RSS

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử các vụ án hình sự hiện nay

04 Tháng 10

1. Hiệu quả xét xử:

Những kết quả nghiên cứu trên các lĩnh vực khoa học có liên quan đến việc xét xử các vụ án hình sự cho thấy hiệu quả xét xử phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau. Việc nâng cao chất lượng và hiệu quả xét xử các vụ án hình sự cũng phải được nghiên cứu trên nhiều phương diện và các lĩnh vực khác nhau. Bên cạnh các giải pháp về chính trị, hành chính, tư tưởng và giáo dục… thì việc tổ chức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án hình sự là một vấn đề rất cấp bách, cần phải có các biện pháp pháp lý. Bởi lẽ, những biện pháp này nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật, (không chỉ pháp luật tố tụng hình sự, mà cả những quy định pháp luật khác có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy tư pháp hình sự); mối quan hệ ngang, dọc và phối hợp, chế ước lẫn nhau giữa các cơ quan Nhà nước trong toàn bộ hệ thống chính trị, các quy định của pháp luật, có tính chất bảo đảm để các Tòa án nói chung và các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân nói riêng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Chỉ có thể tiến hành các giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án hình sự trên cơ sở quy định của pháp luật, với một hệ thống pháp luật thống nhất đồng bộ. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến một số giải pháp từ góc độ pháp luật tố tụng hình sự.

2. Giải pháp về tố tụng hình sự có vai trò đặc biệt quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án hình sự:

Về thực chất, các biện pháp pháp lý nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả xét xử, chính là sự điều chỉnh về mặt pháp lý, để thực hiện đồng bộ các quy phạm pháp luật khác, nhằm bảo đảm để tất cả các thành tố tham gia vào hệ thống xét xử (các chủ thể tham gia vào quá trình xét xử và phục vụ xét xử cũng như toàn bộ tổ chức bộ máy, nguyên tắc vận hành, quan hệ dọc, ngang… trong hệ thống Tòa án) đều hướng vào mục đích: Nâng cao hiệu quả xét xử. Nói cách khác, là tất cả các định hướng quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả xét xử, đều phải được bảo đảm điều chỉnh bởi một cơ chế pháp lý hữu hiệu; được bảo đảm thực hiện bởi tổng thể các quy phạm thống nhất mục đích. Đó là các quy phạm trực tiếp điều chỉnh để bảo đảm:

a. Tổ chức hợp lý hệ thống xét xử;

b. Tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm đúng đội ngũ cán bộ tư pháp – xét xử nói chung, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân nói riêng.

c. Không ngừng bổ sung, hoàn thiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động tố tụng, tư pháp; khắc phục những quy định chồng chéo, những quy định trái với những nguyên tắc chung;

d. Bảo đảm đầy đủ các điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết phục vụ cho các hoạt động xét xử;

e. Không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức pháp luật, nghiệp vụ xét xử và tinh thần tự tôn nghề nghiệp, phụng sự pháp luật của đội ngũ Thẩm phán.

Có thể nói rằng: Toàn bộ những biện pháp pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng, đều là biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả xét xử. Tuy nhiên, những biện pháp nêu trên chính là những biện pháp trực tiếp nhất, tác động trực tiếp đến khâu xét xử. Đồng thời, điều chỉnh các quan hệ xã hội đáp ứng được những yêu cầu đặt ra, thì không chỉ có các quy phạm pháp luật về tố tụng hình sự, mà còn các quy phạm pháp luật khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, tổ chức, quản lý… Nhưng trong các quy phạm pháp luật thì pháp luật tố tụng hình sự luôn đóng vai trò quyết định, bởi nó cũng bị chi phối bởi các quy phạm pháp luật khác, được xác lập nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động tố tụng, trong đó có hiệu quả hoạt động xét xử.

Vì thế, các giải pháp mang tính chất lập pháp về tố tụng hình sự có vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án hình sự, cần được định hướng vào các mục tiêu cụ thể.

3. Cần giải quyết tốt vấn đề tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán và hội thẩm nhân dân đồng thời, hoàn thiện các quy định về quyền năng tố tụng của các chủ thể này.

Theo quy định tại Điều 170 (BLTTHS) Bộ luật Tố tụng Hình sự (được thông qua ngày 21/11/2003) thì Toà án nhân dân (TAND) cấp huyện có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và rất nghiêm trọng (trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh, các tội quy định tại các Điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật Hình sự). Theo số liệu của Toà án nhân dân tối cao (TANDTC), tính đến tháng 8/2009, tổng số Thẩm phán TAND các cấp trong cả nước là 4526 người, thiếu 910 thẩm phán so với chỉ tiêu biên chế được giao, trong đó: Số Thẩm phán TAND cấp tỉnh chỉ có 1018 người, thiếu 100 Thẩm phán cấp tỉnh so với chỉ tiêu biên chế được giao; số Thẩm phán TAND cấp huyện chỉ có 3401 người, thiếu 797 Thẩm phán cấp huyện so với chỉ tiêu biên chế được giao; Số thẩm phán ở TANDTC (tính đến tháng 8/2009) chỉ có 107 người, thiếu 13 Thẩm phán so với biên chế được giao. Do thiếu nhiều Thẩm phán ở Tòa án cấp huyện và cấp tỉnh, nhất là ở các Tòa án thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hải Phòng… nên trung bình mỗi Thẩm phán ở TAND cấp tỉnh và cấp huyện ở các thành phố lớn có tháng phải chủ tọa từ 10 đến 12 vụ/ tháng tức là đã quá tải so với chỉ tiêu xét xử được giao (5 vụ/1 Thẩm phán/ 1 tháng) chưa kể các công việc khác mà họ cần phải tham gia cùng chính quyền địa phương.

Nâng cao chất lượng Thẩm phán cho Tòa án các cấp là vấn đề hết sức cấp bách hiện nay. Để làm tốt vấn đề này thì cần phải thực hiện các giải pháp:

Nhanh chóng hoàn thiện các quy định về tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân; các quy định về quyền hạn của các cấp xét xử;

Cần thiết phải quy định chặt chẽ chế độ, tiêu chuẩn đào tạo, tuyển dụng.

Quy định và tổ chức thực hiện tốt công tác bồi dưỡng thường xuyên về trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân dân.

Quy định chặt chẽ tiêu chuẩn và thực hiện nghiêm túc khoa học công tác bổ nhiệm Thẩm phán và lãnh đạo các cơ quan Tòa án các cấp.

Phân công nhiệm vụ hợp lý, phù hợp với trình độ và năng lực chuyên môn, tăng cường công tác kiểm tra, tạo điều kiện cần thiết để các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Cần mạnh dạn áp dụng các quy định về tổ chức thi sát hạch thường xuyên đối với đội ngũ Thẩm phán. Đối với các Thẩm phán năng lực còn yếu không đạt yêu cầu qua sát hạch, cần có kế hoạch đào tạo lại, phân công nhiệm vụ khác phù hợp hơn hoặc xử lý kiên quyết trong các kỳ xem xét tái bổ nhiệm.

Các giải pháp về tổ chức nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án hình sự là những biện pháp nhằm kiện toàn, đổi mới quy mô, đổi mới cơ chế quản lý, chế độ quan hệ công tác; tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ, nhằm xây dựng trên phạm vi cả nước một hệ thống các Tòa án có cơ cấu tổ chức và biên chế hoạt động có hiệu quả, phù hợp điều kiện phát triển kinh tế, xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đây là biện pháp quan trọng và cấp bách trong tình hình hiện nay, khi mà cơ cấu tổ chức của các Tòa án còn nhiều bất cập.

Tổ chức lại các Tòa án các cấp, nhất là ở cấp huyện và cấp tỉnh, kiện toàn biên chế Thẩm phán và phân công nhiệm vụ theo hướng chuyên môn hóa, cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể trong giai đoạn hiện nay, là một giải pháp cần sớm được tiến hành để nâng cao hiệu quả xét xử.

Tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLTTHS, liên quan đến quyền năng tố tụng và mối quan hệ giữa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân với các chức danh tư pháp khác, nhằm một mặt bảo đảm tối đa điều kiện thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử, chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân;

4. Về thủ tục trình tự giải quyết các vụ án hình sự:

Cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung hoàn thiện nhằm quy định rõ ràng, cụ thể về trình tự thực hiện các thủ tục tố tụng của phiên tòa, bảo đảm tính tranh tụng tại phiên tòa và nâng cao hơn tính khách quan, toàn diện của hoạt động xét xử.

Về cơ bản thủ tục phiên tòa sơ thẩm được quy định trong BLTTHS 2003 đã được bổ sung hoàn thiện hơn so với BLTTHS 1988. Ví dụ: Về mặt kỹ thuật lập pháp, những khiếm khuyết trong BLTTHS 1988 như tên Điều 175. ( Thủ tục bắt đầu phiên tòa)trùng với tên chương, làm rối tư duy khi tiếp cận các quy định này, đồng thời có thể dẫn đến hiểu nhầm về thủ tục bắt đầu phiên tòa, hoặc quy định thủ tục bắt đầu phiên tòa gồm những công việc như: Giải quyết việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch, Thư ký phiên tòa theo đề nghị (nếu có) của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng; giải thích quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch và người giám định; giải thích nghĩa vụ và cách ly người làm chứng; giải quyết những yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt… Như vậy, những sửa đổi, bổ sung mới về thủ tục tố tụng, đã khắc phục được những trường hợp Hội đồng xét xử bỏ sót những thủ tục nào đó.

Việc thực hiện một trình tự tố tụng hợp lý các thủ tục, có tác dụng tăng cường tính khách quan, toàn diện và tạo ra tâm lý xét xử tốt hơn. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi các quy định đã không còn phù hợp trong thực tiễn, ít có ý nghĩa trong việc góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác xét xử. Ví dụ: Việc yêu cầu người làm chứng bắt buộc có mặt đúng lúc tại phiên tòa sẽ không làm cho sự có mặt của ai đó trong số những người tại tòa tác động đến tâm lý khai báo của người làm chứng; hoặc việc thông báo về những người có mặt tại tòa đúng thời điểm, mới có thể phát hiện những người vắng mặt và làm cho việc giải thích quyền lợi, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng có ý nghĩa quyết định đến nội dung vụ án.v…v…

Về trình tự xét xử phúc thẩm hình sự, các quy định của BLTTHS hiện nay, vẫn chưa thực sự tạo điều kiện thực hiện tranh tụng tại phiên tòa. Thủ tục xét xử phúc thẩm vẫn còn những điểm cần được nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện. Tại Điều 247 quy định “phiên tòa phúc thẩm cũng tiến hành như phiên tòa sơ thẩm” và chỉ bổ sung thêm “trước khi xét hỏi, một thành viên của Hội đồng xét xử phải trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung của kháng cáo hoặc kháng nghị. Khi tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án”.

Tuy nhiên, việc quy định như trên còn rất chung chung, cần phải xác định rõ các quy định cụ thể nào về thủ tục phiên tòa bắt buộc phải áp dụng khi xét xử phúc thẩm, bởi có những nội dung công việc chỉ có ở phiên tòa sơ thẩm, mà không có ở phiên tòa phúc thẩm. Về mặt khoa học pháp lý, các thủ tục tố tụng xét xử cũng chỉ quy định tại Phần thứ ba “xét xử sơ thẩm” trong BLTTHS, mà không quy định ở Phần thứ tư “xét xử phúc thẩm”. Cho nên, việc tuân thủ trình tự thủ tục xét xử phúc thẩm, về cơ bản cũng chỉ là vận dụng trên cơ sở các quy trình đã có về thủ tục xét xử sơ thẩm, đó là điều bất hợp lý khi tổ chức phiên tòa phúc thẩm, dễ dẫn đến các thiếu sót về thủ tục hoặc tạo ra những tuỳ tiện cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phúc thẩm. Vì thế, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về thủ tục xét xử phúc thẩm.

5. Tiếp tục hoàn thiện tố tụng hình sự trong xét xử phúc thẩm. Theo quy định của pháp luật hiện hành, ở nước ta thực hiện việc xét xử hai cấp. Thực tế là, có hai Toà án thực hiện việc xét xử phúc thẩm. Đó là các Tòa án cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các Tòa Phúc thẩm thuộc TANDTC (kể cả Tòa án Quân sự Trung ương).

Phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại các vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo quy định của pháp luật. Mục đích của phúc thẩm là nhằm kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án quyết định sơ thẩm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức xã hội và Nhà nước bị xâm hại. Tổ chức của các Tòa Phúc thẩm thuộc TANDTC hiện đang có nhiều vấn đề cần được nghiên cứu đổi mới. Hiện nay ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam đều đang có một Tòa Phúc thẩm thuộc TANDTC có trụ sở tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh. Mỗi Tòa Phúc thẩm đảm nhận một địa bàn xét xử phúc thẩm trên phạm vi lớn, thậm chí đến gần 30 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Vì nhiều lý do khác nhau, mỗi đợt xét xử phúc thẩm tại các địa phương thường kéo dài trong nhiều ngày, nhiều trường hợp phải hoãn phiên tòa, mất thời gian, công sức trong việc đi lại và tổ chức các phiên tòa lưu động, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả hoạt động xét xử phúc thẩm. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự tồn đọng án phúc thẩm ở Tòa Phúc thẩm TANDTC trong thời gian qua. Vì thế, chúng tôi đồng ý với ý kiến cho rằng, các Tòa Phúc thẩm thuộc TANDTC và Viện Phúc thẩm khu vực thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cần được tổ chức lại. Để giải quyết kịp thời các vụ án hình sự có kháng cáo, kháng nghị, mỗi Tòa Phúc thẩm cần có thẩm quyền phúc thẩm trong phạm vi 5 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Để khắc phục những bất cập, vướng mắc và tồn tại trong thực tiễn phúc thẩm và nâng cao hiệu quả phúc thẩm các vụ án hình sự, cần phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp khác nhau, tuy nhiên, từ góc độ pháp luật tố tụng hình sự, cần sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLTTHS hiện hành theo các hướng xác định đúng tính chất của phúc thẩm và đối tượng của xét xử phúc thẩm; mở rộng quyền hạn của Tòa Phúc thẩm, theo hướng xác định lại tính chất và đối tượng của phúc thẩm trong tố tụng hình sự, bổ sung, sửa đổi các quy định về quyền hạn của các cấp xét xử;ban hành đầy đủ văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định BLTTHS sửa đổi về xét xử phúc thẩm.

Đồng thời, cần bổ sung quy định về căn cứ để sửa hoặc huỷ bản án sơ thẩm. Có thể đồng ý với quan điểm cho rằng: Căn cứ để sửa hoặc huỷ bản án sơ thẩm là những vi phạm pháp luật nghiêm trọng chứng minh về tình trạng không hợp pháp hoặc thiếu căn cứ của bản án sơ thẩm. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm phải sửa hoặc hủy bản án sơ thẩm khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Việc điều tra hoặc xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ.

b) Kết luận của bản án không phù hợp với các tình tiết thực tế về vụ án;

c) Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;

d) Áp dụng không đúng pháp luật hình sự, dân sự;

e) Hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không tương xứng với tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và nhân thân người bị kết án.

Đặc biệt, đối với trình tự giám đốc thẩm và tái thẩm hiện nay, các quy định về chức năng, quyền hạn của cấp giám đốc thẩm và tái thẩm chưa đủ hiệu lực để khắc phục sớm, kịp thời và dứt điểm các sai phạm nghiêm trọng trong quá trình tố tụng sơ thẩm và phúc thẩm. Tồn tại đó làm cho vụ án bị kéo dài không cần thiết mà không quy được trách nhiệm cho các cấp xét xử.


6. Bảo đảm tuân thủ triệt để các nguyên tắc của tố tụng hình sự : Là một hướng quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả xét xử. Đây cũng là vấn đề khó khăn  trong thực tiễn, vì nếu như các hành vi cụ thể hầu như đã được quy định chi tiết thì những nguyên tắc của tố tụng hình sự (những tư tưởng chỉ đạo) là vấn đề được thẩm thấu trong nhiều quy phạm, nhiều chế định khác nhau và đòi hỏi người áp dụng pháp luật phải nhất quán. Việc không tuân thủ các nguyên tắc, rất khó phát hiện, khó chỉ ra cụ thể và cũng khó đi đến những phán xét chính xác. Chính vì vậy, khi Thẩm phán xét xử không tuân thủ triệt để những nguyên tắc của tố tụng hình sự, thì mặc dù họ chọn đúng các quy phạm pháp luật cần áp dụng, nhưng rất có thể, tinh thần pháp chế để bảo đảm công lý, công bằng xã hội vẫn chưa đạt được trong các quyết định đưa ra. Ví dụ: Khi áp dụng một điều luật cụ thể trong một giới hạn khung hình phạt cho phép, tùy vào tình hình thực tế, cũng như quán triệt những nguyên tắc của pháp luật về tố tụng hình sự mà, trong khi xét xử, những người tiến hành xét xử có thể đưa ra những phương án khác nhau, chọn mức án cụ thể khác nhau trong khung đó. Đặc biệt có nhiều trường hợp, do chưa năm chắc những nguyên tắc tố tụng hình sự dẫn đến việc vận dụng, khai thác các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ có thể theo những xu hướng khác nhau. Đơn cử một hành vi quản lý kinh tế nằm ở ranh giới của sự điều chỉnh pháp luật, có thể được Thẩm phán này coi là năng động dẫn đến tư duy đánh giá tích cực, là cơ sở của niềm tin nội tâm về sự tồn tại nhân tố tích cực trong nhân thân của bị cáo và cần áp dụng một mức hình phạt nhẹ. Ngược lại, cũng hành vi đó, có thể được Thẩm phán khác phân tích theo chiều hướng là sự vi phạm nguyên tắc trong điều kiện cần phải tăng cường đấu tranh phòng chống tiêu cực, tham nhũng, tạo nên niềm tin về sự cần thiết phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, dẫn đến một phán quyết hoàn toàn trái ngược với người Thẩm phán. Chính vì thế, để bảo đảm pháp chế, bảo đảm công lý, người xét xử phải vừa nắm vững các quy phạm pháp luật, lại phải thấm nhuần các nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo… để tránh tâm trạng cực đoan của bản thân tại thời điểm đó.

Nhằm tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và tăng cường việc giám sát thực thi pháp luật. Đặc biệt với sự thành lập mới của Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội khóa XII, việc triển khai ngày càng được sâu, rộng trong những hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đối với việc thực thi pháp luật, trong lĩnh vực tư pháp nói chung và tư pháp hình sự nói riêng. Bên cạnh những mặt tích cực, còn nhiều vấn đề nảy sinh trong thực tiễn hoạt động và mối quan hệ giữa các thiết chế, các cơ quan trong lĩnh vực này, đang đòi hỏi phải được tổng kết đánh giá và điều chỉnh pháp luật kịp thời, khắc phục những khó khăn vướng mắc ảnh hưởng đến quá trình giải quyết đúng đắn, khách quan các vụ án hình sự. Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với việc thực thi pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân là rất cần thiết. Tuy nhiên, dưới góc độ lý luận khoa học pháp lý về tư pháp hình sự, cần phải xây dựng các nguyên tắc, phương pháp, nội dung giám sát, sao cho hoạt động đó không những không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện bình thường các chức năng của các cơ quan tư pháp, mà còn là sự hỗ trợ đắc lực cho việc thực thi nhiệm vụ của các cơ quan.

ThS. Hoàng Mạnh Hùng – TAND quận Cầu Giấy
Theo:
Tạp chí Tòa án nhân dân, số 03 năm 2010

About these ads
 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 57 other followers

%d bloggers like this: