RSS

Bàn về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội tự thú

06 Tháng 10

Tình tiết “Người phạm tội tự thú” là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) được quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự (BLHS); Ngoài ra, tình tiết “Người phạm tội tự thú” được quy định tại khoản 2 Điều 25 BLHS về miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội…

Việc quy định chính sách hình sự đối với người phạm tội “Tự thú” là thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của nhà nước ta, phù hợp với văn hoá và đạo đức truyền thống của người Việt Nam là “đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”. Mặt khác, đây là một chính sách hình sự nhằm khuyến khích người phạm tội ra “tự thú”, góp phần tích cực trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và đẩy lùi những tội phạm nguy hiểm cho xã hội chưa bị xử lý, đồng thời kịp thời giáo dục, tạo cơ hội cho những người đã lầm lỡ phạm tội, nay quyết tâm cải tạo để hoàn lương, xoá đi những mặc cảm tội lỗi của mình trước đó.

Thực tiễn xét xử cho thấy, tình tiết “Người phạm tội tự thú” cũng còn có những nhận thức không thống nhất dẫn đến áp dụng pháp luật chưa chính xác. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn làm rõ nội dung và ý nghĩa của tình tiết “Người phạm tội tự thú” trong Luật hình sự, để từ đó có sự nhận thức và áp dụng pháp luật được thống nhất và chính xác.

Tại Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 2-6-1990 của Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao và Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội tự thú như sau:

Về nguyên tắc chung:

(1) Những người đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa bị phát hiện hoặc đã bị phát hiện, bị giam giữ, bị phạt tù nhưng trốn khỏi nơi giam giữ, trốn tránh thi hành án hoặc đang bị truy nã mà ra tự thú đều được hưởng chính sách khoan hồng của nhà nước.

(2) Việc thực hiện chính sách khoan hồng đối với những người phạm tội ra tự thú phải căn cứ vào chính sách hình sự của Nhà nước; Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, hậu quả tác hại xảy ra; thái độ khai báo, hối lỗi và sự góp phần vào việc phát hiện, điều tra tội phạm.v.v… của người ra tự thú.

Thông tư liên ngành số 05 đã hướng dẫn cụ thể và chi tiết các trường hợp áp dụng chính sách hình sự đối với người phạm tội tự thú quy định trong Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự. Cần lưu ý là Thông tư này vẫn còn hiệu lực áp dụng, chưa có văn bản pháp luật nào tuyên bố Thông tư này hết hiệu lực áp dụng hoặc thay thế Thông tư này. Nhưng trong quá trình áo dụng Thông tư 05, cần chú ý là các Điều khoản của BLHS và BLTTHS áp dụng trong Thông tư theo BLHS 1985 và BLTTHS 1988 nay chúng ta chỉ dẫn BLHS 1999 và BLTTHS năm 2003 theo từng Điều khoản tương ứng.

Nhưng, có một vẫn đề hướng dẫn trong Thông tư mà thực tiễn áp dụng pháp luật đã tồn tại những trường hợp nhận thức khác nhau, đó là Thông tư đã dùng thuật ngữ “tự thú” đối với cả những trường hợp “đầu thú”. Thông tư không chia ra hai trường hợp “tự thú” và “đầu thú” mà liệt kê tất cả các hành vi, bao gồm cả tự thú và đầu thú vào chung một thuật ngữ là “tự thú”.

Theo từ điển tiếng Việt thì “đầu thú” là động từ chỉ sự đầu hàng, quy phục; còn “tự thú” là động từ chỉ sự tự nhận tội mình, tự xin đầu thú* (xem: Phan Canh, từ điển tiếng Việt, NXB Mũi Cà Mau, CM 1997, tr 436, 1173). Như vậy, thuật ngữ pháp lý “tự thú” bao gồm hai nghĩa, nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng thì “tự thú” bao gồm cả hai trường hợp là “tự thú và đầu thú”, đó là sự tự nhận tội mình (tự thú) và sự tự xin đầu thú (đầu thú).

Để việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn được thống nhất và chính xác, Toà án nhân dân tối cao có sự hướng dẫn tình tiết “người phạm tội tự thú” tại Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 “về việc giải đáp các vấn đề nghiệp vụ”, cụ thể Công văn 81 đã giải thích, hướng dẫn tình tiết tự thú và đầu thú theo nghĩa hẹp thuộc trường hợp “tự thú” theo nghĩa rộng, quy định tại Thông tư số 05 như sau:

* “Tự thú” là tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội. Người nào bị bắt, bị phát hiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình điều tra đã tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát hiện, thì cũng được coi là tự thú đối với việc tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội của mình mà chưa bị phát hiện.

* “Đầu thú” là có người đã biết mình phạm tội, nhưng biết không thể trốn tránh được nên đến cơ quan có thẩm quyền trình diện để cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 2-6-1990 của Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp “Hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú”, thì các trường hợp này đều được coi là tự thú. Tuy hướng dẫn các trường hợp này đều được coi là tự thú để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng không hướng dẫn cụ thể trong trường hợp nào thì áp dụng khoản 1, trong trường hợp nào thì áp dụng khoản 2 Điều 38 BLHS 1985 (nay là Điều 46 BLHS 1999).

* Để áp dụng đúng và thống nhất tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong các trường hợp trên đây, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể như sau:

- Nếu người phạm tội tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội thì áp dụng tình tiết giảm nhẹ “tự thú” quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 đối với người phạm tội.

- Nếu có người đã biết hành vi phạm tội của người phạm tội nhưng biết không thể trốn tránh được nên người phạm tội đến cơ quan có thẩm quyền trình diện thì áp dụng khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội. Cũng cần chú ý là trong trường hợp này, nếu người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hoặc có những việc làm khác thuộc trường hợp được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tương ứng quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999.

Theo chúng tôi, hướng dẫn này của Toà án nhân dân tối cao không mâu thuẫn với Thông tư liên ngành số 05, mà chỉ hướng dẫn chi tiết thêm khi nào thì tình tiết “tự thú” theo nghĩa rộng quy định tại Thông tư liên ngành số 05 được áp dụng theo khoản 1 Điều 46 BLHS và khi nào thì áp dụng theo khoản 2 Điều 46 BLHS. Vì Thông tư chỉ hướng dẫn áp dụng theo Điều 38 BLHS 1985 (này là Điều 46, 47 BLHS 1999) khi người phạm tội được hưởng tình tiết này, mà không quy định cụ thể khi nào thì được áp dụng khoản 1 hoặc khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 38 BLHS 1985 (nay là khoản 1,2 Điều 46 hoặc Điều 47 BLHS 1999). Vì vậy, tất cả những quy định trong Thông tư liên ngành số 05 vẫn còn hiệu lực và chúng ta phải hiểu “tự thú” được nêu trong Thông tư là theo nghĩa chung (nghĩa rộng) bao gồm các trường hợp mà Thông tư đã liệt kê (cả tự thú và đầu thú) để áp dụng cho nhiều trường hợp (áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS, xử dưới khung hình phạt, miễn TNHS, miễn hình phạt, hoãn thi hành hình phạt tù, miễn chấp hành hình phạt tù, giảm thời hạn chấp hành hình phạt), chứ không phải “tự thú” theo nghĩa hẹp được giải thích trong Công văn 81 của Toà án nhân dân tối cao là chỉ để hướng dẫn áp dụng tình tiết “tự thú” theo khoản 1 hay khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999.

Tuy nhiên, Công văn 81 của Toà án nhân dân tối cao giải thích “đầu thú” là có người đã biết mình phạm tội, nhưng biết không thể trốn tránh được nên người phạm tội đến cơ quan có thẩm quyền trình diện để cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật và trường hợp này người phạm tội được áp dụng khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội.

Theo chúng tôi giải thích như vậy là chưa sát với thực tế, không nên cho rằng “người phạm tội biết mình không thể trốn tránh được mới ra đầu thú”, nói như vậy có nghĩa là, vì không thể trốn tránh được người thực hiện tội phạm mới ra đầu thú, còn nếu họ có thể trốn tránh được thì họ không ra đầu thú, quan niệm như vậy là chưa khuyến khích người phạm tội ra đầu thú, không sát với ý chí và nguyện vọng của họ. Hơn nữa, giả thiết nếu trường hợp người phạm tội biết có người biết hành vi phạm tội của mình, họ có thể trốn tránh được nhưng họ không muốn trốn tránh nữa (do ăn năn hối hận với tội lỗi của mình) mà tự nguyện đến cơ quan có thẩm quyền “tự thú” thì có được coi là “đầu thú” hay không?, công văn 81 chưa đưa ra trường hợp này. Trong thực tiễn có những trường hợp người phạm tội sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn và đã có lệnh truy nã của cơ quan có thẩm quyền, họ đã trốn tránh được một thời gian dài mà không ai phát hiện ra, họ đã làm ăn lương thiện kể từ đó và đã thay tên đổi họ. Nhưng vì họ cứ ăn năn, day dứt mãi hành vi tội lỗi của mình, cùng với sự động viên của người thân nên họ tự mình ra trình diện trước cơ quan có thẩm quyền và khai rõ về hành vi phạm tội của mình; ngoài ra họ còn khai ra một số đồng phạm khác nữa. Trường hợp này không thể coi họ là không thể trốn tránh được mới ra đầu thú mà phải coi họ là đã ăn năn, hối cải và dĩ nhiên họ được áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự thú” để giảm nhẹ TNHS theo Điều 46 BLHS hoặc miễn TNHS cho họ theo Điều 25 BLHS.

Ngoài ra, trong thực tiễn xét xử còn có nhiều vấn đề đặt ra như sau:

(1) Có ý kiến cho rằng: Đối với tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại Điều 202 BLHS thì không được áp dụng tình tiết người phạm tội tự thú, vì riêng đối với tội phạm này có đặc thù riêng là, nếu người gây ra tai nạn mà bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm thì phải chịu tình tiết tăng nặng định khung hình phạt theo điểm c khoản 2 Điều 202 BLHS. Cho nên, việc người gây ra tai nạn rồi bỏ chạy sau đó tự đến trình diện và khai báo về hành vi phạm tội của mình không được coi là tự thú.

Theo chúng tôi, nhận thức như trên là sai lầm, vì Thông tư 05/TTLN nêu trên đã quy định “… Người đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng chưa bị phát giác, không kể phạm tội gì, thuộc trường hợp nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng mà ra tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 48 BLHS 1985 (nay là khoản 2 Điều 25 BLHS 1999) hoặc được giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại Điều 38 BLHS 1985 (nay là Điều 46 BLHS 1999)…”.

Như vậy, có thể khẳng định, tình tiết “Người phạm tội tự thú” có thể được áp dụng cho bất kỳ loại tội phạm nào mà không có ngoại lệ, miễn sao thoả mãn được các điều kiện về tự thú theo quy định của pháp luật.

(2) Một vấn đề khác mà trong thực tiễn xét xử cũng còn vướng mắc, đó là trường hợp: người phạm tội tự khai nhận về những hành vi phạm tội khác của mình nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng không thể làm rõ được những hành vi đó thì có áp dụng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự thú” đối với họ không?.

Ví dụ: Nguyễn Văn A đang bị khởi tố, điều tra, truy tố về hành vi trộm cắp chiếc Tivi của Hoàng B. Trong quá trình điều tra, truy tố A lại tự khai nhận là đã có hành vi trộm cắp vài chiếc xe đạp trước đó, nhưng cơ quan điều tra không thể điều tra làm rõ các hành vi trộm xe đạp của A vì không tìm ra bị hại… nhưng trong cáo trạng của Viện kiểm sát, có ghi nhận là A đã tự khai nhận ra những hành vi trộm cắp trước đó mặc dù không truy cứu trách nhiệm hình sự về những hành vi này; Vậy khi xét xử Toà án có áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự thú” đối với họ không?. Trong thực tiễn xét xử có Toà án vẫn áp dụng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự thú” đối với họ theo khoản 1 Điều 46 BLHS.

Nhưng theo chúng tôi, nếu không điều tra làm rõ hành vi phạm tội mà bị cáo tự khai nhận ra trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử về một hành vi phạm tội khác thì không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS là “Người phạm tội tự thú”, vì chúng ta không thể buộc họ phải chịu TNHS về các hành vi phạm tội mà họ tự khai nhận được (do chúng ta chưa chứng minh được hành vi phạm tội đó). Cho nên, trường hợp này, nếu trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử họ về tội phạm đang xét xử, người phạm tội “thật thà khai báo, ăn năn hối cải” thì có thể áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS, và trường hợp này mức độ được xem xét giảm nhẹ hình phạt là đáng kể hơn so với các trường hợp bình thường khác. Vì nếu đối với tội phạm đang bị xét xử, họ không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thì có thể suy luận rằng: những hành vi phạm tội mà họ tự khai nhận ra (tự thú) nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng không điều tra làm rõ được là sự tự khai nhận thiếu cơ sở. Ngược lại, nếu các cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, làm rõ được những hành vi phạm tội mà họ tự khai nhận ra thì dĩ nhiên là họ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS là “Người phạm tội tự thú” quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS.

Trên đây là một số vấn đề còn vướng mắc khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS “Người phạm tội tự thú” trong thực tiễn xét xử. Có thể thấy, Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 2/6/1990 của Bộ Nội vụ, VKSNDTC, TANDTC và BTP “Hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội tự thú” đã ban hành cách đây hơn 16 năm, khi đó đang áp dụng BLHS năm 1985 và BLTTHS năm 1988, nay theo chúng tôi Thông tư liên ngành 05/TTLN cũng cần phải được nghiên cứu, bổ sung, thay đổi để cho phù hợp với BLHS và BLTTHS hiện hành. Ngoài ra, liên ngành cấp trên cần có sự hướng dẫn, giải thích cụ thể các vấn đề còn vướng mắc nêu trên để việc áp dụng pháp luật được thống nhất và chính xác.

ThS. Bùi Thanh Lam

Theo: Tạp chí Nghề luật số 1/2008

About these ads
 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 64 other followers

%d bloggers like this: