã hội về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của một số tội phạm. Đặc biệt việc áp dụng hình phạt tiền cho phép Tòa án áp dụng có hiệu quả hơn đối với một số tội phạm trong lĩnh vực nhất định, giúp cho việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người phạm tội, tránh việc lạm dụng hình phạt tước tự do, đồng thời có thể sung quý Nhà nước một khoản tiền nhất định.

——————————————————————————————————————————————————————–

1. Trần Quốc Toản ( 2002) , “ Về hình phạt tiền trong luật một số nước” Tạp chí nhà nước và pháp luật (07). Tr 63.

2. Chẳng hạn, Điều 47 BLHS CHLB Nga quy định: “ Phạt tiền là tước đoạt một khoản tiền trong giới hạn do Bộ luật này quy định, với mức tương đương một số lần mức thu nhập tối thiểu do pháp luật LB Nga quy định vào thời điểm quyết định hình phạt hoặc với mức tương đương một phần tiền lương hoặc thu nhập khác của người bị kết án.

3. Chẳng hạn như: Tiến sĩ Dương Tuyết Miên, đã đưa ra khái niêm: “ Phạt tiền lầ hình phạt tước ở người phạm tội một khoản tiền nhất định để sung công quỹ Nhà nước, tác động đến tình trạng kinh tế, tài sản của người phạm tội và qua đó tác động tới ý thức người phạm tội”. Thạc sỹ Đinh Văn Quế viết rằng: “ Phạt tiền là Tòa án buộc người phạm tội phải nộp một số tiền nhất định sung công quỹ Nhà nước”…

4. Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 64 BLHS thì người bị áp dụng hình phạt tiền sẽ mang án tích trong thời hạn một năm.

5. Khoản 1 Điều 14 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002

6. Điều 2 BLHS quy định: “ Chỉ người nào phạm tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”

7. Luật hình sự một số nước trên thế giới như Pháp, Hà Lan, Anh, Trung Quốc … có quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân…

Nguyễn Hoàng Lâm – Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng
Theo: Tạp chí Tòa án số 16/2009

About these ads
 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 64 other followers

%d bloggers like this: