RSS

Thực trạng và định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo quyền của Luật sư tham gia tranh tụng trong vụ án hình sự

27 Tháng 9

Sau gần 5 năm thi hành Pháp lệnh luật sư năm 2001, quá trình đổi mới và hoàn thiện thể chế về luật sư ở Việt Nam đã có những bước chuyển biến quan trọng, nâng cao được vị thế của đội ngũ luật sư trong xã hội, mở ra một không gian thông thoáng cho sự phát triển nghề luật sư, từng bước đáp ứng được yêu cầu dân chủ hoá các mặt trong đời sống xã hội, bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp. Tính đến thời điểm hiện nay, cả nước đã có hơn 3.500 luật sư với gần 1.000 tổ chức hành nghề luật sư và chi nhánh hoạt động trên phạm vi cả nước

Hoạt động của luật sư tranh tụng trong các vụ án hình sự đã có những nét khởi sắc rõ rệt, tỷ lệ số vụ việc bào chữa của luật sư do công dân mời ngày càng tăng so với việc cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu (theo số lượng thống kê của Bộ Tư pháp, trong số 28.270 vụ án hình sự có luật sư tham gia, có 16.357 vụ việc luật sư bào chữa theo hợp đồng với khách hàng [1]. Đời sống pháp đình ở nước ta trở nên sôi động không chỉ bởi số lượng các vụ án hình sự với quy mô và tính chất nghiêm trọng được đưa ra xét xử ngày càng nhiều, mà còn thể hiện những bước phát triển quan trọng về tranh tụng dân chủ tại các phiên tòa với sự hiện diện của hai chủ thể tư pháp là kiểm sát viên và luật sư. Từ các vụ án hình sự lớn, điển hình như vụ Trương Văn Cam, vụ Nguyễn Gia Thiều (Công ty Đông Nam), vụ Lầu Lý Sáng (Công ty Việt Hùng), vụ Nguyễn Kao Tường (Công ty Giày Hiệp Hưng), vụ Phạm Thị Út… ở TP. Hồ Chí Minh, vụ Lã Thị Kim Oanh (Hà Nội), vụ án vườn điều (Bình Thuận), vụ án Phương Vicarent, vụ Nguyễn Quang Thường và Dương Quốc Hà (Công ty liên doanh dầu khí Việt-Xô và Công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí), vụ Huỳnh Liên Thuận (Công ty Sinhanco ở Bà Rịa- Vũng Tàu)…, các luật sư và những người tiến hành tố tụng tham gia phiên tòa không chỉ làm tốt chức năng trong khuôn khổ luật định, mà còn đặt ra nhiều vấn đề pháp lý gây tranh cãi sôi nổi trong quá trình tranh tụng, đóng góp hoàn thiện pháp luật, thể hiện được một bước nét đặc sắc của văn hóa pháp đình…

Từ thực tiễn tham gia các vụ án hình sự trong những năm qua, chúng tôi nhận thấy cần thiết ghi nhận một số kết quả, thực trạng và định hướng hoàn thiện pháp luật liên quan phạm vi hành nghề tranh tụng của luật sư trong vụ án hình sự như sau:

1. Thực trạng pháp luật thực định và những bước chuyển biến mới về hoạt động tranh tụng của luật sư trong vụ án hình sự:

1.1. Một số nội dung đổi mới và nâng cao vai trò của luật sư tham gia tranh tụng trong vụ án hình sự:

Môi trường pháp lý tạo khuôn khổ cho luật sư hành nghề tranh tụng trong vụ án hình sự có được một thuận lợi cơ bản sau khi ban hành Pháp lệnh luật sư năm 2001 chính là việc Quốc hội ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và liên ngành đã có nhiều văn bản pháp quy hướng dẫn triển khai thực hiện một số quy định của Bộ luật này. Bộ Tư pháp cũng đã ban hành các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành Pháp lệnh và bản Quy tắc mẫu về đạo đức nghề nghiệp luật sư. Điểm đặc biệt là các văn bản pháp luật nói trên thể hiện một số bước đột phá về việc xác định vai trò và sự tham gia của luật sư trong các vụ án hình sự trên tinh thần quán triệt Nghị quyết 08 ngày 02-01-2002 và Nghị quyết số 49 ngày 02-06-2005 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam.

Về sự tham gia của luật sư trong các giai đoạn tố tụng của vụ án hình sự, Điều 56 Bộ luật TTHS đã có một số thay đổi và bổ sung theo hướng luật sư được tham gia ngay từ khi bắt người tạm giữ và định rõ thời hạn cấp giấy chứng nhận người bào chữa là 3 ngày kể từ khi nhận được các giấy tờ liên quan đến việc bào chữa (đối với trường hợp người bị tạm giữ thì thời hạn là 24 giờ) và nếu từ chối phải nêu rõ lý do. Điều 58 Bộ luật TTHS đã ghi nhận quyền của luật sư được có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác, được xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa. Luật sư có quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can. Luật sư cũng có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật Nhà nước, bí mật công tác. Đặc biệt, việc cho phép luật sư được sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra thật sự đã mở ra khả năng rộng lớn cho các luật sư có điều kiện tiếp cận với sự thật khách quan và là điều kiện căn bản hình thành nên quan điểm pháp lý bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị can, bị cáo.

Về sự tham gia của luật sư trong giai đoạn xét xử tại Tòa án, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã thay thế toàn bộ khoản 3 Điều 183 với nội dung xét hỏi bị cáo rất đơn giản, thay bằng khoản 3 Điều 209 quy định chi tiết về hỏi bị cáo theo trình tự cụ thể: kiểm sát viên hỏi về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội bị cáo; người bào chữa hỏi về những tình tiết liên quan đến việc bào chữa, những người tham gia phiên tòa có quyền đề nghị với chủ tọa hỏi thêm những tình tiết liên quan đến họ; và thêm khoản 4 quy định nếu bị cáo không trả lời thì người bào chữa tiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật chứng, tài liệu liên quan đến vụ án. Trong phần quy định về trình tự xét hỏi những người tham gia tố tụng khác như người bị hại, nguyên (bị) đơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của những người đó; hỏi người làm chứng; xem xét vật chứng; hỏi người giám định… đều ghi nhận thêm vai trò của người bào chữa. Trong phần tranh luận tại phiên tòa, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã đặc biệt nhấn mạnh tại Điều 217 về trình tự phát biểu khi tranh luận, quy định rõ thêm việc luận tội của kiểm sát viên phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Đặc biệt, nếu phần đối đáp chỉ được quy định ngắn gọn trong Điều 192 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, thì đến Điều 218 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã thay đổi rất căn bản, theo hướng kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác. Chủ tọa phiên tòa ngoài việc không được hạn chế thời gian tranh luận mà còn phải tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến và có quyền đề nghị kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được kiểm sát viên tranh luận. Khi nghị án chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa… Đây là một trong những điều kiện đảm bảo cho việc tranh tụng dân chủ tại phiên tòa giữa kiểm sát viên và luật sư.

Nhiều vấn đề thuộc về thủ tục pháp lý cho việc tham gia của luật sư trong các giai đoạn tố tụng hình sự trước đây chưa được đề cập, nay đã được các cơ quan có thẩm quyền cụ thể hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hành nghề tranh tụng trong vụ án hình sự của luật sư. Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 2-10-2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã quy định chi tiết về việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo (kiểm tra các thủ tục liên quan việc nhờ người bào chữa trước và sau khi thụ lý vụ án hình sự). Điểm (b.2) mục 2 phần II của Nghị quyết đã thừa nhận việc nhờ người bào chữa đối với người thân thích của bị can, bị cáo với điều kiện họ phải hỏi ý kiến của bị can, bị cáo, nếu đồng ý thì Tòa án xem xét, cấp Giấy chứng nhận người bào chữa. Nghị quyết cũng đã quy định chi tiết cách thức, thủ tục để Đoàn Luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho các bị can, bị cáo là người chưa thành niên; đồng thời chính thức ban hành kèm theo Nghị quyết các mẫu Giấy chứng nhận người bào chữa (mẫu số 03a) và Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận người bào chữa (mẫu 03b).

Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 8-12-2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của Bộ luật TTHS năm 2003 đã quy định chi tiết thêm về quyền kháng cáo của người bào chữa cho bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất; việc triệu tập người bào chữa tham gia phiên tòa phúc thẩm và xử lý các tình huống về sự vắng mặt của người bào chữa… Mẫu bản án phúc thẩm ban hành kèm theo Nghị quyết này có một phần bắt buộc phải ghi nhận kết quả tranh luận tại phiên tòa giữa kiểm sát viên và luật sư (mẫu 02đ).

1.2. Về một số kết quả chuyển biến trong việc tạo điều kiện và tham gia của luật sư qua các giai đoạn tố tụng trong vụ án hình sự:

Có thể khẳng định, việc tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra cho bị can đã có bước chuyển biến căn bản từ phía cơ quan điều tra các cấp, thể hiện qua việc nhanh chóng xem xét các thủ tục cấp Giấy chứng nhận người bào chữa. Một số Cơ quan An ninh và Cảnh sát điều tra Bộ Công an, các địa phương đã đơn giản hóa trình tự và thủ tục xét cấp Giấy chứng nhận bào chữa, đảm bảo thời hạn và chỉ đạo cho điều tra viên trao đổi, thống nhất kế hoạch tham gia của luật sư từ giai đoạn điều tra, bao gồm việc tham gia các buổi hỏi cung bị can, xem xét tài liệu, giám định, chứng kiến việc bán đấu giá tài sản… Trong một số vụ án, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hồ Chí Minh còn tạo điều kiện mời luật sư tham gia chứng kiến quá trình giám định văn hóa phẩm đồi truỵ, trong quá trình hỏi cung bị can, cho phép luật sư tham gia đặt câu hỏi để làm rõ hành vi khách quan và nhận thức chủ quan của bị can. Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Hồ Chí Minh tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia từ giai đoạn điều tra bằng những hành động cụ thể: Chấp thuận ngay khi luật sư có yêu cầu tham dự buổi hỏi cung; tiến hành xác minh điều tra những tài liệu, vật chứng do luật sư và gia đình bị can cung cấp; xem xét các yêu cầu xin bảo lãnh, tại ngoại điều tra; tổ chức khám, điều trị hoặc giám định y khoa cho những bị can bị mắc bệnh nặng hoặc hiểm nghèo.

Trong giai đoạn quyết định truy tố, cần ghi nhận các Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong những năm qua đã rất quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia nghiên cứu hồ sơ sau khi kết thúc điều tra vụ án. Đặc biệt, do tính chất kiểm sát điều tra một số vụ án hình sự đặc biệt lớn do cơ quan điều tra Bộ Công an tiến hành điều tra xảy ra ở nhiều địa bàn khác nhau, nhưng thường hồ sơ vụ án được chuyển về Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội, nên các Vụ chức năng và kiểm sát viên đã chấp thuận cả hình thức cấp Giấy chứng nhận người bào chữa cho luật sư qua con đường bưu điện khi xét thấy hội đủ các thủ tục theo luật định. Trong một số trường hợp, kiểm sát viên còn tạo điều kiện cho các luật sư ở khu vực phía Nam trình các thủ tục luật sư tại Văn phòng 2 Viện kiểm sát nhân dân tối cao sau đó nhận được Giấy chứng nhận người bào chữa và được tham khảo hồ sơ tại TP. Hồ Chí Minh. Một số Viện kiểm sát nhân dân các địa phương như TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Cà Mau, Kiên Giang… đã tạo điều kiện nhanh chóng trong việc cấp Giấy chứng nhận người bào chữa và cho phép luật sư tham khảo, sao chụp hồ sơ vụ án và giải quyết những kiến nghị, đề xuất hợp lý, hợp pháp của luật sư.

Thực tiễn tham gia tranh tụng tại phiên tòa hình sự thời gian qua đã cho thấy các cấp Tòa án đã quán triệt và tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư được nghiên cứu, sao chụp hồ sơ mà không có bất cứ hạn chế nào. Trước đây, một số thủ tục tố tụng đơn giản như tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giao bản án sau khi kết thúc phiên tòa thường ít khi gửi cho luật sư, nay đã được khắc phục. Các thẩm phán được phân công thụ lý vụ án và các thư ký Tòa án nhân dân ở một số Toà án đã lưu tâm đến các kiến nghị của luật sư trước phiên tòa, chấp nhận việc yêu cầu triệu tập các nhân chứng và người liên quan, xem xét vật chứng tại phiên tòa. Trong một số phiên tòa xét xử các vụ án lớn như Trương Văn Cam, Lã Thị Kim Oanh, vụ án Lầu Lý Sáng (Công ty Việt Hùng), vụ án Nguyễn Gia Thiều (Công ty Đông Nam), vụ án Nguyễn Quang Thường và Dương Quốc Hà (VSP và PTSC), vụ án Huỳnh Liên Thuận (Sinhanco)…, các kiểm sát viên và luật sư đã thể hiện được một bước phát triển về văn hóa tranh tụng, ngôn từ được sử dụng chặt chẽ, đúng mức, thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau với mục đích nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan, bảo đảm cho việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nét đẹp trong “văn hoá tranh tụng” thể hiện ở chỗ, các kiểm sát viên không chỉ bảo vệ quan điểm buộc tội, mà còn mạnh dạn mở ra các phạm vi tranh luận rộng rãi hơn về tội danh được quy buộc nêu trong cáo trạng, phân tích, đánh giá các quan điểm bào chữa của từng luật sư một cách tổng quát, ngắn gọn nhưng chặt chẽ, đồng thời mạnh dạn ghi nhận những quan điểm có căn cứ trong đề xuất của các luật sư về bối cảnh xảy ra vụ án, về tội danh, đánh giá về hiệu quả và hậu quả thiệt hại, về các tình tiết giảm nhẹ được thẩm tra tại phiên tòa. Nhiều luật sư tham gia phiên tòa có cùng chung cảm nhận thỏa mãn về phong cách tranh tụng của các kiểm sát viên, ngôn phong tranh luận được sử dụng chừng mực, có văn hóa, thể hiện sự tôn trọng nghề nghiệp rất đáng ghi nhận và khuyến khích… Đây chính là cơ sở dẫn đến phán quyết của Tòa án các cấp đã ghi nhận từ kết quả tranh tụng giữa kiểm sát viên và luật sư, nên đã đưa vào bản án không chỉ nội dung tranh tụng, mà còn chấp nhận một số quan điểm có căn cứ của luật sư để thay đổi tội danh đối với các bị cáo (vụ án Công ty Việt Hùng), tuyên bố bị cáo không phạm tội tham ô (vụ án Công ty Giày Hiệp Hưng), hoặc giảm nhẹ đáng kể về hình phạt cho các bị cáo ở phiên tòa phúc thẩm (vụ án dầu khí ở VSP và PTSC)…

Theo đánh giá tại Hội nghị cán bộ toàn quốc tổng kết Nghị quyết 08 nà triển khai Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về công tác tư pháp được tổ chức tại Hà Nội tháng 2-2006 đã đánh giá: “Do việc tổ chức các phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp nên đã đề cao vị trí, vai trò và tinh thần trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng, nhất là việc tranh tụng dân chủ giữa Viện kiểm sát với luật sư và những người tham gia tố tụng khác, góp phần khắc phục oan sai, nâng cao chất lượng xét xử và bảo đảm giải quyết các vụ án trong thời hạn luật định. Tỷ lệ các bản án, quyết định của Tòa án bị sửa, huỷ đã giảm theo từng năm; việc kết án oan sai cũng đã giảm mạnh: năm 2002 có 23 trường hợp bị kết án oan, năm 2005 chỉ còn 4 trường hợp…”.

2. Một số bất cập và định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao vị thế của luật sư tham gia tranh tụng trong các vụ án hình sự:

2.1. Một số bất cập, vướng mắc trong thực tiễn tham gia tranh tụng trong vụ án hình sự của luật sư:

·        Về giai đoạn làm thủ tục tham gia từ giai đoạn điều tra:

Hiện nay, thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho luật sư chưa có sự thống nhất và pháp luật chưa quy định cần bao nhiêu loại giấy tờ cho thủ tục này. Trong thực tế, luật sư thường phải xuất trình đơn yêu cầu (của thân nhân bị can), giấy chứng nhận đăng ký của tổ chức hành nghề, thẻ luật sư và chứng chỉ hành nghề luật sư, nhưng ở một số địa phương, cơ quan điều tra yêu cầu chờ đợi để làm thêm thủ tục làm việc với bị can để xác nhận có đồng ý nhờ luật sư như thân nhân gia đình yêu cầu hoặc đề nghị thân nhân gia đình bị can giải trình tại sao biết hoặc đến nhờ luật sư và phải làm đơn yêu cầu mới với cơ quan điều tra. Trong một số trường hợp, điều tra viên còn hỏi thân nhân bị can về chứng từ nhận tiền thù lao luật sư… Thông thường, bị can không có thông tin đầy đủ về luật sư, nên cũng rất khó khăn cho việc xác định về mặt chủ quan, bị can có đồng ý luật sư như gia đình yêu cầu hay không và thời gian này không được khống chế nên có thể kéo dài (có trường hợp kéo dài đến 3 tháng). Mặt khác, có sự hạn chế không rõ ràng do cách mở rộng khái niệm “vì lý do an ninh quốc gia”, nên khi khởi tố bị can, luật sư vẫn bị hạn chế sự tham gia (như trường hợp cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an có văn bản từ chối luật sư tham gia trong vụ án Mai Văn Dâu).

Cùng với việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa, hiện nay thủ tục luật sư xin gặp  bị can còn nhiều vấn đề nhiêu khê không cần thiết. Cơ quan điều tra thường chỉ cấp một bản chính giấy chứng nhận người bào chữa cho luật sư. Ở một số Trại tạm giam, chỉ cần xuất trình giấy chứng nhận bào chữa trong buổi làm việc lần đầu tiên và có bút phê được duyệt, giám thị sẽ photo giấy chứng nhận này và các lần sau luật sư chỉ cần mang theo thẻ luật sư và giấy chứng nhận là được gặp bị can. Tại đây, có sổ ghi chép lịch vào làm việc cụ thể của luật sư đối với từng bị can nên rất dễ dàng theo dõi, kiểm tra khi cần thiết. Tuy nhiên, ở nơi khác, bộ phận hồ sơ lại yêu cầu giữ bản chính giấy chứng nhận bào chữa, nên mỗi lần luật sư muốn vào làm việc nếu không nộp bản chính này, phải có giấy giới thiệu của cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát kèm theo. Thủ tục cấp giấy giới thiệu này là không đúng vì giấy giới thiệu chỉ cấp cho cán bộ, nhân viên thuộc chính tổ chức cấp giấy giới thiệu đó.

·        Giải quyết yêu cầu, đề xuất của luật sư trong giai đoạn điều tra:

Mặc dù Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự có quy định về việc người bào chữa có quyền có mặt trong những hoạt động điều tra khác tuy nhiên trong thực tiễn hành nghề, còn nhiều hạn chế liên quan đến việc tham gia của luật sư trong tố tụng, như luật sư không được quyền có mặt chứng kiến việc khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, thu giữ vật chứng, định giá hoặc bán đấu giá tài sản thu giữ trong vụ án, v.v… Vì vậy, bị can đến lượt mình cũng bị hạn chế các quyền về nhân thân và tài sản do không được tham gia các hoạt động tố tụng nêu trên. Điều đáng lưu ý là mặc dù pháp luật tố tụng quy định rất cụ thể về quyền khiếu nại của những người tham gia tố tụng, nhưng rất ít khi các cơ quan tiến hành tố tụng có văn bản trả lời hoặc giải quyết khiếu nại trong thời hạn luật định.

·        Về việc tham gia của luật sư trong giai đoạn quyết định truy tố:

Đây là một giai đoạn tố tụng mà sự tham gia của luật sư không được quy định một cách rõ ràng. Thực tế những năm qua, sau khi kết thúc điều tra, luật sư thường đến liên hệ với Viện kiểm sát để xin đọc hồ sơ vụ án, làm thủ tục xin gặp mặt bị can trong trại tạm giam, đề xuất một số yêu cầu có liên quan. Tuy nhiên, yêu cầu này đôi khi còn phụ thuộc vào sự đồng ý hay không đồng ý của kiểm sát viên. Trong rất nhiều trường hợp, vì điều kiện chỗ làm việc chật hẹp, không có bàn làm việc hoặc khu vực cho luật sư nghiên cứu hồ sơ, hoặc do yêu cầu truy tố, hồ sơ vụ án phức tạp nên kiểm sát viên thường đề nghị luật sư “thông cảm” nghiên cứu hồ sơ khi đã chuyển sang Tòa án. Thậm chí, có nơi trong thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư, còn đòi hỏi phải cung cấp “hợp đồng dịch vụ pháp lý” (đây là điều không hợp lý vì trong vụ án hình sự, thực chất chỉ cần văn bản đề nghị nhờ luật sư của bị can hoặc gia đình và trong trường hợp luật sư nhận bào chữa theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng).

·        Về những hạn chế trong tranh tụng tại phiên tòa của luật sư:

Thời gian qua, việc tham gia thẩm tra và xét hỏi của Hội đồng xét xử và kiểm sát viên, luật sư làm nảy sinh nhiều tình tiết, chứng cứ mới có thể làm thay đổi quan điểm đánh giá và buộc tội, nhưng các kiểm sát viên chưa kịp thời cập nhật, nêu quan điểm của mình trong phần buộc tội, khiến cho nhiều người tham dự phiên tòa cảm thấy phần luận tội của kiểm sát viên đã thoát ly ra khỏi diễn biến thẩm vấn và tranh luận tại phiên tòa. Về quá trình xét hỏi, điều các luật sư băn khoăn trong một số phiên tòa thời gian qua, chính là kiểm sát viên chưa tích cực, chủ động tham gia phần xét hỏi (trong khi đáng lẽ chính Viện kiểm sát là cơ quan truy tố và kiểm sát viên cần tích cực tham gia để bảo vệ quan điểm buộc tội các bị cáo là đúng đắn). Điều này có nguyên nhân trong Bộ luật tố tụng hình sự vẫn dựa trên chế độ xét hỏi, với vai trò thẩm vấn chủ yếu tập trung vào chủ tọa và Hội đồng xét xử. Về phần tranh luận lại, vẫn còn hiện tượng là một số kiểm sát viên “bảo lưu” quan điểm mà không tranh luận sau các ý kiến phát biểu hoặc đề nghị của luật sư, thậm chí thay vì tranh luận về nội dung thì quay sang “bắt bẻ” câu chữ của luật sư hoặc nêu quan điểm về cá nhân luật sư…

Nhiều luật sư chưa nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, tham gia xét hỏi mang tính chiếu lệ, khi phát biểu tranh luận chưa đưa ra được những quan điểm và căn cứ pháp lý mang tính thuyết phục, lời lẽ tranh luận chủ yếu là phản bác, chưa thể hiện được nét “văn hoá pháp đình”, thậm chí phê phán cơ quan tiến hành tố tụng thiếu căn cứ, luật sư khi tranh luận lại cũng không có ý kiến gì mới, tự lặp lại…

2.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật tố tụng nhằm nâng cao vị thế của luật sư tham gia tranh tụng trong các vụ án hình sự:

Hiện nay, nhu cầu cần có sự thống nhất về mặt nhận thức và vận dụng pháp luật tố tụng từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng rất cấp bách, nhưng Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp chưa xây dựng được một Thông tư liên ngành quy định cụ thể về sự tham gia của các luật sư qua các giai đoạn tố tụng trong vụ án hình sự. Theo suy nghĩ của chúng tôi, có những vấn đề sau đây cần được thể chế hoá cụ thể:

Một là, cơ quan điều tra nên sớm xây dựng quy trình xét cấp giấy chứng nhận bào chữa, với thủ tục đơn giản hóa về mặt giấy tờ như: Chỉ cần luật sư xuất trình yêu cầu của thân nhân bị can, thẻ luật sư, giấy chứng chỉ hành nghề luật sư (bản sao y có thị thực công chứng) và giấy giới thiệu của tổ chức hành nghề luật sư là được chấp thuận tư cách người bào chữa. Trong trường hợp bắt giữ người phạm tội quả tang, khẩn cấp hoặc ngoài giờ hành chính, khi có yêu cầu, luật sư có thể chỉ cần xuất trình yêu cầu của gia đình và thẻ luật sư, sau đó hoàn tất các thủ tục sau. Liên quan đến thủ tục này, nên quy định rõ luật sư chỉ cần liên hệ làm thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa tại bộ phận trực ban của cơ quan điều tra, không buộc luật sư phải tự mình đi gặp thủ trưởng cơ quan điều tra hoặc điều tra viên; hoặc giải quyết trong thời hạn quy định kể từ ngày nhận được yêu cầu theo dấu bưu điện phát chuyển nhanh có hồi báo trong trường hợp không liên hệ trực tiếp được với cơ quan điều tra. Trong trường hợp thân nhân hoặc bản thân người bị tạm giữ, bị can không biết một luật sư cụ thể nào đó và không biết về quyền bào chữa và nhờ người khác bào chữa, cơ quan điều tra cần lập biên bản giải thích quyền cơ bản này của bị can và có một danh sách các luật sư thuộc địa phương sở tại để cho bị can lựa chọn một cách minh bạch. Chỉ khi có mặt luật sư, hoặc bị can, người bị tạm giữ từ chối luật sư, điều tra viên mới được phép tiến hành lấy lời khai của họ. Khi muốn gặp mặt bị can, luật sư chỉ xuất trình bản chính Giấy chứng nhận người bào chữa và nộp lại bản sao y bản chính có công chứng giấy chứng nhận này cho giám thị thì được giải quyết thủ tục vào làm việc nhiều lần là cách làm hợp lý nhất, tránh phiền hà thủ tục.

Hai là, về thủ tục và nội dung tham gia của luật sư trong các buổi hỏi cung của bị can, luật sư có thể được điều tra viên thông báo về tiến trình điều tra, thời gian và địa điểm hỏi cung bị can và luật sư cần đăng ký bằng văn bản về kế hoạch làm việc vào thời điểm thích hợp đối với cả hai bên. Để sự tham gia của luật sư trong các buổi thẩm vấn của điều tra viên với bị can có kết quả, tuân thủ đúng pháp luật, theo chúng tôi, cần quy định cụ thể những nội dung và phạm vi hoạt động sau đây: (1) Luật sư cần có văn bản xác định yêu cầu, nội dung và phạm vi xin tham dự các buổi hỏi cung bị can, thông báo về thời gian, lịch trình có thể thu xếp tham dự các buổi hỏi cung này; (2) Điều tra viên thông báo cho luật sư thời gian, địa điểm và lịch trình làm việc với bị can (dự kiến), cách thức trao đổi, liên hệ để thông báo với với luật sư, những nguyên tắc và điều cấm khi làm việc tại buổi hỏi cung theo quy định của cơ quan điều tra, về trách nhiệm bảo mật thông tin điều tra; (3) Khi tham gia buổi hỏi cung, ngoài việc hỏi bị can với sự đồng ý của điều tra viên, luật sư có thể có một số quyền sau đây: Giải thích về mặt pháp luật và lưu ý bị can về quyền trả lời hoặc không trả lời về một vấn đề mà điều tra viên hỏi; phản đối câu hỏi của điều tra viên mang tính chất mớm cung, bức cung; xem xét và có ý kiến về nội dung biên bản hỏi cung ghi có đúng với nội dung trả lời của bị can; xác định tình trạng sức khỏe và tâm thần của bị can khi hỏi cung, v.v…

Về biên bản làm việc với bị can với sự có mặt của luật sư, cần phân biệt hai trường hợp: (a) Biên bản hỏi cung bị can với sự có mặt của luật sư, trong đó chủ thể làm việc chính là điều tra viên và bị can, luật sư chỉ là người tham dự, chứng kiến hoặc tham gia hỏi khi được sự đồng ý; (b) Biên bản làm việc của luật sư, với sự có mặt của điều tra viên, trong đó luật sư đặt câu hỏi và bị can trả lời về những vấn đề, hành vi mà cơ quan điều tra đã khởi tố và tiến hành điều tra. Pháp luật nên quy định cho phép, bị can được quyền yêu cầu điều tra viên thông báo cho luật sư có mặt tham dự buổi hỏi cung bị can khi cần thiết.

Cần quy định những cuộc tiếp xúc và làm việc sau khi kết thúc điều tra có thể được tiến hành trong tầm nhìn, nhưng không trong tầm nghe của những người tiến hành tố tụng. Pháp luật tố tụng cũng cần bổ sung quy định về những thông tin, trao đổi giữa luật sư với bị can, bị cáo không được coi là chứng cứ chống lại họ, trừ trường hợp những thông tin này liên quan đến một tội phạm đang xảy ra hoặc được dự tính sẽ xảy ra.

Ba là, pháp luật tố tụng nên quy định mở rộng thêm về quyền điều tra thu thập chứng cứ của luật sư trong giai đoạn điều tra và xét xử. Trong giai đoạn điều tra, luật sư nên được quyền thông báo việc trưng cầu và kết quả giám định (thương tật, thiệt hại tài sản, vật chứng, tài chính-kế toán,v.v…), được mời tham gia chứng kiến việc khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra (trong các vụ án hình sự giết người, cố ý gây thương tích), được thông báo thành phần và kết quả giám định pháp y (về nguyên nhân chết người, tình trạng tâm thần, tỷ lệ thương tật, tiếng nói, chữ ký và chữ viết,v.v…); được thông báo và tham gia chứng kiến việc bán đấu giá tài sản, kê biên, niêm phong tài sản. Thời hạn xem xét việc bán đấu giá hoặc xử lý vật chứng là tài sản cần được quy định chặt chẽ, không thể kéo dài, làm thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của bị can về mặt tài sản. Chữ ký của luật sư trên các các tài liệu, biên bản điều tra có giá trị pháp lý chứng minh tính hợp pháp của chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra.

Luật sư nên được phép tiến hành lấy lời khai và đảm bảo các thủ tục chứng thực việc lấy lời khai là hợp pháp đối với các đối tượng liên quan vụ án, có quyền liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để trả lời các yêu cầu của luật sư nhằm làm sáng tỏ bản chất vụ án. Luật sư cũng có quyền cung cấp các chứng cứ (vật chứng, lời khai) cho cơ quan điều tra và được lập biên bản ghi nhận về việc cung cấp các chứng cứ này. Pháp luật nên quy định các cơ quan, tổ chức, người có trách nhiệm và cá nhân có nghĩa vụ chấp thuận và cung cấp các bằng chứng, tài liệu cần thiết theo yêu cầu hợp pháp và chính đáng của luật sư. Luật sư không bị xem xét trách nhiệm liên quan việc cung cấp các chứng cứ, tài liệu cho cơ quan điều tra, nếu việc cung cấp đó được tiến hành công khai, hợp pháp, trừ trường hợp luật sư cố tình tạo ra hoặc biết rõ chứng cứ, tài liệu là giả mạo. Cần nhận thức quá trình thu thập chứng cứ, tiến hành điều tra của luật sư không chỉ giúp cho khách hàng của mình chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mà còn là phương thức tiếp cận với sự thật, bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật, thậm chí còn tiết kiệm được công sức, tiền bạc cho Nhà nước khi cuộc điều tra được tiến hành một cách công khai, nhanh chóng và công bằng. Mặt khác, để bổ sung cho quyền này, pháp luật tố tụng cần minh định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng khi sắp xếp đưa vào hồ sơ toàn bộ hệ thống các chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, tránh tình trạng bỏ sót những chứng cứ có lợi cho việc chứng minh sự vô tội của bị can, bị cáo.

Bốn là, việc nghiên cứu hồ sơ vụ án của luật sư trong giai đoạn quyết định truy tố có ý nghĩa hết sức quan trọng, có thể hạn chế được các vi phạm về thủ tục tố tụng hoặc oan sai trong việc kết tội bị can, bị cáo. Thực tế chứng minh, nếu kiểm sát viên tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia giai đoạn này, việc tiến hành lập Cáo trạng và xác lập các căn cứ truy tố bảo đảm căn cứ vững chắc hơn, tránh tình trạng khiếu kiện hơn. Ngoài việc đơn giản hóa thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho luật sư (như trong giai đoạn điều tra), Viện kiểm sát cần cho phép luật sư đọc, ghi chép, photocopy hồ sơ vụ án và giải quyết các yêu cầu đề xuất của luật sư về chứng cứ, giám định, tiến hành phúc cung, giám định lại và giám định bổ sung, tổ chức đối chất, v.v… Trong giai đoạn sau khi kết thúc điều tra, chuẩn bị lập cáo trạng truy tố, luật sư có quyền vào trại tạm giam gặp mặt và làm việc với bị can mà không có bất cứ sự hạn chế nào, không có mặt điều tra viên, kiểm sát viên và giám thị trại tạm giam. Ngoài ra, luật sư có quyền được nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát và các thông tin liên quan việc giải quyết vụ án.

Năm là, cần quy định cụ thể về việc bảo đảm sự bình đẳng thật sự trong tranh tụng tại phiên tòa giữa kiểm sát viên và luật sư (đồng thời nghiên cứu quy định mẫu trang phục thống nhất của luật sư, dành cho luật sư vị trí ngồi tương xứng với công tố tại phiên tòa). Khi có luật sư tham dự phiên tòa, cần phải coi đánh giá của Tòa án về quan điểm pháp lý của luật sư trong bản án như một tiêu chí của một bản án có hiệu lực pháp luật, đồng thời là một tiêu chí của bản án điển hình khi thiết lập cơ sở dữ liệu án lệ bằng tin học. Nên nhanh chóng xây dựng các quy phạm pháp luật thể chế hóa định hướng rất quan trọng mà Nghị quyết 08 ngày 2-1-2002 và Nghị quyết 49 ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra là phán quyết của Tòa án phải xuất phát từ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, hạn chế đi đến từng bước loại bỏ hoàn toàn tình trạng “án bỏ túi”, “thỉnh thị án”, hoặc thông qua “cơ chế liên ngành” dẫn đến triệt tiêu con đường tìm kiếm công lý của công dân, tổ chức.

—————————————————————————————————

[1] Bộ Tư pháp- Tài liệu Hội nghị tổng kết thi hành Pháp lệnh luật sư năm 2001- Hà Nội, 6/2005- tr. 7.

Luật sư, TS. Phan Trung Hoài

Theo: Tạp chí  Nghề Luật số 3/2006.

About these ads
 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 56 other followers

%d bloggers like this: