RSS

Một số vấn đề về thi hành án hình sự của Tòa án

05 Tháng 10

I. Đặt vấn đề

Thi hành án hình sự là một giai đoạn trong tố tụng hình sự và có thể coi đó là giai đoạn cuối cùng của một vụ án hình sự. Công tác điều tra, truy tố và xét xử là rất quan trọng. Quyết định hình phạt của Toà án chính là sự đánh giá, sự lên án của Nhà nước đối với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Nếu chỉ dừng ở mức đánh giá, lên án mà không thực hiện bằng các biện pháp mang tính cưỡng chế đặc trưng của quyền lực nhà nước thì tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa và tính chịu hình phạt hạn chế, thậm chí là không có tác dụng. Chính vì vậy, pháp luật hình sự đã có những quy định cụ thể về thi hành án hình sự, các ngành tư pháp trung ương nói chung và Toà án nhân dân tối cao nói riêng cũng đã ban hành một số Thông tư liên tịch, Nghị quyết để hướng dẫn một số quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự về thi hành án hình sự nhằm đảm bảo việc thi hành nghiêm túc các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay.

II. Thẩm quyền của Toà án trong thi hành án hình sự

1. Thẩm quyền của Tòa án

Cũng có một số quan điểm khác nhau về thẩm quyền của Toà án trong thi hành án hình sự. Có quan điểm cho rằng thi hành án hình sự không phải là một công tác chủ yếu của Toà án mà đó chỉ là những việc liên quan đến Toà án; có quan điểm cho rằng thi hành án hình sự là việc chung của nhiều cơ quan tư pháp chứ không phải của riêng Toà án; có quan điểm cho rằng thi hành án hình sự là một trong những công tác chủ yếu của Toà án. Thực tế thì các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay cũng không phân định rõ rệt cơ quan tư pháp nào có chức năng “chủ trì” trong thi hành án, do đó mỗi quan điểm trên đều đưa ra những lập luận riêng để bảo vệ quan điểm của mình. Xét về góc độ thực tiễn thì hiện nay một bản án, quyết định về hình sự có thể do nhiều cơ quan thi hành, nhất là trong trường hợp bản án, quyết định đó có nhiều bị cáo, có nhiều loại hình phạt được áp dụng hoặc có nhiều quyết định về dân sự, về hình phạt bổ sung.

Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ đề cập đến vấn đề thẩm quyền của Tòa án trong công tác thi hành án mà không đi sâu về việc phân tích xem các quan điểm nào về việc “chủ trì” thi hành án hình sự là của cơ quan tư pháp nào.

Theo quy định của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây xin viết tắt là BLHS và BLTTHS) thì Toà án có thẩm quyền thực hiện các việc về thi hành án hình sự, đó là:

- Ra quyết định thi hành án hình sự hoặc quyết định uỷ thác thi hành án hình sự.

- Ra quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành án phạt tù;

- Quyết định giảm thời gian chấp hành hình phạt tù hoặc miễn chấp hành hình phạt tù;

- Quyết định việc giảm thời gian thử thách của án treo;

- Quyết định xoá án tích hoặc cấp giấy chứng nhận xoá án tích;

- Theo dõi việc đưa người bị phạt tù giam vào trại giam để thi hành án hoặc theo dõi việc thi hành án của những người bị kết án mà Toà án đã giao cho chính quyền địa phương nơi người bị kết án cư trú hoặc cơ quan tổ chức nơi người bị kết án làm việc.

- Xem xét việc miễn, giảm thi hành án đói với khoản tiền phạt, án phí;

- Tổ chức việc thi hành hình phạt tử hình;

- Tham gia giúp Hội đồng đặc xá trung ương thực hiện việc đặc xá.

Như vậy, từ khi bản án, quyết định hoặc những phần của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành án cho đến khi bản án, quyết định đó được thi hành xong đều là công việc của Toà án, tức là căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự, Toà án phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc và chính xác nhằm đảm bảo các bản án, quyết định phải đưa ra thi hành được thực hiện nghiêm chỉnh.

2. Thời hiệu thi hành bản án

- Thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do Bộ luật hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó, người bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên.

- Thời hiệu thi hành bản án hình sự được quy định như sau:

a. Năm năm đối với các trường hợp xử phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử phạt tù từ ba năm trở xuống;

b. Mười năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm;

c. Mười lăm năm đối với các trường hợp xử phạt tù trên mười lăm năm đến ba mươi năm.

- Thời hiệu thi hành bản án quy định tại Điều 55 BLHS là thời hiệu thi hành bản án hình sự về quyết định hình phạt. Đối với các quyết định về bồi thường thiệt hại, án phí và các quyết định khác về tài sản thì việc xác định thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự.

- Thời hiệu thi hành bản án hình sự tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp người bị kết án lại phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 55 BLHS thì thời hiệu được tính lại kể từ ngày họ phạm tội mới.

Ví dụ: Nguyễn Văn A bị Toà án phúc thẩm phạt 2 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 50/HSPT ngày 10/5/2006 và chưa bị bắt thi hành hình phạt. Ngày 20/3/2007, Nguyễn Văn A phạm tội trộm cắp tài sản. Như vậy, thời hiệu thi hành bản án số 50/HSPT ngày 10/5/2006 là năm năm tính từ ngày 21/3/2007. Thời hiệu thi hành bản án đối với tội trộm cắp tài sản tính từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật (nếu như bị cáo không tiếp tục phạm tội mới).

- Trường hợp trong bản án có tổng hợp hình phạt của nhiều tội thì căn cứ mức hình phạt để tính thời hiệu thi hành bản án hình sự là hình phạt chung của hình phạt chính nặng nhất.

Ví dụ: Bị cáo A bị Toà án phúc thẩm tuyên phạt về ba tội: giết người, cướp giật tài sản và cho vay nặng lãi và xử phạt 15 năm tù về tội giết người, 3 năm tù về tội cướp giật và 20 triệu đồng về tội cho vay nặng lãi. Tổng hợp hình phạt chung là 18 năm tù và 20 triệu đồng. Thời hiệu thi hành bản án này mười năm (điểm b khoản 2 Điều 55 BLHS).

- Trường hợp trong bản án có nhiều người bị kết án thì căn cứ vào mức hình phạt đối với từng người cụ thể để tính thời hiệu thi hành bản án hình sự.

- Trong trường hợp bản án có tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, thì căn cứ vào mức hình phạt trong mỗi bản án cụ thể để tính thời hiệu thi hành của từng bản án hình sự cụ thể đó mà không phải căn cứ vào mức tổng hợp hình phạt chung.

- Trường hợp người bị kết án cố tình trốn tránh và cơ quan Công an đã cơ quyết định truy nã theo đúng quy định tại Điều 161 BLTTHS, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu thi hành bản án hình sự tính lại kể từ ngày người đó ra trình diện hoặc bị bắt giữ.

“Cố tình trốn tránh” là cố tình giấu địa chỉ, ẩn náu, thay đổi họ tên, hình dạng… làm cho cơ quan có thẩm quyền thi hành án không biết họ ở đâu hoặc không phát hiện được.

Trường hợp người bị kết án cố tình trốn tránh, nhưng cơ quan công an không ra quyết định truy nã hoặc có ra quyết định truy nã, nhưng không đúng quy định tại Điều 161 BLTTHS (Trừ những việc không thể thực hiện được, như phải dán ảnh kèm theo nhưng không có ảnh), thì thời gian trốn tránh vẫn được tính để xác định thời hiệu thi hành bản án hình sự.

- Trường hợp người bị kết án phạt tù được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và khi hết thời hạn được hoãn hoặc tạm đình chỉ mà Chánh án Toà án đã ra các quyết định này không ra quyết định thi hành án theo khoản 2 Điều 261 hoặc điểm b khoản 1 Điều 262 BLTTHS hoặc có ra quyết định thi hành hình phạt tù, nhưng người bị kết án không trốn tránh, thì cũng được hưởng thời hiệu thi hành bản án. Thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính kể từ ngày hết thời hạn hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và căn cứ vào mức hình phạt tù còn lại mà người bị kết án chưa chấp hành.

III. Một số vấn đề về công tác thi hành án hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án

1. Ra quyết định thi hành án hình sự

- Về Điều 255 Bộ luật tố tụng hình sự: Những bản án, quyết định được thi hành gồm:

+ Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị tức là kể từ ngày tiếp theo sau thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; (Thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã được hướng dẫn tại tiểu mục 4.1, mục 4, phần I Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 8/12/2005).

+ Những bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm;

+ Những quyết định của Toà án giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Toà án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, không kết tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là tù giam hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án, quyết định của Toà án được thi hành ngay mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị.

Mặc dù Điều 255 Bộ luật tố tụng hình sự chỉ quy định những bản án và quyết định nêu trên được thi hành, nhưng theo quy định tại Điều 240 Bộ luật tố tụng hình sự thì những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực  pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Khoản 1 Điều 237 BLTTHS quy định “những phần của bản án bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật này… Điều này phù hợp với quy định tại Điều 240 BLTTHS. Lẽ ra, Điều 255 BLTTHS phải quy định thêm trường hợp những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi hành mới phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 237 và Điều 240 BLTTHS.

Trong thực tiễn thi hành án hình sự, các Toà án thường chưa ra quyết định thi hành án đối với những phần bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị vì theo quy định tại khoản 2 Điều 249 BLTTHS thì “Nếu có căn cứ, Toà án cấp phúc thẩm có thể giảm hình phạt hoặc áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình sự tù và cho hưởng án treo cho tất cả những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị”.

Như vậy, nếu Toà án căn cứ vào quy định tại Điều 240 BLTTHS để ra quyết định thi hành án hình sự đối với các bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị và quyết định đó được thi hành trước khi có bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm (đã bắt thi hành án, đã thi hành phần dân sự trong vụ án hình sự, đã thi hành các hình phạt bổ sung…) mà sau đó bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm lại sửa án sơ thẩm theo hướng có lợi cho những bị cáo này thì rõ ràng quyết định thi hành án phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án sơ thẩm phải được huỷ bỏ. Vấn đề là ai có quyền ra quyết định huỷ bỏ hoặc thay thế quyết định thi hành án trước đây. Hiện nay TANDTC chưa có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, nhưng theo chúng tôi thì Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án có quyền ra quyết định khác để thi hành bản án, quyết định phúc thẩm (nếu bản án, quyết định đó phải đưa ra thi hành).

Về nguyên tắc thì mọi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đều phải được thi hành nghiêm chỉnh và phải được các cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan trong phạm vi trách nhiệm của mình phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc chấp hành đó. (Điều 22 BLTTHS). Tuy nhiên, không phải mọi bản án quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật thì Toà án đều phải ra quyết định thi hành án hình sự bởi vì có những bản án, quyết định không phải ra quyết định thi hành. Ví dụ những bản án, quyết định mà Toà án tuyên bố bị cáo không phạm tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, áp dụng hình phạt tù khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam, quyết định đình chỉ vụ án của Toà án cấp sơ thẩm hoặc quyết định đình chỉ, huỷ bản án sơ thẩm trong trường hợp bị cáo đã chết, cảnh cáo tại phiên toà, buộc xin lỗi công khai….

Như vậy, Toà án chỉ ra quyết định thi hành án hình sự đối với những trường hợp bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mà bản án, quyết định đó đã áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình, hình phạt trục xuất, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng cho hưởng án treo.

Đối với các bản án, quyết định của Toà án có phần dân sự trong vụ án hình sự thì kể cả trường hợp Toà án phải ra quyết định hoặc không phải ra quyết định thi hành án hình sự đều do cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành.

Đối với các bản án, quyết định có áp dụng các hình phạt bổ sung như quản chế, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, tước một số quyền công dân… đã nằm trong các bản án, quyết định, là một phần của bản án, quyết định đó nên khi Toà án ra quyết định thi hành bản án, quyết định số … ngày … tháng … năm … của Toà án … thì đồng thời cũng là quyết định thi hành các hình phạt bổ sung (nếu có). Việc thi hành các hình phạt bổ sung nói trên thuộc trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân địa phương hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc.

Riêng đối với hình phạt trục xuất (dù là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung) do cơ quan Công an thực hiện, căn cứ vào quyết định thi hành án hình sự của Toà án.

Riêng đối với hình phạt tiền (dù là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung) do cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành.

- Về Điều 256 BLTTHS “Thủ tục đưa ra thi hành bản án và quyết định của Toà án”.

+ Thời hạn ra quyết định thi hành án là bảy ngày bao gồm cả ngày làm việc và ngày nghỉ. Trường hợp ngày cuối cùng là ngày nghỉ cuối tuần hoặc nghỉ lễ thì ngày làm việc tiếp theo của ngày đó là thời hạn cuối cùng của thời hạn bảy ngày.

Ví dụ: Ngày cuối cùng của thời hạn là thứ bảy thì ngày làm việc tiếp theo của ngày thứ bảy là thứ hai và thứ hai là thời hạn cuối của thời hạn bảy ngày.

+ Thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật là thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị là ngày tiếp theo của ngày xác định. Ngày xác định là ngày Toà án tuyên án hoặc ra quyết định trong trường hợp Viện kiểm sát, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên toà hoặc là ngày bản án, quyết định được giao hoặc được niêm yết nếu xử vắng mặt.

Nếu tại phiên toà, sau khi Toà án tuyên án, bị cáo, đương sự kháng cáo ngay thì Toà án cấp sơ thẩm phải chấp nhận đơn kháng cáo đó.

Thời điểm két thúc kháng cáo, kháng nghị là thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Nếu ngày cuối cùng của thời hạn này là ngày nghỉ (thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ thì thời hạn kết thúc kháng cáo, kháng nghị là ngày làm việc đầu tiên tiếp theo của ngày nghỉ đó và thời điểm kết thúc kháng cáo, kháng nghị lúc hai mươi tư giờ của ngày kết thúc.

+ Ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm:

Theo quy định tại các Điều 254 BLTTHS “Việc giao bản án và quyết định phúc thẩm” thì trong thời hạn mười ngày kể từ ngày tuyên án hoặc ngày ra quyết định thì Toà án cấp phúc thẩm phải gửi bản án hoặc quyết định phúc thẩm cho người kháng nghị, Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan công an nơi đã xử sơ thẩm, người đã kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong trường hợp bản án phúc thẩm có tuyên hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự… Trong trường hợp Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao xử phúc thẩm thì thời hạn này có thể dài hơn nhưng không quá 25 ngày”.

Điều 288 BLTTHS “Hiệu lực của quyết định giám đốc thẩm và việc giao quyết định giám đốc thẩm” và Điều 299 BLTTHS “Hiệu lực của quyết định tái thẩm và việc giao quyết định tái thẩm”. Hai điều luật này đều quy định trong thời hạn mười ngày kể từ ngày ra quyết định Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm phải gửi quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm cho người bị kết án, người kháng nghị, Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan Công an nơi đã xử sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền; thông báo bằng văn bản cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc.

Trong thực tiễn, các bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm hoặc quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm thường gửi (giao) không đáp ứng được quy định của pháp luật. Việc giao nhận bản án, quyết định thường rất chậm do sau khi xét xử, việc đánh máy bản án, quyết định chậm, việc rà soát, xin chữ ký trong bản án, quyết định cũng chậm và việc chuyển giao bản án, quyết định (thường là thông qua bưu điện và gửi bình thường)… những việc phải làm sau khi xét xử mỗi khâu chậm một ít cũng khiến cho hầu hết Toà án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm không đảm bảo thời hạn giao bản án, quyết định trong thời hạn mười ngày đối với Toà án cấp phúc thẩm giám đốc thẩm cấp tỉnh, giám đốc thẩm, tái thẩm ở TANDTC và 25 ngày đối với Toà án cấp phúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao.

Những sự chậm trễ nêu trên đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc ra quyết định thi hành án hình sự của Toà án cấp sơ thẩm. Nếu đúng quy định của pháp luật thì từ khi bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm tuyên án hoặc ra quyết định thì chậm nhất là trong 17 ngày (10 ngày giao bản án, quyết định và 7 ngày ra quyết định thi hành án) và đối với các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao là 32 ngày (25 ngày giao bản án, quyết định và 7 ngày ra quyết định thi hành án); 17 ngày (10 ngày giao quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm và 7 ngày ra quyết định thi hành án) thì các bản án, quyết định phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm phải được đưa ra thi hành. Trong thực tiễn, thời hạn trên không thực hiện được vì các lý do chậm trễ nên có thể Toà án cấp sơ thẩm ra quyết định thi hành án không đúng với thời hạn nêu trên. Trong trường hợp kéo dài thời hạn ra quyết định thi hành án, dù bất cứ lý do nào thì đó cũng là lỗi của Toà án và người bị kết án sẽ phải chịu thiệt thòi về “khoảng trống” mà Toà án đã tạo ra. Khi chưa có quyết định thi hành án thì người bị kết án chưa được chuyển sang trại cải tạo, trại giam.

+ Cần lưu ý là Toà án chỉ được ra quyết định thi hành án khi có các căn cứ quy định tại Điều 255, 240 và 237 BLTTHS. Trong thực tiễn đã xảy ra một số trường hợp Toà án cấp sơ thẩm ra quyết định thi hành án khi bản án, quyết định đang bị kháng cáo, kháng nghị. Do vậy, khi ra quyết định thi hành án, cần kiểm tra kỹ bản án, quyết định đó có bị kháng cáo, kháng nghị không hoặc có thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 255 BLTTHS không. Trong trường hợp kháng cáo, kháng nghị quá thời hạn thì phải chờ quyết định của Toà án cấp phúc thẩm về việc có chấp nhận hay không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị quá hạn.

+ Về việc uỷ thác cho Toà án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án. Toà án khác cùng cấp là cùng cấp huyện (Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; Toà án quân sự khu vực ) hoặc Toà án nhân dân cấp tỉnh (Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Toà án quân sự quân khu và tương đương). Hiện nay tất cả các Toà án nhân dân cấp huyện, Toà án quân sự cấp khu vực đều đã thực hiện thẩm quyền xét xử theo khoản 1 Điều 170 BLTTHS.

Việc uỷ thác cho Toà án cùng cấp ra quyết định thi hành án hình sự chỉ được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp:

Trường hợp thứ nhất: Sau khi Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án ra quyết định thi hành án và đã gửi cho cơ quan Công an cùng cấp để thi hành, nhưng cơ quan Công an cùng cấp thông báo bằng văn bản cho Toà án cùng cấp biết là người bị kết án đã chuyển đi nơi khác và có địa chỉ cụ thể;

Trường hợp thứ hai: Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án có căn cứ về việc người bị kết án đang cư trú trên địa bàn hành chính khác.

Như vậy ở trường hợp thứ nhất thì Toà án sẽ phải ra hai quyết định, một là quyết định thi hành án và hai là quyết định uỷ thác thi hành án. Vấn đề là khi Toà án ra quyết định uỷ thác thi hành án và quyết định này chỉ ban hành sau khi Toà án đã ra quyết định thi hành án, đã gửi cho cơ quan Công an cùng cấp và nhận được thông báo bằng văn bản của cơ quan Công an cùng cấp cho Toà án biết là người bị kết án đã chuyển đi nơi khác và có địa chỉ cụ thể. Trường hợp này sẽ phát sinh vấn đề là quyết định thi hành án của Toà án cấp sơ thẩm đã ban hành nhưng không được thực hiện bởi Toà án sẽ phải ra quyết định uỷ thác thi hành án và có thể hiểu là quyết định uỷ thác thi hành án đã phủ định quyết định thi hành án trước đó, tức là quyết định thi hành án này không còn hiệu lực thi hành. Cũng có quan điểm cho rằng trường hợp này Toà án đã ra quyết định uỷ thác thi hành án gửi quyết định uỷ thác và gửi cả quyết định thi hành án. Theo chúng tôi, Toà án ra quyết định uỷ thác chỉ cần gửi quyết định uỷ thác thi hành án cùng với hai bản sao bản án, quyết định phạt tù đã có hiệu lực pháp luật là đủ và đúng với hướng dẫn tại mục 1 Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 30/6/1993 của Toà án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao “Hướng dẫn thực hiện một số quy định của Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993″.

Trường hợp thứ hai: Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án có căn cứ về việc người bị kết án đang cư trú trên địa bàn hành chính khác.

Vấn đề đặt ra là: Căn cứ về việc người bị kết án đang cư trú trên địa bàn hành chính khác xuất hiện vào thời điểm nào, trước hay sau khi Toà án ra quyết định thi hành án hình sự? Về vấn đề này, trong điểm 2 mục I Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 cũng không hướng dẫn cụ thể phải giải quyết thế nào. Theo chúng tôi cũng có thể giải quyết như sau:

- Nếu Toà án chưa ra quyết định thi hành án mà có căn cứ người bị kết án đang cư trú trên địa bàn hành chính khác thì ra quyết định uỷ thác thi hành án, gửi cho Toà án được uỷ thác các tài liệu kèm theo, trong đó có tài liệu mà căn cứ vào tài liệu này, Toà án biết rõ người bị kết án đang cư trú trên địa bàn của Toà án được uỷ thác thi hành án. Tài liệu này giúp cho Toà án được uỷ thác thi hành án ra quyết định thi hành án và tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan Công an thi hành quyết định của Toà án.

- Nếu sau khi Toà án đã ra quyết định thi hành án mới biết là có căn cứ người bị kết án đang cư trú trên địa bàn hành chính khác, có thể thông tin (căn cứ) này không phải do cơ quan Công an cung cấp hoặc thông báo bằng văn bản mà do từ các nguồn thông tin khác thì Toà án sơ thẩm thực hiện việc uỷ thác thi hành án như hướng dẫn ở trường hợp thứ nhất (như việc nhận được thông báo bằng văn bản của cơ quan Công an về việc người bị kết án đã chuyển đi nơi khác và có địa chỉ cụ thể).

+ Về việc Toà án được uỷ thác

Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận được quyết định uỷ thác thi hành án, Chánh án Toà án được uỷ thác phải ra quyết định thi hành án.

- Nếu cơ quan Công an thông báo là người bị kết án đã chuyển đi cư trú tại địa bàn khác thì trả hồ sơ uỷ thác thi hành án cho Toà án đã uỷ thác và giải quyết:

+ Nếu Toà án được uỷ thác thi hành án biết địa chỉ của người bị kết án thì thông báo cho Toà án đã uỷ thác để Toà án này tiếp tục thực hiện việc uỷ thác cho Toà án nơi người bị kết án đang cư trú;

+ Nếu Toà án được uỷ thác không biết địa chỉ mới của người bị kết án thì cũng thông báo cho Toà án đã uỷ thác để Toà án này ra quyết định thi hành án và yêu cầu cơ quan Công an ra quyết định truy nã.

+ Nếu Toà án được uỷ thác thi hành án thấy việc uỷ thác là không có căn cứ, không đúng thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do để Toà án đã uỷ thác biết. Toà án đã uỷ thác nếu thấy việc từ chối uỷ thác là có căn cứ thì Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định hủy quyết định uỷ thác không có căn cứ. Việc ra quyết định thi hành án hay tiếp tục ra quyết định uỷ thác cho Toà án khác tuỳ thuộc vào việc có căn cứ để ra một trong hai quyết định này không.

Để đảm bảo theo dõi, quản lý tốt việc uỷ thác, nhận uỷ thác thi hành án, tránh tình trạng Toà án đã uỷ thác thi hành án cho rằng sau khi đã gửi các tài liệu về uỷ thác thi hành án là đã hoàn thành nhiệm vụ, không còn thẩm quyền, không còn trách nhiệm và Toà án được uỷ thác có nhận được quyết định, tài liệu kèm theo việc uỷ thác thi hành án không, có ra quyết định thi hành án không, đồng thời tránh tình trạng Toà án được uỷ thác tuy nhận được là hồ sơ uỷ thác thi hành án nhưng không thực hiện việc ra quyết định thi hành án. Như vậy, có thể xảy ra (và trong thực tiễn đã xảy ra) trường hợp quyết định thi hành án được ban hành nhưng không gửi hoặc đã nhận hồ sơ thi hành án nhưng không thực hiện. Cả hai trường hợp này đều dẫn tới người bị kết án vẫn không có quyết định thi hành án và nếu không bị phát hiện thì họ đương nhiên được hưởng thời hiệu thi hành án. Điều này có nghĩa là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không còn được thi hành.

Chúng tôi cho rằng, Toà án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn, quy định cụ thể về vấn đề này. Theo chúng tôi, nên có quy định cụ thể về việc giao nhận hồ sơ uỷ thác thi hành án. Chẳng hạn Toà án đã uỷ thác phải gửi cùng hồ sơ uỷ thác phiếu gửi, Toà án được uỷ thác phải ký, đóng dấu vào phiếu gửi và gửi trả lại Toà án đã uỷ thác như một xác nhận đã nhận được hồ sơ uỷ thác thi hành án, phiếu gửi này được lưu tại Toà án đã uỷ thác để xác định đã gửi hồ sơ uỷ thác và Toà án đã nhận uỷ thác thi hành án. Cũng có thể quy định Toà án được uỷ thác phải gửi cho Toà án đã uỷ thác quyết định thi hành án hoặc thông báo bằng văn bản cho Toà án đã uỷ thác và các tài liệu này được lưu tại Toà án đã uỷ thác để quản lý, theo dõi chặt chẽ việc uỷ thác thi hành án hình sự.

2. Ra quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù

2.1. Về Điều 261 của BLTTHS: “Hoãn chấp hành hình phạt tù”

Hoãn chấp hành hình phạt tù là việc Toà án đã ra quyết định thi hành án đối với người bị xử phạt tù đang được tại ngoại, nhưng xét thấy có những căn cứ quy định tại Điều 61 BLHS hoặc xét thấy có căn cứ khác để chưa buộc họ phải chấp hành hình phạt ngay.

a. Thẩm quyền và thủ tục hoãn chấp hành hình phạt tù

+ Thẩm quyền ban hành quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù thuộc Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phạt tù.

Ví dụ: Chánh án TAND quận A đã ra quyết định thi hành án phạt tù có quyền ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù.

b. Thủ tục để hoãn chấp hành hình phạt tù

Viện kiểm sát và cơ quan Công an cùng cấp có văn bản đề nghị hoặc người bị kết án có đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù. Trường hợp không có đề nghị hoặc có đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù, Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phạt tù có thể tự mình xét và ra quyết định cho người bị kết án được hoãn chấp hành hình phạt tù nếu người thân thích của người bị kết án (cha, mẹ, vợ, chồng, anh chị em…) hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người bị kết án thường trú có đề nghị bằng văn bản.

+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù phải có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị hoãn; Hồ sơ xin hoãn chấp hành hình phạt tù bao gồm các tài liệu:

- Bản sao bản án hoặc trích lục bản án hình sự

- Văn bản đề nghị của những cơ quan, tổ chức, cá nhân, Viện kiểm sát, Công an cùng cấp… (những người được đề nghị hoặc xin hoãn).

Thực tiễn cũng có thể một người bị kết án nhưng có nhiều nơi đề nghị  hoãn chấp hành hình phạt tù. Ví dụ: người bị kết án xin hoãn, Viện kiểm sát cùng cấp đề nghị, cơ quan nơi người bị kết án làm việc hoặc chính quyền nơi người bị kêt án cư trú có văn bản đề nghị… Trường hợp này chưa có hướng dẫn là Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án xem xét đơn xin hoãn của người bị kết án hay xem xét các đề nghị của Viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức…

Trường hợp này, theo chúng tôi, Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát để xem xét và nếu như có đủ căn cứ để hoãn chấp hành hình phạt tù thì Quyết định hoãn của Chánh án đương nhiên không bị Viện kiểm sát kháng nghị.

- Kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về tình trạng bệnh tật của người bị kết án. Đối với trường hợp người bị kết án bị HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS thì chỉ cần kết quả xét nghiệm HIV và phải xác định rõ là đang có các nhiễm trùng cơ hội và tiên lượng xấu. Trường hợp này được coi là người bị kết án bị bệnh nặng và được hoãn chấp hành hình phạt tù.

- Kết luận của bệnh viện cấp huyện trở lên về việc người bị kết án là phụ nữ đang có thai hoặc bản sao giấy khai sinh, giấy chứng sinh và xác nhận của chính quyền địa phương nơi họ thường trú về việc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

- Xác nhận của chính quyền địa phương nơi người  bị kết án thường trú về việc họ là lao động duy nhất trong gia đình, nếu họ đi chấp hành hình phạt tù thì gia đình gặp khó khăn đặc biệt.

- Văn bản của cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án làm việc hoặc chính quyền nơi người đó thường trú xác nhận cần có sự có mặt của họ vì nhu cầu công vụ.

Chú ý: Trong các hồ sơ xin hoãn chấp hành hình phạt tù phải có các tài liệu nêu trên, nhưng không phải là tất cả các tài liệu mà chỉ cần tài liệu để chứng minh lý do xin hoãn chấp hành hình phạt tù. Các tài liệu trên tập hợp thành hồ sơ xin hoãn chấp hành hình phạt tù và được gửi Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phạt tù.

c. Các căn cứ và thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù

- Có đầy đủ hồ sơ đề nghị hoặc xin hoãn chấp hành hình phạt tù.

- Có một trong các điều kiện hoãn chấp hành hình phạt tù quy điịnh tại khoản 1 Điều 61 BLHS và thoả mãn các điều kiện theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC tại mục 7 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 cụ thể là:

- Bị bệnh nặng được hoãn cho đến khi sức khoẻ được khôi phục.

Người bị kết án bị bệnh nặng tức là bị bệnh đến mức không thể đi chấp hành hình phạt tù được và nếu họ phải chấp hành hình phạt tù thì có thể nguy hiểm đến tính mạng. Các bệnh được coi là nặng như: ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ trướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3 trở lên, suy thận độ 4 trở lên, HIV chuyển giai đoạn AIDS (bệnh viện cấp tỉnh xác nhận).

- Là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì được hoãn đến khi con đủ 36 tháng tuổi. Không phân biệt người con đó là con đẻ hay con nuôi và nếu họ bị xử phạt tù lần đầu.

- Là người không bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và họ là người lao động có thu nhập duy nhất trong gia đình. Thời hạn hoãn là một năm.

- Là người bị kết án về tội ít nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt với tội ấy là 3 năm tù) và do nhu cầu công vụ thì được hoãn đến một năm.

Chú ý: Trường hợp phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ hơn dưới 36 tháng tuổi đang được hoãn chấp hành hình phạt tù mà lại có thai hoặc phải tiếp tục nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì Toà án vẫn cho hoãn tiếp đến khi con đủ 36 tháng tuổi. Điều này có nghĩa là có thể cho hoãn nhiều lần.

- Người lao động duy nhất trong gia đình hoặc do nhu cầu công vụ có thể được hoãn một lần hoặc nhiều lần nhưng tổng thời gian hoãn không quá một năm. Do đó, nếu đã hoãn một lần hoặc nhiều lần mà thời gian hoãn đã được một năm thì người bị kết án không được xét hoãn nữa nếu họ xin hoãn hoặc đề nghị hoãn của cơ quan, chính quyền vẫn vì lý do công vụ hoặc vì lý do là người lao động duy nhất trong gia đình.

- Ngoài các trường hợp được hoãn chấp hành hình phạt tù quy định tại khoản 1 Điều 61 BLHS và hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC tại tiểu mục 7.1 mục 7 Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 thì Toà án cũng có thể cho người bị kết án phạt tù được hoãn chấp hành hình phạt tù nhưng phải xem xét thận trọng, chặt chẽ. (xem ví dụ tại tiểu mục 7.2 mục 7 Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 01/2007 ngày 2/10/2007).

d. Thời hạn ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù

Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị hoặc xin hoãn chấp hành hình phạt tù, Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phải nghiên cứu hồ sơ, nếu thấy có tài lieụe nào chưa đủ hoặc cần làm rõ hơn thì yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù bổ sung, làm rõ thêm (kể cả cơ quan Công an hoặc Viện kiểm sát đề nghị). Trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu bổ sung, làm rõ, Chánh án Toà án phải quyết định cho hoãn hoặc không cho hoãn chấp hành hình phạt tù.

Nếu không chấp nhận thì Chánh án phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị hoãn biết, trong đó phải nêu rõ lý do về việc không chấp nhận đề nghị hoãn.

Nếu chấp nhận thì Chánh án ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù và quyết định này được gửi cho người được hoãn chấp hành hình phạt tù; Viện kiểm sát, cơ quan Công an cùng cấp (hoặc cơ quan thi hành án của Quân đội cùng cấp); chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người được hoãn chấp hành hình phạt tù đang cư trú hoặc làm việc để quản lý theo quy định tại Điêu 263 của Bộ luật tố tụng hình sự và hướng dẫn tại mục 3 phần III Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007.

Nếu Viện kiểm sát có kháng nghị đối với văn bản thông báo không chấp nhận đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù ví lý do không xác đáng hoặc kháng nghị quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù vì không có căn cứ thì Chánh án phải xem xét để nếu có căn cứ thì huỷ bỏ thông báo hoặc quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù và thay bằng quyết định mới.

đ. Về việc tiếp tục ra quyết định thi hành án khi sắp hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù (khoản 2 Điều 261 BLTTHS)

“Chậm nhất là bảy ngày trước khi hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù, Chánh án Toà án đã cho hoãn chấp hành hình phạt tù phải ra quyết định thi hành án và phải gửi ngay quyết định thi hành án cùng bản án, quyết định phạt tù đã có hiệu lực pháp luật cho cơ quan Công an cùng cấp và người bị kết án trước khi hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù.

Nếu quá thời hạn bảy ngày kể từ ngày hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù, người bị kết án không có mặt tại cơ quan Công an để đi chấp hành hình phạt tù mà không có lý do chính đáng, thì cơ quan Công an phải áp giải người bị kết án đi chấp hành hình phạt tù”.

Như vậy, các Toà án cấp sơ thẩm phải có sổ theo dõi về việc hoãn chấp hành hình phạt tù. Các tiêu chí theo dõi phải được thể hiện như: họ và tên người bị kết án; số bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, ngày tháng năm của bản án, quyết định đó; tội danh và mức hình phạt tù; Lý do được hoãn chấp hành hình phạt tù; Quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù số, ngày tháng năm; thời gian được hoãn; ngày hết hạn hoãn; hoãn lần thứ mấy…

Từ những tiêu chí theo dõi, quản lý nêu trên, Toà án có căn cứ để ra quyết định thi hành án (tiếp tục thi hành án), có căn cứ để khi thấy cần thiết Chánh án tự mình cho hoãn (nếu như thời hạn được hoãn vẫn còn, ví dụ như hoãn lần 1 là 6 tháng, vẫn có thể cho hoãn tiếp lần thứ hai 6 tháng hoặc 2 lần nữa mỗi lần 3 tháng để tổng các lần hoãn vì người bị kết án là lao động duy nhất hoặc vì lý do công vụ không quá một năm).

Trường hợp không có căn cứ cho hoãn nữa (con đã đủ 36 tháng tuổi, có thai nhưng đã sảy thai, con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đã bị chết hoặc không được Toà án giao nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi ly hôn…) thì thủ tục để buộc người bị kết án chấp hành hình phạt tù đúng như quy định tại đoạn một, khoản 2 Điều 261 BLTTHS.

Nếu quá 7 ngày kể từ ngày hết hạn hoãn chấp hành hình phạt tù, người bị kết án không có mặt tại cơ quan công an, không có lý do chính đáng thì cơ quan Công an phải áp giải người đó đi chấp hành hình phạt tù.

Lý do chính đáng là những lý do gì, được trình bày với cơ quan Công an hay với cơ quan nào? Vấn đề này chưa được TANDTC hướng dẫn, do đó khi có lý do mà cơ quan Công an cho là chính đáng thì sẽ không thực hiện việc áp giải người bị kết án đi chấp hành hình phạt tù và nếu kéo dài có thể dẫn tới hết thời hiệu thi hành án hình sự.

e. Một số vướng mắc trong hoãn chấp hành hình phạt tù

- TANDTC mới chỉ hướng dẫn các trường hợp bị bệnh nặng được hoãn chấp hành hình phạt tù, nhưng chưa có hướng dẫn thế nào là sức khoẻ đã hồi phục (được hồi phục). Cơ quan, tổ chức nào có thẩm quyền xác nhận (xác định) người bị kết án đã hồi phục sức khoẻ, có đủ sức khoẻ để chấp hành hình phạt tù? Đây là căn cứ quan trọng để Toà án ra quyết định thi hành án phạt tù khi lý do hoãn này đã hết.

Theo chúng tôi nên quy định hoặc có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này vì nếu không thì việc hoãn này kéo dài không có giới hạn. Thẩm quyền xác định sức khoẻ của người được hoãn chấp hành hình phạt tù cũng nên quy định là bệnh viện từ cấp tỉnh trở lên; người bị kết án bị bệnh nặng cũng cần có quy định việc khám, xác định sức khoẻ theo định kỳ 1 năm, 2 năm, 3 năm…/ một lần.

- Trường hợp người bị bệnh nặng, được hoãn chấp hành hình phạt tù, nhưng trong thời hạn được hoãn thì họ bị chết thì Toà án giải quyết thế nào?

Theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành thì Toà án không có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ thi hành án phạt tù, vì vậy trong hệ thống biểu mẫu của ngành TAND cũng không có tiêu chí nào theo dõi về việc người bị kết án (kể cả kết án phạt tù hoặc các hình phạt khác được quy định trong BLHS) bị chết trước, trong khi có quyết định thi hành án hoặc trong khi có quyết định hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù. Các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn về thi hành án hình sự cũng không có mẫu “Đình chỉ thi hành án phạt tù hoặc đình chỉ thi hành án hình sự (đối với những hình phạt không phải là hình phạt tù).

Chúng tôi cho rằng hướng dẫn tại điểm 8.4 mục 8 Thông tư liên tịch số 02/22006/TTLT ngày 18/5/2006 của TANDTC, VKSNDTC, BCA, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế: “Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ việc chấp hành hình phạt tù vì người bị kết án đã chấp hành hình phạt tù vì người bị kết án đã chết” cũng không đúng Luật hình sự. Do chưa có hướng dẫn cụ thể nên hiện nay, các trường hợp người bị kết án bị chết đều được coi là “đã xong” để xoá sổ thụ lý, theo dõi, quản lý về thi hành án hình sự mà tài liệu về việc “đã xong” này chỉ có thể là giấy báo tử.

- Những trường hợp có lý do, có căn cứ để hoãn nhiều lần, kéo dài trong nhiều năm thì có thể được xét miễn chấp hành toàn bộ hoặc miễn chấp hành phần còn lại của hình phạt tù (đối với trường hợp trước khi được tại ngoại họ đã bị tạm giam, tạm giữ và thời hạn tạm giam, tạm giữ được trừ vào thời hạn phạt tù) hay không? Việc kéo quá dài thời hạn hoãn cũng gây nhiều khó khăn trong theo dõi, quản lý, giám sát của Toà án, cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương nơi người được hoãn chấp hành hình phạt tù làm việc hoặc thường trú. Theo chúng tôi, mặc dù chưa có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, nhưng nếu người bị kết án phạt tù được hoãn chấp hành nhiều năm và trong nhiều năm đó họ không vi phạm pháp luật, không còn nguy hiểm cho xã hội, được chứng minh là họ đã hoàn lương, có nhiều thành tích trong hoạt động xã hội, chăm chỉ lao động, có ích cho xã hội… thì cũng được xét miễn theo quy định tại Điều 57 BLHS và vận dụng theo hướng dẫn tại tiểu mục b mục 2 Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán TANDTC số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007. Riêng đối với trường hợp miễn chấp hành phần hình phạt còn lại thì hầu như những người được hoãn chấp hành hình phạt tù không ai đáp ứng được điều kiện “đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt tù” vì thực tế thời hạn đã chấp hành của họ chỉ là thời hạn đã bị tạm giam, tạm giữ mà thôi.

Như vậy sẽ có sự không công bằng khi một người chưa phải chấp hành hình phạt tù một ngày nào thì có thể được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt tù, còn người đã chấp hành một phần hình phạt nhưng chưa được một nửa thì không được xét miễn phần hình phạt còn lại. Vấn đề này theo chúng tôi cũng cần có hướng dẫn cụ thể hoặc có sửa đổi cho phù hợp.

- Cho đến nay cũng không có quy định và hướng dẫn cụ thể về việc thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù có được tính vào thời gian chấp hành hình phạt tù hay không. Thực tiễn áp dụng thì thời gian được hoãn chấp hành hình phạt không được tính vào thời gian chấp hành hình phạt tù, tuy nhiên, nếu được quy định trong Điều 61 BLHS như quy định tại khoản 2 Điều 62 BLHS thì chặt chẽ hơn.

2.2. Về Điều 262 BLTTHS “Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù”

Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là việc Toà án cho người đang chấp hành hình phạt tù tạm thời không phải chấp hành hình phạt tù khi có các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 61 và Điều 62 BLHS.

Người đang chấp hành hình phạt tù thuộc đối tượng của việc tạm đình chỉ là người bị kết án phạt tù giam, đang bị giam giữ hoặc cải tạo tại các trại giam.

a. Thẩm quyền và thủ tục tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

- Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi người đang chấp hành hình phạt tù có thể cho người bị kết án phạt tù, đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù nếu người đó bị bệnh nặng (điểm a, khoản 1, Điều 61 BLHS).

Đây là một quy định mới so với quy định trước đây là Chánh án đã ra quyết định thi hành án có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ trong mọi trường hợp. Sở dĩ có sự thay đổi này vì quy định trước đây không phù hợp bởi lẽ sau khi có quyết định thi hành án, cơ quan Công an sẽ đưa người phải chấp hành hình phạt tù đi cải tạo tại các trại giam và thực tế là không phải trại giam nào cũng gần nơi Toà án đã ra quyết định thi hành án. Do đó, khi người bị kết án bị bệnh nặng, việc xem xét, giải quyết để có thể ra quyết định tạm đình chỉ thường không kịp thời. Quy đinh Chánh án TAND cấp tỉnh nơi người đang chấp hành hình phạt tù có thẩm quyền xem xét, ra quyết định tạm đình chỉ sẽ đảm bảo thuận lợi và nhanh chóng, kịp thời hơn khi người chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng.

- Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án có thể cho người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trong các trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều 61 và Điều 62 BLHS.

Thẩm quyền này thuộc Chánh án TAND cấp tỉnh hoặc cấp huyện nếu Chánh án Toà án đó đã ra quyết định thi hành án (nghĩa là Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án). Quy định này không có gì khác với quy định trước đây, vì việc tạm đình chỉ trong trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; là người lao động duy nhất trong gia đình hoặc bị kết án về tội ít nghiêm trọng nhưng do nhu cầu công vụ được đề nghị xét tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, trong thực tiễn áp dụng là phù hợp, không phát sinh các vướng mắc lớn đến mức phải sửa đổi, bổ sung.

- Việc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm phải do người đã kháng nghị hoặc do Toà án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm quyết định:

+ Người đã kháng nghị bao gồm: Chánh án hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; Chánh án TANDTC hoặc Viện trưởng VKSNDTC;

+ Toà án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm được hiểu là Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, cũng có nghĩa là Hội đồng Thẩm phán TANDTC hoặc Uỷ ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh.

b. Thủ tục để tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

- Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án xem xét, quyết định cho người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù khi có hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù do Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp hoặc Ban giám thị Trại giam, Trại tạm giam lập và gửi Toà án hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù bao gồm các tài liệu:

+ Công văn của cơ quan đề nghị (Ban giám thị Trại giam hoặc Trại tạm giam, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp);

+ Bản sao bản án hoặc bản sao trích lục bản án hình sự;

+ Kết luận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên về việc người đang chấp hành hình phạt tù là phụ nữ có thai hoặc bản sao giấy khai sinh, giấy chứng sinh của người đó; xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đang chấp hành hình phạt tù về việc họ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

+ Xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đang chấp hành hình phạt tù thường trú về việc họ là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu họ tiếp tục phải chấp hành hình phạt tù, thì gia đình họ sẽ gặp khó khăn đặc biệt;

+ Công văn của cơ quan, tổ chức nơi người đang chấp hành hình phạt tù làm việc đề nghị cho người đang chấp hành hình phạt được tạm đình chỉ vì lý do công vụ, nhu cầu công vụ.

Mặc dù Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 không có hướng dẫn trường hợp chính quyền địa phương nơi người đang chấp hành hình phạt tù thường trú cũng có thể có văn bản đề nghị cho người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ như việc được đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù vì lý do nhu cầu công vụ, nhưng theo chúng tôi việc hoãn chấp hành hình phạt tù và tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù về bản chất không khác nhau. Sự khác nhau chỉ ở chỗ đối tượng (người bị kết án) đang được tại ngoại hay đang chấp hành hình phạt tù.

Do đó, theo chúng tôi, chính quyền địa phương nơi người đang chấp hành hình phạt tù cũng có thể đề nghị Toà án xem xét, cho người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù vì nhu cầu công cụ.

Chú ý: Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù phải có các tài liệu cần thiết nêu ở trên, nhưng không phải là tất cả các tài liệu đó mà chỉ cần những tài liệu để chứng minh (những căn cứ) đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Ví dụ nếu đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù vì lý do là lao động duy nhất trong gia đình thì tài liệu trong hồ sơ buộc phải có tài liệu xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đang chấp hành hình phạt tù thường trú và tài liệu này là căn cứ để Ban Giám thị trại giam, Trại tạm giam hoặc Viện kiểm sát cùng cấp có công văn, lập hồ sơ để đề nghị cho người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Việc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng (thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ, điều kiện được tạm đình chỉ, hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ, xem xét, quyết định tạm đình chỉ, thông báo quyết định tạm đình chỉ…) được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2006/TTLT ngày 18/5/2006 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, TANDTC, VKSNTC. “Hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng”.

c. Các căn cứ tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

- Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù phải đầy đủ các tài liệu đối với từng trường hợp cụ thể.

- Có một trong những căn cứ quy định tại Điều 61 Bộ luật hình sự (đó cũng chính là những căn cứ để xét hoãn chấp hành hình phạt tù) và thoả mãn các điều kiện theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC tại mục 7 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 (xem phần Hoãn chấp hành hình phạt tù).

d. Thời hạn ra Quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phải xem xét các căn cứ, điều kiện tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù quy định tại Điều 61 và 62 Bộ luật hình sự và điểm b Điều 262 Bộ luật tố tụng hình sự, hướng dẫn tại mục 8 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt” để quyết định cho hoặc không cho người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Trường hợp tài liệu trong hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ không đầy đủ, không rõ ràng thì Chánh án yêu cầu cơ quan đề nghị (lập hồ sơ) bổ sung, làm rõ thêm. Yêu cầu này của Chánh án phải bằng văn bản. Thời hạn 5 ngày để xem xét chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị cho người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù được tính lại kể từ khi Chánh án Toà án nhận được tài liệu bổ sung hoặc ý kiến bằng văn bản trả lời của cơ quan đề nghị tạm đình chỉ (Ban Giám thị Trại giam, Trại tạm giam hoặc Viện kiểm sát cùng cấp) về vấn đề Toà án yêu cầu cần phải bổ sung hoặc làm rõ thêm.

+ Nếu chấp nhận đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thì Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phạt tù phải ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và gửi cho người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; Trại giam hoặc Trại tạm giam nơi người đang chấp hành hình phạt tù; Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; Chính quyền xã, phường, thị thẩm hoặc cơ quan, tổ chức nơi người được tạm đình chỉ thường trú hoặc làm việc, để quản lý người đó theo quy định tại Điều 263 BLTTHS và hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC tại mục 3 phần III Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 “Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ năm “Thi hành bản án và quyết định của Toà án” của Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Nếu Toà án (Chánh án) không chấp nhận đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì Chánh án phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Ban giám thị Trại giam, Trại tạm giam biết, trong thông báo cần nêu rõ lý do về việc không chấp nhận cho người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Nếu Viện kiểm sát kháng nghị đối với thông báo không chấp nhận cho tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù vì lý do Toà án đưa ra không xác đáng hoặc đủ căn cứ, thì Chánh án Toà án đã ra quyết định tạm đình chỉ hoặc ra thông báo phải xem xét. Trường hợp kháng nghị của Viện kiểm sát có căn cứ thì nếu kháng nghị thông báo thì phải ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; nếu kháng nghị quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thì phải ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

- Quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm do người đã kháng nghị hoặc do Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm quyết định được gửi cho người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; Trại giam hoặc Trại tạm giam nơi người đang chấp hành hình phạt tù; Toà án đã ra quyết định thi hành án phạt tù. (điểm 2.3 mục 2 Nghị quyết HĐTP số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007).

Hướng dẫn này của Hội đồng Thẩm phán không đề cập đến việc quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù của Toà án cấp giám đốc thẩm phải gửi cho chính quyền địa phương nơi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thường trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Chúng tôi cho rằng hướng dẫn như vậy là thiếu vì theo Điều 263 BLTTHS “quản lý người được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù” và hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC tại mục 3 Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 thì “Toà án đã ra quyết định cho hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cần chủ động yêu cầu trại giam (Trại tạm giam) hoặc cơ quan Công an cùng cấp phối hợp trong việc giao người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cho chính quyền, xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi cho thường trú hoặc làm việc quản lý”.

Ngoài ra, Chánh án Toà án nơi người được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cư trú hoặc làm việc còn có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức để theo dõi việc chấp hành quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù để nếu trong thời gian được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù mà người đó có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có căn cứ bỏ trốn thì phải thông báo cho Chánh án Toà án đã cho hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù biết để huỷ bỏ các quyết định đó và ra ngay quyết định thi hành án phạt tù, buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù trong trại giam.

Như vậy, quy định của pháp luật và hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC không phân biệt Toà án nào, tức là không loại trừ trường hợp tạm đình chỉ của Toà án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm hoặc của người có quyền ra quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Mặt khác trong thực tiễn, người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù phải chịu sự quản lý, theo dõi của Toà án nơi người đó cư trú, làm việc và chịu sự quản lý, theo dõi của Toà án nơi người đó cư trú, làm việc và của chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức, nếu quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù của Toà án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm không được gửi cho chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức hoặc Toà án nơi người đó cư trú hoặc làm việc là thiếu sót vì sẽ không có cơ quan, tổ chức nào quản lý theo dõi, giám sát họ trong thời gian người đó được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Cũng có ý kiến cho rằng quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù của Toà án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm (hoặc của người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm không cần phải gửi cho chính quyền phường, xã, thị trấn nơi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thường trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, cũng không cần gửi cho Toà án nơi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cư trú. Quan điểm này cho là khi đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự thường là theo hướng không phạm tội, không áp dụng hình phạt tù, phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc người bị kết án (đang chấp hành hình phạt) đã chấp hành hình phạt bằng hoặc nhiều hơn (dài hơn) mức hình phạt tù cần áp dụng với họ.

Tuy nhiên, kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm mới chỉ là quan điểm của người kháng nghị, cơ quan có thẩm quyền kháng nghị chứ chưa phải là quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm. Thực tiễn đã có không ít quyết định kháng nghị của Chánh án, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh hoặc cấp tối cao không được Hội đồng xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm chấp nhận. Mặt khác từ khi có quyết định kháng nghị đến khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm cũng một vài tháng (thời hạn giám đốc thẩm, tái thẩm là bốn tháng kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị – Điều 283 và 297 Bộ luật tố tụng hình sự). Như vậy, nếu Toà án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm không gửi quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt cho Toà án nơi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt và gửi cho chính quyền địa phương nơi người đó thường trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc thì sẽ tạo ra một khoảng trống không có ai quản lý, giám sát, theo dõi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Từ những lập luận trên, chúng tôi cho rằng dù quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là của Toà án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm cũng rất cần thiết và phải gửi cho Toà án nơi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cư trú, chính quyền địa phương hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó thường trú hoặc làm việc. Có như vậy mới đảm bảo việc thực hiện nghiêm quy định tại Điều 263 Bộ luật tố tụng hình sự. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị TANDTC cần có hướng dẫn bổ sung cho phù hợp.

đ. Thời hạn tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

Điều 62 Bộ luật hình sự quy định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

1. Người đang chấp hành hình phạt tù mà thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 61 của Bộ luật này, thì có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

2. Thời gian tạm đình chỉ không được tính vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

Như vậy điều luật không quy định rõ ràng thời hạn tạm đình chỉ đối với từng trường hợp có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là bao nhiêu. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 61 Bộ luật hình sự vừa là điều kiện vừa là căn cứ để có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù và thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù đối với từng trường hợp cụ thể.

Lẽ ra, để cho rõ ràng thì Điều 62 BLHS cần phải thêm một đoạn nữa như “Thời hạn tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với từng trường hợp cụ thể được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 61 Bộ luật này”.

Tuy điều luật không quy định rõ, nhưng trong thực tiễn, các Toà án đều áp dụng khoản 1 Điều 61 để ấn định thời hạn tạm đình chỉ đối với các trường hợp được tạm đình chỉ cụ thể.

Theo tinh thần của khoản 1 Điều 61 và Điều 62 BLHS thì:

- Người đang chấp hành hình phạt tù nếu bị bệnh nặng thì được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đến khi sức khoẻ được hồi phục;

- Người đang chấp hành hình phạt tù là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đến khi con đủ 36 tháng tuổi;

- Người đang chấp hành hình phạt tù là lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt (lẽ ra phải quy định là “người lao động duy nhất trong gia đình, đang chấp hành hình phạt tù mà gia đình gặp khó khăn đặc biệt” mới chính xác vì khi xét tạm đình chỉ thì người bị kết án phạt tù đang chấp hành hình phạt và vì họ là lao động duy nhất trong gia đình, đang chấp hành hình phạt (chứ không còn là nếu phải và sẽ nữa) nên gia đình họ thực tế đang gặp khó khăn đặc biệt.

Trường hợp này người đang chấp hành hình phạt tù có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đến một năm.

Nếu người đang chấp hành hình phạt tù bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì họ không được xét tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Theo quy định này thì Ban giám thị Trại giam (Trại tạm giam), Viện kiểm sát sẽ không đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và nếu có đề nghị thì Toà án cũng không được chấp nhận để cho người đang chấp hành hình phạt tù đó được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Người đang chấp hành hình phạt tù không được tạm đình chỉ vì lý do nhu cầu công vụ, nếu họ đã bị kết án về tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.

Trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù lại phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù lại phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 57 BLHS. Điều 62 BLHS không có quy định áp dụng khoản 2 Điều 61 BLHS khi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù tái phạm trong thời gian được tạm đình chỉ. Tuy nhiên, theo tinh thần của Điều 57 BLHS thì Tòa án phải tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.

e. Về việc dùng thuật ngữ trong tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

- Người bị kết án là người đã bị Toà án xét xử, kết tội tức là người có tội nếu như bản án, quyết định đó của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Người bị kết án nhưng bản án, quyết định của Toà án chưa có hiệu lực pháp luật thì họ chưa phải là người đã có tội (Điều 9 BLTTHS – thể hiện rõ nguyên tắc suy đoán vô tội của Luật hình sự).

Do vậy, khái niệm người bị kết án là khái niệm dùng chung, nhưng chỉ đúng và phù hợp với từng giai đoạn của tố tụng hình sự. Trong giai đoạn thi hành án hình sự thì khái niệm người bị kết án đồng nghĩa với người có tội bởi vì chỉ có những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc phần bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị mới được đưa ra thi hành (trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 255 BLTTHS).

Hoãn chấp hành hình phạt là việc Toà án xem xét đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với người bị kết án, đã có quyết định thi hành án phạt tù nhưng đang được tại ngoại xã hội, tức là chưa phải chấp hành hình phạt tù. Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là việc Toà án xem xét đề nghị của Ban giám thị Trại giam (Trại tạm giam) hoặc Viện kiểm sát cùng cấp cho người đang chấp hành hình phạt tù (tức là đang ở trong trại giam, Trại tạm giam) được tạm thời không phải chấp hành hình phạt tù, tạm thời trả tự do cho họ (người đó được tại ngoại).

Như vậy, đối tượng được xem xét tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù chỉ có thể là người đang chấp hành hình phạt tù. Do đó dùng thuật ngữ người bị kết án được sử dụng trong hướng dẫn tại các tiểu mục b.4, b.5, b.6, d.1, d.2 mục 2 Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC là không chính xác (đúng ra phải sử dụng thuật ngữ người đang chấp hành hình phạt tù).

g. Về một số vướng mắc trong tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

Trong phần tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, bên cạnh việc phân tích các quy định của pháp luật về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, chúng tôi cũng đã nêu một số vướng mắc trong quy định, trong hướng dẫn áp dụng pháp luật và cũng đã có kiến nghị, đề ra hướng tháo gỡ, giải quyết các vướng mắc đó.

Các vướng mắc khác về hoãn chấp hành hình phạt tù đã nêu trong phần “Hoãn chấp hành hình phạt tù” cũng tương tự như vướng mắc của tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, vì vậy chúng tôi không nêu trong phần này nữa.

3. Quyết định giảm thời gian chấp hành hình phạt tù hoặc miễn chấp hành hình phạt

3.1. Giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù

Giảm thời gian chấp hành hình phạt là việc Toà án nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào những quy định tại Điều 58 BLHS, Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự và hướng dẫn của TANDTC tại Mục IV Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 02/2007 ngày 2/10/2007 để quyết định giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người bị kết án.

Theo quy định tại Điều 58 BLHS, Toà án chỉ có thẩm quyền xét giảm mức hình phạt đã tuyên đối với các loại hình phạt: Cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân, phạt tiền. Việc xem xét để ân giảm hình phạt tử hình thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước.

Giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù:

Hình phạt tù được hiểu là hình phạt tù có thời hạn và tù chung thân. Hồ sơ đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù bao gồm:

- Bản sao bản án hoặc bản sao trích lục bản án hình sự;

- Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án phạt tù;

- Đơn xin giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù của người bị kết án;

- Bản tường trình của người phải thi hành án về việc đã lập công hoặc đã lập công lớn có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền (nếu người phải thi hành án đã lập công hoặc lập công lớn); kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về tình trạng bệnh tật của người bị kết án (nếu người phải thi hành án mắc bệnh hiểm nghèo).

- Điều kiện để được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù:

+ Có nhiều tiến bộ, cải tạo tốt. Thông thường các Trại giam (Trại tạm giam) đều đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể, xếp loại cải tạo A, B, C… và bình xét, phân loại người đang chấp hành hình phạt tù theo tháng, quý, năm. Đây là một trong những căn cứ quan trọng để Ban giám thị Trại giam đánh giá mức độ tiến bộ trong cải tạo.

+ Thời gian đã chấp hành hành phạt nhất định được quy định cụ thể để xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn tù từ ba mươi năm trở xuống, mười hai năm đối với hình phạt tù chung thân.

- Hồ sơ đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt được gửi đến Toà án có thẩm quyền quy định tại Điều 269 BLTTHS “Toà án có thẩm quyền quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù là Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án Quân sự cấp quân khu nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt”.

Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Toà án Quân sự cấp quân khu phải phân công một Thẩm phán phụ trách việc nghiên cứu hồ sơ. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý hồ sơ, Thẩm phán phải ấn định ngày mở phiên họp xét giảm và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết để cử kiểm sát viên tham gia phiên họp. Thời hạn mở phiên họp không vượt quá mười ngày kể từ ngày Thẩm phán ấn định ngày mở phiên họp. Trường hợp có tài liệu nào không đủ thì Thẩm phán yêu cầu cơ quan, tổ chức đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù bổ sung hoặc làm rõ thêm. Trong trường hợp này thì thời hạn mở phiên họp được tính lại là mười ngày kể từ ngày Thẩm phán nhận được văn bản, tài liệu về việc yêu cầu bổ sung, làm rõ.

- Mức giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù:

+ Người bị kết án phạt tù từ ba mươi năm trở xuống thì mỗi lần có thể được giảm từ ba tháng đến ba năm. Trường hợp được giảm ba năm phải là người bị kết án phạt tù có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, cải tạo và chấp hành nghiêm chỉnh nội quy của Trại giam (Trại tạm giam).

+ Người bị kết án có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải đảm bảo thời hạn thực tế chấp hành hình phạt tù là một phần hai mức hình phạt đã tuyên hoặc hai mươi năm đối với hình phạt tù chung thân.

+ Mỗi người bị kết án chỉ được xét giảm thời hạn tù một lần trong một năm. Trường hợp trong năm đó sau khi được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù mà có lý do đặc biệt đáng được khoan hồng như lại lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì có thể được xét giảm thêm tối đa là hai lần trong một năm.

- Giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù trong trường hợp đặc biệt

+ Người bị kết án đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù vào thời gian sớm hơn thời gian nêu ở phần trên (khoản 1 Điều 58 BLHS) hoặc được xét mức giảm thời hạn phạt tù cao hơn so với mức giảm đối với các trường hơp “không đặc biệt” nêu trên.

+ Người quá già yếu là người từ 70 tuổi trở lên, hoặc người từ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên đau ốm.

+ Mắc bệnh hiểm nghèo hoặc đã lập công (được nêu tại điểm 4 của bài viết này hoặc xin xem điểm a, tiểu mục 2.1 mục 2 và tiểu mục 2.2 mục 2 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt”.

Cần chú ý: – Thời gian sớm hơn tức là người bị kết án đã chấp hành được một phần tư mức hình phạt đã tuyên hoặc mười năm đối với tù chung thân.

- Mức giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cao hơn là bốn năm nhưng phải đảm bảo thời gian thực sự đã chấp hành hình phạt ít nhất là hai phần năm mức hình phạt đã tuyên hoặc mười lăm năm đối với hình phạt tù chung thân.

- Trong trường hợp đặc biệt nếu có sự đồng ý của TANDTC, VKSNDTC thì người bị kết án có thể được xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc mức cao hơn so với các trường hợp bình thường khác.

Người chưa thành niên bị phạt tù, nếu lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì được xét giảm ngay không phụ thuộc vào thời hạn đã chấp hành hình phạt được một phần tư mức hình phạt đã tuyên hay chưa.

Người chưa thành niên bị phạt tù, nhưng chưa chấp hành được hai phần năm mức hình phạt đã tuyên, nếu lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo mà sau khi được xét giảm, thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại không quá một năm thì được miễn chấp hành hình phạt tù còn lại.

Trong trường hợp đặc biệt khi có sự đồng ý của TANDTC, VKSNDTC, thì mức miễn chấp hành hình phạt tù còn lại có thể cao hơn một năm.

Các quy định trên đây về giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người chưa thành niên tại thời điểm phạm tội chứ không phải là thời điểm mà họ đang hoặc chưa chấp hành hình phạt.

- Phiên họp: Phiên họp của Hội đồng bao gồm ba Thẩm  phán và có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Phiên họp này có thể tổ chức tại trụ sở Toà án hoặc tại Trại giam (Trại tạm giam) nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù.

- Việc xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù được tiến hành như sau:

+ Một thành viên của Hội đồng (thông thường là Thẩm phán được phân công phụ trách nghiên cứu hồ sơ) trình bày hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho người bị kết án;

+ Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến;

+ Hội đồng thảo luận và quyết định.

Quyền hạn của Hội đồng xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù:

+ Chấp nhận toàn bộ đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù;

+ Chấp nhận một phần đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù;

+ Không chấp nhận đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.

- Hội đồng xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù phải ra quyết định về việc chấp nhận toàn bộ, chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù. Trong quyết định đó phải nêu rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; tên Toà án ra quyết định; thành phần Hội đồng xét giảm  thời hạn chấp hành hình phạt tù; đại diện Viện kiểm sát (Kiểm sát viên); các căn cứ đã chấp nhận đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, nếu không chấp nhận đề nghị thì phải nêu rõ lý do.

Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC tại điểm 11 mục IV không hướng dẫn về việc phải có số của quyết định, nhưng theo chúng tôi đó là một thiếu sót bởi vì bất cứ quyết định nào, văn bản nào của cơ quan nhà nước khi ban hành đều không thể không có số của của nó. Trong thực tiễn, khi ra quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, các Tòa án có thẩm quyền đều áp dụng mẫu của TANDTC, phải có số của quyết định này và điều đó đúng với quy định của pháp luật hiện hành.

Về việc gửi quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù

- Quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù của Toà án phải sao gửi cho Trại giam (Trại tạm giam) nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù (là cơ quan đề nghị); Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp; người được đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù; cơ quan thi hành án.

- Quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù của Toà án có thẩm quyền có thể bị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 7 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên là 15 ngày (mười lăm ngày), kể từ ngày Toà án ra quyết định.

Nghị quyết số 02/2010/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC và Bộ luật tố tụng hình sự cũng không có hướng dẫn, quy định về thời hạn giao quyết định là bao nhiêu ngày. Theo quy định tại Điều 182 BLTTHS “giao các quyết định của Toà án” trong điểm 3 cũng chỉ là “phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp”. Như vậy, nếu Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên là mười lăm ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định thì Viện kiểm sát cấp trên có thể sẽ không thực hiện được quyền kháng nghị khi nhận được quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù quá muộn. Riêng đối với Viện kiểm sát cùng cấp thì thời hạn bảy ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định là hợp lý vì Viện kiểm sát cùng cấp đã trực tiếp tham dự phiên họp xét đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.

- Việc phúc thẩm quyết định của Toà án về giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù (do có kháng nghị của Viện kiểm sát) được thực hiện theo quy định tại Điều 253 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chú ý: Các mẫu “Quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù”, “Quyết định không chấp nhận giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù” đã được Toà án nhân dân tối cao ban hành kèm theo Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

3.2. Quyết định miễn chấp hành hình phạt

Miễn chấp hành hình phạt là việc Toà án có thẩm quyền ra quyết định không buộc người đã bị kết án phải chấp hành hình phạt mà Toà án đã tuyên phạt.

- Điều kiện để người đã bị kết án được xem xét miễn chấp hành hình phạt quy định tại Điều 57 Bộ luật hình sự và Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự. Cụ thể là:

+ Đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, chưa chấp hành hình phạt mà lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và nếu người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Toà án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt.

Lập công lớn là trường hợp người bị kết án đã có hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạmp; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc đã cứu được tài sản của nhà nước, của tập thể, của công dân trong khi có thiên tai, hoả hoạn; có những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị hoặc có thành tích xuất sắc đột xuất khác được các cơ quan có thẩm quyền xác nhận.

Mắc bệnh hiểm nghèo là trường hợp theo kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên thì người bị kết án đang bị những căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng, khó có phương thức chữa trị.

Người bị kết án không còn nguy hiểm cho xã hội là người đã thực sự hoàn lương, chăm chỉ làm ăn, tích cực tham gia các hoạt động xã hội hoặc do họ mắc bệnh hiểm nghèo, không còn hoạt động được nữa.

+ Đối với người bị kết án về tội ít nghiêm trọng (là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội và mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó đến ba năm tù) đã được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nếu trong thời gian được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt đã lập công và được Viện trưởng Viện kiểm sát đề nghị bằng văn bản, thì Toà án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại.

Đã lập công là trường hợp lập công lớn như nêu ở phần trên hoặc người bị kết án có thành tích xuất sắc trong cuộc sống, trong lao động, sản xuất, chiến đấu, học tập, công tác được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận.

+ Đối với người bị phạt cấm cư trú, quản chế nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn của hình phạt và cải tạo tốt, thì theo đề nghị của chính quyền địa phương nơi người đó chấp hành hình phạt, Toà án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

Cải tạo tốt tức là người bị kết án đã chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, không có vi phạm pháp luật, thành thực hối cải, tích cực lao động, sản xuất, học tập, công tác và được chính quyền địa phương nơi người đó chấp hành hình phạt đề nghị bằng văn bản.

+ Đối với người phải thi hành khoản tiền phạt (hình phạt tiền) được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện sau:

- Khi hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện:

+ Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ quyền hạn, thu lợi bất chính lớn;

+ Số tiền phạt còn lại từ hai mươi triệu đồng trở xuống;

+ Không có tài sản, không có thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại.

- Khi chưa hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện:

+ Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn;

+ Số tiền phạt còn lại từ hai mươi triệu đồng trở xuống;

+ Đã chấp hành được một phần hình phạt tiền, trừ trường hợp người chưa thành niên khi phạm tội;

+ Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành hình phạt tiền còn lại hoặc đã lập công lớn.

- Khi hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các hoạt động tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện:

+ Số tiền phạt còn lại từ hai mươi triệu đồng trở xuống;

+ Không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt, nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại.

- Khi chưa hết thời hạn mười năm kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành án khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các loại tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) hoặc người phải thi hành án khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện:

+ Số tiền phạt còn lại từ hai mươi triệu đồng trở xuống;

+ Đã chấp hành được một phần hình phạt tiền, trừ trường hợp người chưa thành niên khi phạm tội;

+ Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc do ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn.

- Người phải thi hành khoản tiền án phí nếu không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền án phí còn lại, được miễn thi hành án khi thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Đã hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu đối với khoản tiền án phí không có giá ngạch;

+ Đã hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu đối với khoản tiền án phí có giá ngạch từ hai mươi triệu đồng trở xuống.

(Xem mục 3 phần I Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-TANDTC-VKSNTC-BTP-BCA-BTC ngày 17/6/2005 của TANDTC, VKSNDTC, Bộ tư pháp, Bộ công an và Bộ tài chính “Hướng dẫn việc miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí”).

+ Đối với người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá.

Thông thường đặc xá hoặc đại xá được thực hiện vào những dịp đất nước có những sự kiện lịch sử lớn như kỷ niệm quốc khánh, Tết nguyên đán… Các điều kiện, trình tự, thủ tục đặc xá hoặc đại xá được nhà nước ban hành, các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan tư pháp giúp Chủ tịch nước xem xét thông qua Hội đồng tư vấn. Không phải các hướng dẫn đặc xá, đại xá đều giống nhau mà tuỳ theo chủ trương “nới lỏng” việc đặc xá, đại xá đến đâu để Nhà nước ban hành các quy định về điều kiện được xét đặc xá, đại xá.

Hội đồng tư vấn thông thường là các cơ quan tư pháp trung ương tham gia và trên cơ sở các quy định về đặc xá, đại xá để hướng dẫn các cơ quan tư pháp địa phương tiến hành rà soát, xét, đề nghị Chủ tịch nước, thông qua Hội đồng tư vấn xét duyệt và trình Chủ tịch nước quyết định.

4. Miễn, giảm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ

Về cơ bản, các điều kiện để miễn, giảm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ cũng tương tự như các điều kiện miễn, giảm chấp hành hình phạt tù (Các Điều 57, 58, 59, 76 Bộ luật hình sự). Tuy nhiên, đối với hình phạt cải tạo không giam giữ thì việc xét miễn, giảm có những điểm khác về điều kiện hoặc hồ sơ đề nghị…

4.1. Giảm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ

- Điều kiện xét giảm:

+ Đã chấp hành được một phần ba thời hạn bị phạt cải tạo không giam giữ;

+ Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, thành thật hối cải, tích cực lao động;

+ Được cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương được giao trách nhiệm trực tiếp giám sát, giáo dục đề nghị bằng văn bản xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

- Mức xét giảm:

Người bị kết án cải tạo không giam giữ thì mỗi lần có thể được giảm từ ba tháng đến chín tháng.

Các trường hợp đặc biệt như lập công, mắc bệnh hiểm nghèo, quá già yếu, người chưa thành niên, được xét giảm sớm hơn hoặc cao hơn cũng thực hiện tương tự như việc xét giảm hình phạt tù.

- Hồ sơ đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ bao gồm các tài liệu sau đây:

+ Bản sao bản án hoặc trích lục bản án hình sự;

+ Văn bản đề nghi của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương được giao trách nhiệm trực tiếp giám sát, giáo dục người bị kết án;

+ Đơn xin giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của người bị kết án;

+ Bản tường trình của người bị kết án về việc đã lập công hoặc lập công lớn có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền (cũng có thể họ xuất trình các quyết định khen thưởng vì đã lập công hoặc lập công lớn); Kết luận của bệnh viện từ cấp tỉnh trở lên về tình trạng bệnh tật của người bị kết án (nếu họ bị mắc bệnh hiểm nghèo).

- Thẩm quyền quyết định miễn, giảm hình phạt cải tạo không giam giữ thuộc Toà án nhân dân cấp huyện, Toà án quân sự khu vực nơi người bị kết án chấp hành hình phạt.

- Trình tự, thủ tục để xét giảm hình phạt cải tạo không giam giữ cũng tương tự như xét giảm chấp hành hình phạt tù. Tuy nhiên, Hội đồng xét giảm hình phạt cải tạo không giam giữ được thành lập ở Toà án cấp huyện, Toà án quân sự khu vực nên thành phần có thể là hai Thẩm phán và một Hội thẩm nhân dân hoặc Hội thẩm quân nhân (khi các Toà án này không đủ ba Thẩm phán).

- Quyền hạn của Hội đồng xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ cũng giống như quyền hạn của Hội đồng xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù. (chấp nhận toàn bộ, chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ).

- Việc ra quyết định, gửi quyết định thực hiện như việc xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Tuy nhiên, trong các mẫu kèm theo Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC chỉ có mẫu Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ mà không có mẫu quyết định giảm, miễn hoặc không chấp nhận giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Trong thực tiễn, các Toà án cấp huyện rất ít xem xét, giải quyết đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, nhưng không vì thế mà TANDTC không ban hành các loại mẫu quyết định này.

4.2. Miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ

- Các điều kiện để được xét miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ cũng tương tự như điều kiện để xét giảm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ và đều được quy định chung trong Điều 57 Bộ luật hình sự và Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên miễn và giảm là hai chế định khác nhau nên trong quy định của pháp luật về hai chế định này cũng có những điểm khác nhau. Miễn chấp hành là không buộc phải chấp hành nữa, tức là có sự khoan hồng đặc biệt hơn so với giảm thời hạn chấp hành hình phạt. Vì vậy, trình tự, thủ tục miễn chấp hành hình phạt cũng cần chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo việc miễn chấp hành hình phạt nói chung và hình phạt cải tạo không giam giữ nói riêng đúng quy định của pháp luật.

- Theo quy định tại khoản 2 Điều 269 BLTTHS “Thủ tục giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt” thì:

“Hồ sơ đề nghị xét miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, miễn chấp hành toàn bộ hoặc phần hình phạt tù còn lại, miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại phải có đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp”.

Do đó; hồ sơ đề nghị miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ bao gồm các tài liệu sau:

+ Bản sao bản án hoặc bản sao trích lục bản án hình sự;

+ Văn bản đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát;

+ Đơn xin miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của người bị kết án.

+ Bản tường trình của người bị kết án về việc đã lập công hoặc lập công lớn có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nếu họ có tình tiết này. Cũng có thể người bị kết án xuất trình các quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc khen thưởng đối với người bị kết án. Trường hợp này, theo chúng tôi không cần thiết phải yêu cầu họ làm bản tường trình và cũng không cần phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nữa vì các quyết định khen thưởng của cơ quan có thẩm quyền đã là xác nhận thành tích của người bị kết án rồi.

Trường hợp người bị kết án được xét miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ vì lý do họ mắc bệnh hiểm nghèo thì trong hồ sơ phải có kết luận của bệnh viện từ cấp tỉnh trở lên về tình trạng bệnh tật của người bị kết án.

- Các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành, thời hạn xét miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ; các quy định miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ trong những trường hợp đặc biệt hoặc đối với người bị kết án là người chưa thành niên; việc giao quyết định, kháng nghị quyết định, phúc thẩm quyết định miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được thực hiện như việc xét miễn, giảm hình phạt tù. (xem Điều 269 BLTTHS và mục IV Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 12/10/2007).

5. Miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí

(Theo Điều 61 Luật thi hành án dân sự là miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước).

5.1. Một số vấn đề chung

Miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí là những trường hợp người phải thi hành các khoản tiền này theo bản án, quyết định của Toà án, nhưng có đủ các điều kiện do pháp luật quy định nên được Toà án có thẩm quyền quyết định miễn hoặc giảm khoản tiền mà họ phải thi hành.

- Tiền phạt được xem xét để miễn, giảm không phân biệt là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung.

- Đã thi hành được một phần hình phạt tiền là trường hợp người phải thi hành án đã nộp một khoản tiền hoặc tài sản để thi hành án mà ít nhất là 1/20 khoản tiền phạt phải thi hành, nhưng không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch.

- Người phải thi hành án lập công lớn là trường hợp người đó đã có hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc đã cứu được tài sản của nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hoả hoạn; có những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng.

- Người phải thi hành án bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài là người bị mất toàn bộ hoặc phần lớn tài sản, mất hoặc giảm thu nhập, không đảm bảo hoặc chỉ đảm bảo được nhu cầu tối thiểu của bản thân người đó và gia đình từ mười hai tháng trở lên, kể từ khi thời điểm thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, ốm đau đến thời điểm xét miễn giảm thi hành án, trừ trường hợp do người phải thi hành án tự gây ra tai nạn, ốm đau cho bản thân họ nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.

5.2. Nguyên tắc xét miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí

- Việc xét miễn, giảm thi hành án khoản tiền phạt, án phí (sau đây gọi tắt là miễn hoặc giảm thi hành án) được tiến hành hàng quý trong năm, nhưng mỗi đối tượng phải thi hành án chỉ được xét miễn hoặc giảm không quá một lần trong một năm. Trường hợp một người phải thi hành nhiều khoản tiền phạt, án phí trong nhiều bản án, quyết định khác nhau, thì đối với mỗi bản án, quyết định, người phải thi hành án chỉ được xét miễn hoặc giảm thi hành án một lần trong một năm.

- Không xét miễn, giảm thi hành án đối với người có đủ điều kiện xiét miễn, giảm nhưng kể từ ngày bị xử phạt tiền, buộc phải chịu án phí đến thời điểm xét miễn, giảm mà lại phạm tội mới.

- Người được xét miễn, giảm thi hành án không phải nộp lệ phí và các chi phí liên quan đến việc xét miễn, giảm. Chi phí cho việc điều tra, xác minh, lập hồ sơ, thụ lý hồ sơ và tổ chức xét miễn, giảm thi hành án được lấy từ kinh phí nghiệp vụ của cơ quan thi hành án dân sự địa phương, Thi hành án quân khu, Trại giam, Viện kiểm sát và Toà án giải quyết vụ việc đó.

5.3. Các trường hợp được giảm thi hành án

- Khi hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành án khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau:

+ Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn;

+ Số tiền phạt còn lại từ trên hai mươi triệu đồng;

+ Không có tài sản, không có thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại.

- Khi chưa hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành án khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau:

+ Là người chưa thành niên khi phạm tội;

+ Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn;

+ Số tiền phạt còn lại trên hai triệu đồng;

+ Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn.

- Khi hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các loại tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) hoặc người phải thi hành án phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau:

+ Là người chưa thành niên khi phạm tội;

+ Số tiền phạt còn lại trên hai triệu đồng;

+ Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn.

- Người phải thi hành khoản tiền án phí có giá ngạch trên hai mươi triệu đồng nếu không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền án phí còn lại được giảm thi hành án trong trường hợp đã đủ mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu.

- Mức xét giảm thi hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ.

5.4. Các trường hợp được miễn thi hành án khoản tiền phạt, án phí

(Xin xem mục 5 Quyết định miễn chấp hành hình phạt của bài viết này)

5.5. Thủ tục xét miễn, giảm thi hành án

(Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT ngaà 17/6/2005 của TANDTC, VKSNDTC, BTP, BCA, BTC).

a. Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án bao gồm:

+ Đơn xin miễn, giảm thi hành án của người phải thi hành án; các giấy tờ chứng minh điều kiện được miễn, giảm gửi kèm cùng đơn đề nghị.

Đối với những trường hợp người phải thi hành án đủ điều kiện miễn, giảm thi hành án, nhưng vì già yếu, bệnh tật,  không biết chữ thì có thể nhờ người khác thay mặt họ làm đơn xin miễn, giảm thi hành án.

Nếu người phải thi hành án đủ điều kiện miễn, giảm thi hành án nhưng họ là người chưa thành niên, người không có năng lực hành vi thì có thể nhờ người khác hoặc người giám hộ thay mặt để làm đơn xin miễn, giảm thi hành án.

+ Hồ sơ thi hành án khoản tiền phạt, án phí còn bao gồm: bản sao bản án, quyết định hoặc bản sao trích lục bản án, quyết định của Toà án (có thể dùng bản photo bản án, quyết định của Toà án có xác nhận của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nếu khoản tiền được miễn, giảm được thụ lý, thi hành cùng các khoản khác); các quyết định về thi hành án; chứng từ thu, chi về thi hành án; các biên bản xác minh, điều tra về điều kiện tài sản của người thi hành án, trong đó có biên bản xác minh gần nhất không được quá sáu tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm; các giấy tờ xác nhận điều kiện được xét miễn, giảm.

- Văn bản đề nghị xét miễn, giảm thi hành án của Viện trưởng Viện kiểm sát đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 58, khoản 3 Điều 76 Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại tiểu mục 3.2 và 3.4 mục 3, tiểu mục 4.2 và 4.4 mục 4 phần I của Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT ngày 17/6/2005 của TANDTC, VKSNDT, BTP, BCA và Bộ tài chính; văn bản đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đối với các trường hợp còn lại.

+ Đơn xin miễn, giảm thi hành án được gửi cho cơ quan Thi hành án dân sự đang thụ lý việc thi hành khoản tiền phạt, án phí và phải có các nội dung sau:

- Họ và tên, nơi cư trú, làm việc và nơi chấp hành hình phạt tù (nếu có);

- Tên cơ quan thi hành án dân sự đang thụ lý việc thi hành khoản tiền phạt án phí;

- Số bản án, quyết định, tên Toà án đã ban hành bản án, quyết định; khoản tiền phạt, án phí phải thi hành; khoản tiền phạt, án phí đã được thi hành và khoản tiền phạt, án phí còn phải thi hành; khoản tiền phạt, án phí xin được miễn giảm; lý do xin miễn, giảm;

- Đơn xin miễn, giảm phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người phải thi hành án cư trú. Trường hợp người phải thi hành án đang làm việc tại cơ quan, tổ chức thì ngoài xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, còn phải có xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc;

- Người phải thi hành án đã lập công lớn phải có bản tường trình có xác nhận của cơ quan Công an hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã và bản sao giấy tờ, tài liệu chứng minh về việc lập công lớn.

Người có phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng, thì phải có bản sao giấy tờ xác nhận việc khen thưởng.

Người phải thi hành án lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, kéo dài do thiên tai, địch hoạ, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra, thì phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú; cơ quan nơi người đó làm việc hoặc giám thị trại giam nơi người đó chấp hành hình phạt tù. Trường hợp tai nạn, ốm đau kéo dài phải có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên.

b. Lập hồ sơ đề nghị xét miễn giảm thi hành án:

- Cơ quan thi hành án dân sự địa phương, thi hành án cấp quân khu có trách nhiệm thông báo các điều kiện, thời gian xét miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí cho người phải thi hành án có đủ điều kiện để họ làm đơn xin miễn, giảm thi hành án.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn xin miễn giảm thi hành án, chấp hành viên được giao thi hành vụ việc phải kiểm tra và tiến hành xác minh điều kiện về tài sản của người phải thi hành án.

Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà phải thi hành án khoản tiền phạt, án phí, thì ngoài biên bản xác minh về điều kiện thi hành án nơi người đó cư trú hoặc làm việc, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự gửi phiếu đề nghị Giám thị trại giam nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù xác nhận những vấn đề sau: lập công lớn khi chấp hành hình phạt tù, bị bệnh nặng, tài sản mà họ gửi ở bộ phận lưu ký của Trại giam (nếu có).

Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được phiếu yêu cầu, Giám thị trại giam phải kiểm tra, xác nhận và chuyển kết quả cho cơ quan Thi hành án dân sự đã có yêu cầu.

- Căn cứ kết quả xác minh, Chấp hành viên báo cáo Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét việc, miễn giảm thi hành án. Biên bản xác minh điều kiện thi hành án được thực hiện trong thời hạn không quá ba tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm.

Trường hợp không đủ điều kiện để xét miễn, giảm thi hành án, thì trong thời hạn mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo của chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự phải có văn bản trả lời, nêu rõ lý do của việc không đề nghị cho người phải thi hành án biết.

Trường hợp xét thấy người phải thi hành án có đủ điều kiện đề nghị xét miễn, giảm thi hành án nhưng không xác định được nơi cư trú của người đó hoặc người phải thi hành án là người nước ngoài không có tài sản và không còn cư trú tại Việt Nam, thì cơ quan Thi hành án dân sự có văn bản đề nghị miễn, giảm thi hành án kèm theo hồ sơ đối với trường hợp.

- Vào tuần đầu tiên của tháng giêng (tháng 1), tháng tư, tháng bảy và tháng mười hàng năm, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm chuyển hồ sơ đề nghị miễn, giảm thi hành án cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo văn bản đề nghị Toà án xét miễn, giảm thi hành án. Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận hồ sơ, Viện kiểm sát phải xem xét và chuyển hồ sơ cho Toà án cùng cấp kèm theo văn bản nêu rõ ý kiến của Viện kiểm sát về hồ sơ xin miễn giảm thi hành án và thông báo cho cơ quan Thi hành án dân sự biết.

Viện kiểm sát có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự giải thích những điểm chưa rõ hoặc bổ sung những tài liệu, giấy tờ cần thiết. Trường hợp có căn cứ là người phải thi hành án có điều kiện được xét miễn, giảm thi hành án mà cơ quan thi hành án không lập hồ sơ, Viện kiểm sát chó quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự phải lập hồ sơ đề nghị miễn, giảm thi hành án cho người đó.

- Người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án có quyền khiếu nại việc Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên lập hồ sơ không đúng hoặc không lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm tiền phạt, án phí, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc giải quyết khiếu nại đối với cơ quan Thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Chương VI Luật thi hành án dân sự.

c. Thẩm quyền đề nghị miễn, giảm thi hành án và thẩm quyền của Toà án trong việc xét miễn, giảm thi hành án:

Thẩm quyền của Toà án

Theo quy định tại Điều 63 Luật thi hành án dân sự thì:

“Việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Toà án quân sự khu vực (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) nơ cơ quan Thi hành án dân sự đang tổ chức việc thi hành án có trụ sở.

+ Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Toà án phải thụ lý hồ sơ.

+ Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý hồ sơ, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phải mở phiên họp xét miễn, giảm án phí, tiền phạt (nghĩa vụ thi hành án).

+ Phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án do một Thẩm phán chủ trì, có sự tham dự của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan Thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn, giảm.

Khi tiến hành xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, đại diện cơ quan Thi hành án trình bày tóm tắt hồ sơ đề nghị miễn, giảm; đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về hồ sơ miễn, giảm. Trên cơ sở xem xét ý kiến của cơ quan Thi hành án, của Viện kiểm sát và căn cứ vào hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm, Thẩm phán ra quyết định chấp nhận, chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận đề nghị miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án (tiền phạt, án phí).

- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án (án phí, tiền phạt), Toà án phải gửi quyết định cho người được xét miễn, giảm thi hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Trại giam, Trại tạm giam nơi người được xét miễn giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí đang chấp hành hình phạt tù.

- Thẩm quyền đề nghị xét miễn, giảm tiền phạt, án phí

Theo Điều 62 Luật thi hành án dân sự thì “Cơ quan thi hành án dân sự lập hồ sơ đề nghị Toà án có thẩm quyền xem xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án…”.

Luật không quy định rõ Cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan cấp nào, nhưng theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT ngày 17/6/2005 thì Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc trực tiếp đề nghị Toà án cùng cấp xét miễn, giảm thi hành án. Trường hợp vụ việc do Thi hành án cấp tỉnh thụ lý thi hành thì uỷ thác cho Thi hành án cấp huyện nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc lập hồ sơ đề nghị, thực hiện việc đề nghị và thông báo cho đương sự (người được xét miễn, giảm thi hành án) biết. Nếu cơ quan thi hành án cấp tỉnh đã tiến hành xác minh điều kiện miễn, giảm thì phải gửi các tài liệu này kèm theo hồ sơ cùng quyết định uỷ thác cho Thi hành án cấp huyện.

d. Kháng nghị quyết định của Toà án về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với các khoản thu nộp ngân sách Nhà nước (tiền phạt, án phí):

- Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định.

- Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát, Toà án phải chuyển hồ sơ và văn bản kháng nghị đến Toà án cấp trên trực tiếp.

- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng nghị, Toà án cấp trên trực tiếp phải mở phiên họp để xét kháng nghị. Phiên họp này do một Thẩm phán chủ trì, có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp. Trong trường hợp cần thiết Toà án yêu cầu đại diện cơ quan Thi hành án dân sự đã lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm cùng tham dự. Thẩm phán chủ trì phiên họp ra quyết định giải quyết kháng nghị của Viện kiểm sát. Quyết định này có hiệu lực thi hành.

Trường hợp Viện kiểm sát rút kháng nghị trước hoặc trong phiên họp xét kháng nghị thì Toà ra ra quyết định đình chỉ việc xét kháng nghị và quyết định xét miễn, giảm tiền phạt, án phí của Toà án cấp dưới có hiệu lực thi hành.

- Trường hợp sau khi đã có quyết định cho miễn, giảm tiền phạt, án phí (quyết định đã có hiệu lực pháp luật) mà phát hiện được người phải thi hành án đã cất giấu, tẩu tán tài sản, xin được miễn, giảm, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, thì cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát có thẩm quyền đã đề nghị Toà án xét miễn, giảm có trách nhiệm đề nghị Chánh án Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

6. Rút ngắn thời gian thử thách của án treo

Án treo không phải là một loại hình phạt riêng quy định trong Bộ luật hình sự mà là một chế định miễn chấp hành hình phạt tù có thời hạn, có điều kiện. Do vậy, khi quyết định hình phạt, Toà án phải xác định mức hình phạt tù đó, tức là Toà án phải căn cứ vào các quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự, các hướng dẫn của TANDTC để xem xét bị cáo có đủ các điều kiện để có thể cho bị cáo được hưởng án treo hay không.

- Các điều kiện cần và đủ để cho bị cáo hưởng án treo gồm:

+ Bị xử phạt tù không quá ba năm, không phân biệt đó là tội gì;

Trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần (trong một vụ án) về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt tù chung không quá ba năm tù thì cũng có thể cho hưởng án treo.

+ Có nhân thân tốt, được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, cụ thể;

+ Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ, vừa có tình tiết tăng nặng thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên;

+ Nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm;

+ Đối với người bị xử phạt tù đã bị tạm giam, thì chỉ cho hưởng án treo khi thời gian đã bị tạm giam ngắn hơn thời hạn phạt tù.

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 60 Bộ luật hình sự “Án treo” thì khi cho người bị phạt tù hưởng án treo, trong mọi trường hợp Toà án phải ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.

Cách tính thời gian thử thách của án treo đã được Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn tại mục 6 Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 ‘Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt” và tại mục 1 Công văn số 99-TANDTC-KHXX ngày 01/7/2009 của TANDTC “về việc thi hành một số quy định của các văn bản quy phạm pháp luật”.

Khi cho bị cáo hưởng án treo, căn cứ vào quy định nêu trên, các Toà án ấn định thời gian thử thách của bị cáo.

- Theo quy định tại khoản 4 Điều 60 Bộ luật hình sự thì:

“Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Toà án có thể rút ngắn thời gian thử thách”.

- Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo (sau đây gọi tắt là Nghị định 61/CP) thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục nói trong Nghị định này là:

1. Cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý người được hưởng án treo, nếu người được hưởng án treo là cán bộ, công chức, người đang học tập tại các cơ sở giáo dục, đào tạo;

2. Đơn vị quân tội từ cấp đại đội hoặc tương đương trở lên, nếu người được hưởng án treo là quân nhân, công nhân quốc phòng;

3. Doanh nghiệp, hợp tác xã, nếu người được hưởng án treo là người lao động làm công ăn lương;

4. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người được hưởng án treo cư trú, nếu người được hưởng án treo không thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.

Những cơ quan, tổ chức trong Điều 3 Nghị định 61/CP là những cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục người được hưởng án treo và Toà án phải căn cứ vào người được hưởng án treo thuộc đối tượng nào của Điều 3 Nghị định 61/CP và hướng dẫn tại tiểu mục 6.6 mục 6 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC để quyết định trong bản án về việc giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục họ trong thời gian thử thách.

- Hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo

Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định 61/CP thì “Khi đề nghị Toà án rút ngắn thời gian thử thách quy định tại điểm g khoản 1 của Điều này, cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người được hưởng án treo phải gửi kèm hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách.

Hồ sơ đề nghị gồm có:

a. Bản đề nghị của cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục về việc rút ngắn thời gian thử thách cho người được hưởng án treo;

b. Sổ theo dõi người được hưởng án treo;

c. Quyết định của Toà án về việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo và trích lục bản án;

d. Đơn xin rút ngắn thời gian thử thách của người được hưởng án treo (nếu họ có đề nghị);

đ. Bản tự kiểm điểm của người được hưởng án treo;

e. Biên bản cuộc họp kiểm điểm người được hưởng án treo.

Chú ý: Nghị định 61/CP đánh máy nhầm là điểm e, khoản 1 Điều này, thực chất là phải căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều này mới đúng vì điểm g khoản 1 Điều 7 Nghị định 61/CP quy định “Tự mình hoặc theo đề nghị của người được hưởng án treo, đề nghị Toà án nhân dân cấp huyện hoặc Toà án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo đang chịu thử thách xem xét việc rút ngắn thời gian thử thách, khi người đó chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ”. Còn điểm e khoản 1 Điều 7 Nghị định 61/CP quy định “Cho phép người được hưởng án treo được vắng mặt tại nơi cư trú”, quy định này không liên quan đến việc rút ngắn thời gian thử thách của người được hưởng án treo.

- Trình tự, thủ tục tiến hành, thời hạn xét rút ngắn thời gian thử thách, ra quyết định rút ngắn thời gian thử thách, gửi quyết định, kháng nghị quyết định, phúc thẩm quyết định… được thực hiện như đối với việc xét miễn, giảm hình phạt tù, hình phạt cải tạo không giam giữ.

- Thẩm quyền quyết định rút ngắn thời gian thử thách của án treo thuộc Toà án nhân dân cấp huyện, Toà án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo đang chấp hành hình phạt, chịu thử thách.

- Mức rút ngắn thời gian thử thách

+ Mỗi lần người được hưởng án treo có thể được Toà án quyết định rút ngắn thời gian thử thách từ ba tháng đến một năm.

+ Người được hưởng án treo có thể được Toà án rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, nhưng phải đảm bảo thời hạn thực tế chấp hành thời gian thử thách là ba phần tư. Có nghĩa là mức rút ngắn thời gian thử thách dù nhiều lần cũng chỉ được một phần tư thời gian thử thách. Ví dụ người được hưởng án treo phải chịu thời gian thử thách là 4 năm thì họ phải đảm bảo thời gian đã chấp hành là 3 năm. Thời gian được rút ngắn thử thách cao nhất chỉ là một năm.

+ Người được hưởng án treo lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và có đủ các điều kiện: đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách; chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật; thành thực hối cải, tích cực lao động, học tập; được cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương có trách nhiệm giám sát, giáo dục đề nghị bằng văn bản rút ngắn thời gian thử thách, thì Toà án có thể quyết định miễn chấp hành thời gian thử thách còn lại.

Các mẫu “Quyết định rút ngắn thời gian thử thách của án treo” (mẫu 3i) và mẫu “Quyết định không chấp nhận rút ngắn thời gian thử thách của án treo” (mẫu 3m) để được TANDTC ban hành kèm theo Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007.

7. Thi hành một số các hình phạt khác

Ngoài các hình phạt chính, Toà án còn áp dụng các hình phạt bổ sung nếu như điều luật có quy định và xét thấy cần thiết phải áp dụng đối với bịcáo. Các hình phạt bổ sung bao gồm:

- Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;

- Cấm cư trú;

- Tước một số quyền công dân;

- Tịch thu tài sản;

- Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính;

- Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.

Theo quy định tại Điều 257 Bộ luật tố tụng hình sự thì cơ quan công an thi hành hình phạt trục xuất (không phân biệt đó là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung); Chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi thi hành án thi hành hình phạt quản chế, cấm cư trú, trước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cơ quan thi hành án dân sự thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản; việc thi hành bản án và quyết định của Toà án quân sự do các tổ chưc trong quân đội đảm nhiệm, trừ hình phạt trục xuất.

Vì đây là những hình phạt bổ sung được quyết định trong bản án nên khi quyết định thi hành án thì cũng có nghĩa là thi hành các quyết định của bản án, trong đó có cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung.

Vấn đề đặt ra là trong hệ thống biểu mẫu của TANDTC ban hành kèm theo Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 có một số mẫu Quyết định thi hành hình phạt cấm cư trú (mẫu số 5), Quyết định thi hành án hình phạt quản chế (mẫu số 6) và nếu đã có các mẫu thi hành án các hình phạt bổ sung thì cũng có thể phải ban hành các mẫu quyết định thi hành án các hình phạt bổ sung thì cũng có thể phải ban hành các mẫu quyết định thi hành án các hình phạt bổ sung khác còn chưa ban hành. Như vậy, khi có hình phạt bổ sung được quyết định trong bản án đã có hiệu lực pháp luật, được đưa ra thi hành án thì Toà án phải ban hành tới hai hoặc nhiều quyết định (nếu như Toà án áp dụng nhiều hình phạt bổ sung). Theo chúng tôi, hướng dẫn này không phù hợp và gây cồng kềnh trong thi hành án. Nên chăng, các hình phạt bổ sung cũng được đưa vào trong quyết định thi hành án và nếu thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức thi hành án nào thì cơ quan, tổ chức thi hành án đó thi hành theo phần trách nhiệm đã được Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Trong thực tiễn thì một bản án hình sự có thể có tới năm cơ quan thi hành, Toà án chỉ ra quyết định thi hành về phần hình sự, còn những phần dân sự trong vụ án hình sự, hình phạt tịch thu tài sản lại do cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành.

Từ những vướng mắc này, chúng tôi cũng đề nghị TANDTC cần có hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục thi hành các hình phạt bổ sung để Toà án và các cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương nơi người bị kết án có căn cứ thi hành đúng đắn quyết định của Toà án, đồng thời cũng tạo ra mối quan hệ chặt chẽ giữa Toà án và các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trong giám sát, giáo dục, quản lý những người bị Toà án áp dụng hình phạt bổ sung.

8. Xoá án tích

Xoá án tích là một chế định được quy định tại Chương IX Bộ luật hình sự và Chương XXIX Bộ luật tố tụng hình sự. Theo các quy định của hai Bộ luật này thì có hai hình thức xoá án tích, đó là “Đương nhiên được xoá án tích” và “xoá án tích theo quyết định của Toà án”.

Xoá án tích là việc xoá đi vết tích phạm tội của người bị kết án, làm cho người đó được coi như chưa bị kết án, họ có quyền được ghi trong lý lịch của mình chưa có tiền án sau khi đã được Toà án cấp giấy chứng nhận hoặc ra quyết định xoá án tích.

8.1. Đương nhiên xoá án tích

Đương nhiên xoá án tích được áp dụng đối với những trường hợp quy định tại Điều 64 Bộ luật hình sự, đó là:

- Người được miễn hình phạt;

- Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia” và Chương XXIV “Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh” của Bộ luật hình sự, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau:

+ Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo;

+ Ba năm trong trường hợp hình phạt tù đến ba năm;

+ Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười lăm năm.

+ Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên mười lăm năm.

Một số vấn đề cần chú ý:

- Chấp hành xong bản án tức là người bị kết án đã tự mình chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Trường hợp các quyết định của bản án hình sự về tài sản, án phí, tiền phạt… đã có người thân của người bị kết án nộp thay hoặc người có trách nhiệm liên đới bồi thường đã thực hiện bồi thường đầy đủ toàn bộ theo quyết định của bản án thì cũng được coi là người bị kết án đã chấp hành xong.

+ Người bị xử phạt tù, nhưng được hưởng án treo đã chấp hành xong thời gian thử thách và chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án (tiền bồi thường, tiền phạt, án phí… nếu có).

- Thời hiệu thi hành bản án

Khi xem xét thời hiệu thi hành bản án đã hết hay chưa để xem xét việc xoá án tích, thì cần phải căn cứ vào Điều 55 Bộ luật hình sự. Đặc biệt cần chú ý là thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với trường hợp áp dụng hình phạt tiền trước đây chưa được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985, do đó được thi hành theo Pháp lệnh thi hành án dân sự. Bộ luật hình sự năm 1999 đã bổ sung tại điểm a, khoản 2 Điều 55 và theo quy định này thì thời hiệu thi hành án đối với hình phạt trên là năm năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật.

Đối với các quyết định khác về tài sản trong bản án hình sự (tiền bồi thường thiệt hại; trả lại tài sản; tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến thiệt hại; tịch thu tài sản; án phí…) thì vẫn thi hành theo các quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự.

Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã quy định cụ thể về thời hiệu thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án. Tuy nhiên để xác định thời hiệu thi hành án đối với các quyết định về tài sản trong bản án hình sự còn hay hết thì cần phân biệt:

+ Đã hết thời hiệu thi hành án đối với các quyết định về tài sản trong bản án hình sự khi hết thời hạn quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự mà không có trở ngại khách quan, nhưng người được thi hành án không có đơn gửi cơ quan thi hành án để yêu cầu thi hành án hoặc trong trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án phải chủ động ra quyết định thi hành án, nhưng không ra quyết định này. (thời hạn là năm đối với các trường hợp phải yêu cầu thi hành án.

+ Nếu trong thời hạn quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự mà cá nhân, cơ quan, tổ chức được thi hành án đã có đơn gửi cơ quan thi hành án yêu cầu thi hành án hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án đã chủ động ra quyết định thi hành án, thì chỉ khi nào người bị kết án thi hành xong các quyết định về tài sản hoặc có quyết định đình chỉ thi hành án thì mới được coi là đã chấp hành xong các quyết định của Toà án về tài sản trong bản án hình sự.

- Thủ tục đương nhiên xoá án tích được thực hiện theo Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 01/8/1986 của TANDTC, VKSNDTC, Bộ tư pháp, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an); Thông tư liên ngành số 03/89 ngày 15/7/1989 của liên ngành tư pháp trung ương.

8.2. Xoá án tích do Toà án quyết định

Xoá án tích do Toà án quyết định là việc trên cơ sở xem xét những điều kiện được quy định tại Điều 65 và Điều 66 Bộ luật hình sự, ý kiến bằng văn bản của Viện kiểm sát, đơn của người bị kết án, nhận xét của chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú hoặc làm việc, Toà án ra quyết định về việc xoá án tích.

- Các điều kiện để xoá án tích do Toà án quyết định:

+ Những người đã bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia (chương XI Bộ luật hình sự) và các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (chương XXIV Bộ luật hình sự). Khi quyết định xoá án tích đối với những người bị kết án về những tội phạm này, Toà án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã được thực hiện, nhân dân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động của họ trong các trường hợp sau:

a. Đã bị phạt tù đến ba năm mà không phạm tội mới trong thời hạn ba năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án;

b. Đã bị phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn bảy năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án.

Như vậy, xoá án tích do Toà án quyết định được pháp luật giới hạn trong phạm vi đối với những người bị kết án theo Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật hình sự.

- Xoá án tích trong trường hợp đặc biệt (Điều 66 Bộ luật hình sự).

Để được xoá án tích trong trường hợp đặc biệt, người bị kết án phải có đủ các điều kiện: có những tiến bộ rõ rệt; đã lập công; được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú đề nghị; đã đủ một phần ba thời hạn quy định tại Điều 64, Điều 65 Bộ luật hình sự, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án.

+ Có những tiến bộ rõ rệt là sau khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người bị kết án đã hoà nhập vào cộng đồng, tham gia làm ăn lương thiện, chấp hành đầy đủ các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước…

+ Đã lập công là có thành tích xuất sắc trong cuộc sống, trong sản xuất, chiến đấu, học tập, công tác được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận. Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì bao gồm cả lập công và lập công lớn. Người bị kết án lập công lớn thì càng đáng được khoan hồng và xem xét khi xoá án tích cho họ.

- Cách tính thời hạn để xoá án tích (Điều 67 Bộ luật hình sự).

Khi áp dụng khoản 1 Điều 67 Bộ luật hình sự thì cần chú ý là thời hạn để xoá án tích được căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên mà không căn cứ vào hình phạt bổ sung; thời hạn này bắt đầu được tính kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án, chứ không phải là tính từ ngày chấp hành xong hình phạt chính. (xem ví dụ tại mục 11 Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000).

+ Theo quy định tại khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự thì “Người bị Toà án bác đơn xin xoá án tich lần đầu phải chờ một năm sau mới được xin xoá án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi thì phải hai năm mới được xin xoá án tích”.

- Thủ tục xoá án tích do Toà án quyết định:

Người bị kết án phải có đơn gửi cho Toà án đã xét xử sơ thẩm; kèm theo giấy xác nhận được trả tự do sau khi đã chấp hành xong hình phạt tù của Trại giam nơi họ chấp hành hình phạt tù; Giấy chứng nhận của Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc cơ quan, tổ chức về việc người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt không phải là tù giam; quyết định của Toà án giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù… Nếu người bị kết án bị Toà án áp dụng các hình phạt bổ sung thì phải có giấy chứng nhận của cơ quan, tổ chức, chính quyền có trách nhiệm giám sát, giáo dục về việc họ đã chấp hành xong các hình phạt bổ sung đó; nếu bản án có quyết định về phần tài sản, các quyết định khác về án phí, tiền phạt… thì người bị kết án cũng phải nộp các giấy tờ chứng minh họ đã chấp hành xong các quyết định đó của bản án.

Sau khi đã nhận đơn xin xoá án tích và các tài liệu cần thiết kèm theo đơn, Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm kiểm tra các điều kiện để được xoá án tích. Nếu thấy cần thiết phải xác minh tính đúng đắn của các tài liệu do người bị kết án nộp thì Toà án áp dụng các biện pháp để xác minh, làm rõ. Khi đã xác định hồ sơ xin xoá án tích đã đầy đủ các điều kiện, Toà án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp để nghiên cứu và phát biểu ý kiến bằng văn bản. Trong thời hạn mười ngày, kể từ nhận được hồ sơ xin xoá án tích do Toà án chuyển đến, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phải có ý kiến bằng văn bản gửi kèm với hồ sơ xoá án tích cho Toà án.

Toà án có quyền quyết định chấp nhận hoặc bác đơn xin xoá án tích của người bị kết án mà không lệ thuộc vào ý kiến đồng ý hay không đồng ý của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp.

Quyết định xoá án tích phải được gửi cho người bị kết án có đơn xin án tích, Viện kiểm sát cùng cấp, Công an cấp huyện, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người có đơn xin xoá án tích thường trú.

Trong trường hợp bác đơn xin xoá án tích thì trong quyết định, Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm phải nêu rõ lý do không chấp nhận xoá án tích.

Quyết định xoá án tích có thể bị kháng nghị theo trình tự phúc thẩm hoặc trình tự giám đốc thẩm (nếu quyết định đã có hiệu lực pháp luật). Việc giải quyết kháng nghị quyết định của Toà án được thực hiện theo thủ tục chung.

Như vậy, các chế định về miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, hình phạt cải tạo không giam giữ, hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, rút ngắn thời gian thử thách của án treo, xoá án tích, các quy định về thời hiệu thi hành bản án… được quy định trong Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự là sự thể hiện sâu sắc nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật. Sau khi bị kết án, người bị kết án vẫn có thể được hưởng các quyền, các chính sách nhân đạo mà từ đó họ có thể yên tâm cải tạo, tích cực trong cuộc sống để sớm được hoà nhập cộng đồng. Do vậy, các chế định này còn có ý nghĩa giáo dục, cảm hoá rất lớn, rất có hiệu quả và thể hiện rõ quan điểm, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta là trừng trị đi đôi với giáo dục và lấy giáo dục làm chính.

9. Thi hành hình phạt tử hình

Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Hình phạt này không được áp dụng đối với người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử.

Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang có con dưới 36 tháng tuổi. Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân. Nếu người bị kết án tử hình được ân giảm thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân.

Như vậy, tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất, tước đi quyền được sống của người phạm tội. Vì vậy, việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án tử hình đều phải hết sức thận trọng, không được phép sai sót. Chính vì vậy pháp luật quy định rất chặt chẽ các trình tự đặc biệt về hình phạt tử hình. Bộ luật tố tụng hình sự quy định thành một chương (chương XXVI Thi hành hình phạt tử hình). Hội đồng Thẩm phán TANDTC cũng dành mục II trong Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 để hướng dẫn áp dụng thống nhất Chương XXVI-BLTTHS “Thi hành hình phạt tử hình”. Hướng dẫn của TANDTC rất cụ thể, rõ ràng về việc kháng cáo, kháng nghị hoặc xem xét đơn xin ân giảm v.v… (xem tiểu mục 1.1 điểm 1 Mục II Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán TANDTC số 02/2007).

Bản án tử hình chỉ được thi hành khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a. Người bị kết án tử hình không làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình và Toà án xử sơ thẩm đã nhận được quyết định không kháng nghị của Chánh án TANDTC và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng VKSNDTC.

b. Người bị kết án tử hình có làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình và Toà án xử sơ thẩm để nhận được quyết định không kháng nghị của Chánh án TANDTC, quyết định không kháng nghị của Viện trưởng VKSNDTC và bản sao quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình (do TANDTC gửi đến).

c. Người bị kết án tử hình không làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình và Toà án xử sơ thẩm đã nhận được quyết định giám đốc thẩm hoặc quyết định tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán TANDTC không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình.

d. Người bị kết án tử hình có làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình và Toà án xử sơ thẩm đã nhận được quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán TANDTC không chấp nhận kháng nghị, giữ nguyên bản án tử hình và bản sao Quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình (do TANDTC gửi đến).

Việc thi hành hình phạt tử hình phải được thực hiện theo đúng “Quy trình thi hành án tử hình” được ban hành kèm theo Quyết định số 810/2006/QĐ-BCA-C11 ngày 04/7/2006 của Bộ trưởng Bộ Công an.

Trường hợp một người bị kết án tử hình mà lại bị xét xử về một hoặc nhiều tội phạm mới (tội phạm mới này được hiểu là có thể thực hiện trước hoặc sau khi đã bị kết án tử hình), nhưng tội mới này không bị xử phạt tới mức tử hình, cho dù khi tổng hợp hình phạt chung của các bản án vẫn là tử hình, thì Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm về tội phạm mà họ bị kết án tử hình ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình.

- Trường hợp một người bị kết án tử hình nhiều lần theo nhiều bản án của các Toà án đã xử sơ thẩm khác nhau (cũng có thể là nhiều bản án tử hình của cùng một Toà án), thì Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm vụ án sau cùng ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình.

- Chú ý: Các tình tiết đặc biệt xảy ra khi thi hành hình phạt tử hình phải là những thông tin, tình tiết do người bị kết án tử hình hoặc người khác khai báo, cung cấp hoặc do Hội đồng thi hành án biết được từ những nguồn tin khác; các thông tin, tình tiết này phải có căn cứ và nó có thể làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án, để khởi tố vụ án mới, người phạm tội mới (ví dụ: người bị thi hành hình phạt tử hình khai ra các tình tiết mới của vụ án, khai ra người phạm tội mới…), nếu thi hành án với họ thì có thể sẽ rất khó khăn trong việc điều tra, mở rộng vụ án, khó khăn trong việc xử lý đối với các loại tội phạm khác…

Những trường hợp này, Hội đồng thi hành án hoãn thi hành và báo cáo Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án để báo cáo Chánh án TANDTC.

IV. Một số kiến nghị

1. Về hướng dẫn, áp dụng pháp luật

Luật thi hành án dân sự đã được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 14/11/2008. Theo đó, một số quy định trước đây của Pháp lệnh thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung, thế nhưng một số văn bản pháp luật hướng dẫn áp dụng Pháp lệnh này vẫn không được sửa đổi cho phù hợp với Luật mới. Ví dụ như Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán TANDTC số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007, hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ năm “Thi hành bản án và quyết định của Toà án” của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt; Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT ngày 17/6/2005 của TANDTC, VKSNDTC, BTP, BCA, BTC hướng dẫn việc miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí. Một số viện dẫn trong các văn bản hướng dẫn này vẫn dựa trên quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự mà theo Luật thi hành án dân sự thì đã có thay đổi.

Ví dụ như hướng dẫn về việc người phải thi hành án phải làm đơn xin miễn, giảm thi hành án tiền phạt, án phí. (tiểu mục 1.1 điểm 1 mục II Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT ngày 17/6/2005 của Liên ngành Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an và Bộ Tài chính). Hướng dẫn này không còn phù hợp với quy định tại Điều 62 Luật thi hành án dân sự “Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước”.

Ngay trong thuật ngữ “khoản tiền phạt, án phí” với “nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước” cũng đã có sự khác nhau. Theo chúng tôi khái niệm “khoản thu nộp ngân sách nhà nước” rộng hơn so với khái niệm “tiền phạt, án phí” bởi khoản thu nộp ngân sách nhà nước không chỉ có tiền phạt, án phí mà còn có thể có cả các khoản tiền khác mà người bị kết án phải có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước. Ví dụ như tiền thu lợi bất chính, các khoản tiền, tài sản mà Toà án tuyên tịch thu xung công quỹ nhà nước… Vấn đề này cũng cần được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể bằng Thông tư liên tịch, hay nói cách khác, cần có sửa đổi, bổ sung hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT ngày 17/6/2005 hoặc ban hành một Thông tư liên tịch mới để hướng dẫn áp dụng một số điều của Luật thi hành án dân sự.

2. Về công tác quản lý nhà nước và tổ chức thi hành án dân sự

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc tổ chức thi hành án dân sự được giao cho nhiều cơ quan thi hành. Như vậy một bản án, quyết định hình sự có thể có nhiều cơ quan thi hành, mỗi cơ quan được giao trách nhiệm thi hành mọto phần trong quyết định của bản án. Điều này đã làm cho công tác thi hành án hình sự bị cắt khúc, gián đoạn, công tác quản lý nhà nước không chặt chẽ. Ví dụ Toà án thì ra các quyết định, cơ quan công an thi hành phần hình phạt tù, tử hình; Uỷ ban nhân dân, cơ quan, tổ chức thực hiện việc quản lý, giám sát, giáo dục đối với người bị kết án không phải là phạt tù giam; cơ quan tư pháp thi hành phần dân sự…

Ngay trong một cơ quan thì việc thi hành án hình sự cũng được giao cho nhiều bộ phận khác nhau. Ví dụ Bộ Công an giao cho lực lượng cảnh sách Bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp thi hành hình phạt tử hình, V26 (trại giam) thi hành hình phạt tù; Cục quản lý xuất nhập cảng thi hành hình phạt trục xuất…

Việc giao cho quá nhiều cơ quan thi hành một bản án, quyết định hình sự, rõ ràng đây là một bất cập của pháp luật và cần phải nghiên cứu, sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn. Theo chúng tôi, cần ban hành Luật thi hành án hình sự, trong đó xác định rõ cơ quan chủ trì, các cơ quan có trách nhiệm phối hợp trong việc tổ chức thi hành án hình sự.

3. Về nhận thức

Theo chúng tôi thi hành án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự (tố tụng hình sự được hiểu theo nghĩa rộng, tức là bao gồm tất cả các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự). Xét xử vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng tại Toà án, thi hành án hình sự là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử. Tất nhiên, không phải mọi trường hợp xét xử, ra bản án, quyết định đều có giai đoạn thi hành án vì có một số trường hợp Toà án không phải ra quyết định thi hành án như trường hợp tuyên không có tội, miễn hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự, phạt tiền (là hình phạt chính)… xét xử và Thi hành án hình sự chỉ là hai mặt thống nhất khi mà bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, phải ra quyết định thi hành.

Thi hành án hình sự được quy định tại phần thứ năm, chương XXV của Bộ luật tố tụng hình sự. Các điều luật trong chương này quy định rất rõ về trình tự, thủ tục thi hành án…., đó cũng chính là tố tụng trong thi hành án hình sự. Mọi vi phạm tố tụng này đều bị kháng nghị bởi Viện kiểm sát hoặc giải quyết theo quy định tại chương XXXV Bộ luật tố tụng hình sự “Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự”. Về vấn đề này cũng có những quan điểm khác như không coi thi hành án hình sự là một giai đoạn tố tụng mà thi hành án hình sự chỉ là một quá trình thực thi các phán quyết của Toà án và đó không phải là một quá trình tố tụng hình sự; cũng có quan điểm cho rằng thi hành án hình sự mang nặng màu sắc của hành chính tư pháp vì hầu hết quá trình thi hành án này chủ yếu do các cơ quan hành chính (cơ quan Công an, chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức…) thực hiện.

Sự chưa thống nhất trong nhận thức về thi hành án hình sự cũng là một trở ngại đáng kể trong việc xây dựng, củng cố, bố trí tổ chức, xác định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong công tác thi hành án và cao hơn là việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật về thi hành án hình sự.

4. Về thi hành án tử hình

Cần nghiên cứu và quy định phương pháp thi hành án tử hình thay cho phương pháp bắn bằng súng hiện nay. Cũng có thể quy định “mở” về phương pháp, hình thức thi hành án tử hình, tức là đa dạng về hình thức chứ không chỉ quy định cứng nhắc một hình thức; có các quy định về việc cho phép thân nhân người bị thi hành án tử hình nhận xác về mai táng; cho phép người bị thi hành án tử hình được quyền hiến một phần hoặc toàn bộ cơ thể cho y học hoặc vì nhân đạo xã hội.

Hiện nay, việc người bị kết án tử hình phải chờ đợi thi hành án quá lâu trong xà lim của trại giam vừa gây nhiều khó khăn cho trại giam, vừa gây tâm nặng nề cho người bị kết án. Nhiều trường hợp kéo dài năm bảy năm, thậm chí hàng chục năm nhưng không thi hành án. Có nhiều lý do về việc chậm trễ này mà hầu hết đều không phải do người bị thi hành án tử hình gây ra. Trong trường hợp này nên chăng, pháp luật cũng có quy định về thời hạn thi hành án tử hình, nếu quá thời hạn đó mà các cơ quan có thẩm quyền không ra quyết định thi hành án tử hình thì không thi hành án tử hình mà chuyển xuống tù chung thân. Chúng tôi nghĩ rằng nếu Nhà nước nghiên cứu, chấp nhận đề xuất này thì sẽ có những tác dụng nhất định:

- Một là: Khi quy định thời hạn thì buộc các cơ quan có thẩm quyền phải nghiêm túc thực hiện. Nếu không thực hiện được thì phải tự chịu trách nhiệm (tương tự như thời hiệu thi hành bản án, thời hiệu chấp hành hình phạt tù…).

- Hai là: Thời hạn (thời gian) quá lâu không thi hành án tử hình cũng làm cho tính thời sự của vụ án hạn chế, tác dụng cũng hạn chế. Chẳng hạn một vụ án xét xử đã 10 năm rồi mới thi hành án tử hình thì dự luận xã hội, thậm chí những người tiến hành tố tụng cũng không còn nhớ được nội dung vụ án.

- Ba là: Xét về góc độ nhân đạo thì một người bị thi hành án tử hình, phải biệt giam trong nhiều năm, chờ ngày thi hành án quá dài, họ nuôi hy vọng được sống, dù hy vọng đó là nhỏ nhoi, mong manh, nhưng được họ trân trọng. Pháp luật có nên nhân đạo với họ không?

Ngoài ra, còn một số vướng mắc cần được hướng dẫn cụ thể như thủ tục tố tụng đối với những trường hợp người bị kết án tử hình chết trước khi thi hành án; chết trước khi nhận được quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị của Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC (đối với người bị kết án tử hình không viết đơn xin ân giảm); chết trước khi nhận được quyết định ân giảm hoặc quyết định bác đơn xin ân giảm của Chủ tịch nước; việc thi hành án tử hình đối với trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm mà Hội đồng Thẩm phán TANDTC không chấp nhận kháng nghị, giữ nguyên bản án tử hình và người bị kết án tử hình không viết đơn xin ân giảm.

5. Về thi hành án phạt tù

- Cần có văn bản hướng dẫn về thủ tục giải quyết đối với các trường hợp người bị kết án chết trước khi có quyết định thi hành án, đã có quyết định thi hành án, chết trong thời gian chấp hành hình phạt, trong thời gian hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù. Hiện nay pháp luật không quy định cơ quan nào ra quyết định giải quyết. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại điểm 8.4 mục 8 Thông tư liên tịch số 02/2006/TTLT ngày 18/5/2006 của TANDTC, VKSNTC, BCA, BQP, BYT hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng thì “Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ việc chấp hành hình phạt tù vì người bị kết án đã chết”. Theo chúng tôi, hướng dẫn này cũng chưa sát vì Luật không có điều nào quy định về việc này nên không thể lấy quy định của Luật về tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để hướng dẫn về đình chỉ chấp hành án phạt tù. Mặt khác, đây cũng chỉ là hướng dẫn đối với trường hợp người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng, còn các trường hợp khác (lý do tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù khác) thì cũng chưa có hướng dẫn.

Trong thực tiễn, khi gặp phải các trường hợp người bị kết án chết trước, trong, sau khi có quyết định thi hành án, tạm đình chỉ, hoãn chấp hành hình phạt, các Toà án không ra quyết định đình chỉ chấp hành hình phạt tù mà mặc nhiên coi như đã thi hành án xong (để treo). Hiện nay, TANDTC cũng chưa có hướng dẫn hoặc ban hành mẫu về đình chỉ chấp hành án phạt tù. Đây là một trong vướng mắc trong công tác thi hành án hình sự, cần được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, đặc biệt cần phải bổ sung trong Bộ luật tố tụng hình sự quy định về đình chỉ chấp hành án phạt tù.

- Cần có hướng dẫn cụ thể trong việc xác định “Sức khoẻ đã phục hồi” để Toà án có căn cứ quyết định có ra quyết định hoãn, tạm đình chỉ hay không.

- Một số vướng mắc khác về hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, chúng tôi đã nêu tại mục 3 “Ra quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù”.

6. Về xoá án tích

Nhìn chung, thủ tục xoá án tích còn nhiều rườm rà. Người xin được xoá án tích hay đương nhiên được xoá án tích phải thực hiện quá nhiều thủ tục phức tạp. Mặt khác việc tuyên truyền, phổ biến sâu rộng chế định này của pháp luật cũng còn nhiều hạn chế, bất cập. Không phải tất cả những người đã bị kết án hoặc thân nhân của họ đều biết về chế định này. Chính vì vậy, hàng năm mặc dù số người có đủ điều kiện để được xoá án tích là rất nhiều nhưng Toà án cấp giấy chứng nhận hoặc ra quyết định xoá án tích không đáng kể. Từ thực trạng này, chúng tôi kiến nghị:

- Các cơ quan Toà án, thi hành án dân sự cần tạo các điều kiện thuận lợi để cung cấp cho người xin xoá án tích các tài liệu liên quan.

- Giảm bớt các thủ tục giấy tờ khi cấp giấy chứng nhận hoặc quyết định xoá án tích.

- Tuyên truyền rộng rãi chế định này; Tại trụ sở các Toà án cần phải công khai các mẫu, hướng dẫn các trình tự, thủ tục, các điều kiện được xoá án tích.

- Xoá án tích là một chế định xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo XHCN, do vậy trách nhiệm trước hết thuộc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo chúng tôi, tương tự như quy định về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước, nên chăng không nên yêu cầu (quy định) người có đủ điều kiện xoá án tích phải làm đơn xin Toà án chứng nhận hoặc ra quyết định xoá án tích mà Toà án phải tự lập hồ sơ, tự xác minh và cấp giấy chứng nhận hoặc ra quyết định xoá án tích.

7. Về xét miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù

Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt thì mức được xét giảm từ 03 tháng đến 03 năm cho mỗi lần được xét giảm. Hội đồng xét miễn, giảm chấp hành hình phạt tù quyết định, căn cứ vào hồ sơ đề nghị của Ban giám thị Trại giam (Trại tạm giam) và ý kiến của Viện kiểm sát.

Để việc xét miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù chính xác, đúng đắn, công bằng và khuyến khích người phải chấp hành hình phạt tù tích cực cải tạo, tốt, khá, trung bình, yếu kém. Theo phân loại này thì chỉ xét giảm cho những người được xếp loại tốt và khá. Trong đó cũng cần quy định cụ thể như người cải tạo khá có thể được giảm từ 03 tháng đến 18 tháng; người cải tạo tốt có thể được xét giảm từ trên 18 tháng đến 36 tháng.

8. Về việc thi hành một số hình phạt như hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, cảnh cáo…

Tuy đã có những hướng dẫn của Chính phủ tại các Nghị định 60, 61/CP nhưng trong thực tiễn cũng còn nhiều bất cập trong việc phối hợp quản lý, giám sát, giáo dục. TANDTC cũng chưa ban hành sổ theo dõi việc chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, chính quyền địa phương cũng chưa quản lý được các đối tượng này trên địa bàn, đặc biệt khi họ thay đổi nơi cư trú, ở vùng sâu, vùng xa, thay đổi nơi làm việc, học tập… Một số mẫu về Quyết định miễn, giảm, không chấp nhận miễn, giảm hình phạt cải tạo không giam giữ cũng chưa được TANDTC ban hành.

Hình phạt cải tạo không giam giữ nếu bị khấu trừ thu nhập cũng khó có điều kiện để thi hành quyết định của Toà án. Một phần vì thu nhập của nhiều trường hợp không ổn định và họ cũng không cư trú cố định, ổn định ở một nơi. Trong thực tiễn, hình phạt cải tạo không giam giữ ít được Toà án áp dụng và hiệu quả thi hành án hình phạt này không cao.

9. Việc thi hành các hình phạt bổ sung

Các hình phạt bổ sung mà Toà án thường áp dụng như phạt tiền, quản chế, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định, tước một số quyền công dân. Nhìn chung, các hình phạt bổ sung này được thi hành tương đối tốt và do chính quyền địa phương, cơ quan tổ chức nơi người phải chấp hành hình phạt thực hiện.

Đối với một số hình phạt bổ sung như Cấm cư trú và trục xuất (là hình phạt bổ sung) thường ít được áp dụng hơn.

Hình phạt bổ sung đi kèm với hình phạt chính và do nhiều cơ quan thi hành. Thông thường hình phạt bổ sung thường được thi hành sau khi đã chấp hành xong hình phạt chính. Ví dụ quản chế, cấm cư trú được thực hiện (thi hành) sau khi chấp hành xong hình phạt chính (thường là phạt tù), tước một số quyền công dân thường áp dụng đối với các bị cáo bị xử phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia nên cũng thường được thi hành sau khi chấp hành xong hình phạt chính. Tuy nhiên cũng có những trường hợp hình phạt chính và hình phạt bổ sung cùng được thi hành. Ví dụ một người bị phạt tù nhưng cho hưởng án treo về một tội nào đó nhưng họ bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định thì hai hình phạt này cũng được thi hành.

Vướng mắc trong việc có ra quyết định thi hành hình phạt bổ sung hay không, chúng tôi đã nêu tại mục 2 “Quyết định thi hành án” và mục 9 “Thi hành các hình phạt khác”.

Tóm lại: Thi hành án các hình phạt bổ sung cũng còn nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu, hướng dẫn cụ thể. Hiện nay hình phạt bổ sung cũng giao cho nhiều cơ quan, tổ chức thi hành nên cũng tương tự như thi hành án đối với các hình phạt chính khác, không tránh khỏi những bất cập và hiệu quả của các hình phạt bổ sung chưa được như mong muốn.

10. Đối với công tác thi hành án hình sự của các Toà án

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Toà án phải chịu trách nhiệm với rất nhiều công việc về thi hành án hình sự. Tuy nhiên, tổ chức bộ máy để thực hiện nhiệm vụ này từ lâu rồi không được củng cố, hoàn thiện. Ngay ở TANDTC cũng không phân công, bố trí một bộ phận, đơn vị nào đảm nhiệm công tác này. Các Toà án địa phương cũng không có bộ phận, đơn vị chuyên trách về thi hành án hình sự.

Cán bộ làm công tác thi hành án hình sự đều là kiêm nhiệm, không có chuyên sâu, không được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức thường xuyên và thường không ổn định. Trong khi đó, khối lượng công việc rất lớn vì hầu hết các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật đều phải ra quyết định thi hành. Một người bị kết án có thể phải ra rất nhiều quyết định: Quyết định thi hành án phạt tù, miễn chấp hành hình phạt tù, xoá án tích… Hàng năm, Toà án nhân dân tỉnh phải xem xét để giảm án, tha tù cho hàng ngàn bị cáo, tức là phải nghiên cứu hàng ngàn hồ sơ đề nghị miễn, giảm; phải xem xét hàng trăm hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách… Thế nhưng thực trạng về tổ chức, cán bộ nêu trên làm cho các Toà án địa phương rất vất vả, phải điều động cán bộ, Thẩm phán để tập trung giải quyết.

Mặt khác, cơ cấu tổ chức bộ máy, lực lượng cán bộ không chuyên cũng làm cho sự chỉ đạo, điều hành, tổng kết thực tiễn, hướng dẫn áp dụng pháp luật về thi hành án hình sự cũng còn quá nhiều hạn chế, bất cập.

Tự thực trạng trên, chúng tôi kiến nghị TANDTC cần củng cố lại tổ chức cả về bộ máy và cả về cán bộ làm công tác thi hành án hình sự. Bên cạnh đó, cần tăng cường hướng dẫn áp dụng pháp luật, có ý kiến đề nghị Quốc hội giải thích pháp luật hoặc sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật không còn phù hợp thực tiễn hoặc bổ sung một số quy định chưa có trong pháp luật về thi hành án hình sự.

Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến trao đổi xung quanh các vấn đề mà chúng tôi đã nêu ra trong bài viết này.

ThS. Nguyễn Quang Lộc – Thẩm phán TAND tối cao
Theo: Cổng thông tin điện tử TANDTC

About these ads
 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 56 other followers

%d bloggers like this: