RSS

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra

25 Tháng 10
Với sự ra đời của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, việc thực hành quyền công tố đã có một bước tiến bộ đáng kể trong hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, để đáp ứng tốt yêu cầu cải cách tư pháp, các quy định về thực hành quyền công tố cần tiếp tục được hoàn thiện. Bài viết dưới đây đưa ra một số quan điểm với mục đích đóng góp ý kiến nhằm hoàn thiện việc thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra.

Thực trạng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra

So với Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS) có xu hướng cải cách theo tinh thần áp dụng những hạt nhân hợp lý của loại hình tố tụng tranh tụng. Trong đó có một số quy định mới về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát (VKS) trong giai đoạn điều tra. Luật tố tụng hình sự của nước ta chưa quy định VKS chỉ đạo điều tra nhưng đã có tinh thần gắn kết công tố với điều tra. Bộ luật mới đã bổ sung cho VKS thẩm quyền quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra (CQĐT) (Xem hộp 1).

Hộp 1:Theo Điều 126 BLTTHS, trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can đó cho VKS cùng cấp để xét phê chuẩn việc khởi tố. Trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, VKS phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can và gửi ngay cho CQĐT. Trong trường hợp phát hiện có người đã thực hiện hành vi phạm tội chưa bị khởi tố thì VKS yêu cầu CQĐT ra quyết định khởi tố bị can. Sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra mà VKS phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố thì VKS ra quyết định khởi tố bị can. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can VKS phải gửi cho CQĐT để tiến hành điều tra. Điều 81 BLTTHS quy định về việc phê chuẩn lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp, trong trường hợp cần thiết, VKS phải trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn…
Mặc dù BLTTHS có những sửa đổi, bổ sung nội dung một số điều liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra nhưng hoạt động này chưa có những thay đổi căn bản (Xem hộp 2).

Hộp 2: Theo BLTTHS, một trong những căn cứ để CQĐT và VKS đình chỉ điều tra là hành vi không cấu thành tội phạm. Số liệu của Cục thống kê tội phạm thuộc VKSNDTC chỉ ra rằng, tình trạng đình chỉ điều tra của CQĐT và VKS trong 6 năm qua là khá lớn. CQĐT đình chỉ điều tra trong năm 1998 là 2.338 vụ; năm 1999 là 2.115 vụ; năm 2000 là 2.193 vụ; năm 2001 là 1.435 vụ; năm 2002 là 1.236 vụ; năm 2003 là 1.121 vụ. VKS đình chỉ điều tra trong năm 1998 là 2.774 vụ; năm 1999 là 2.358 vụ; năm 2000 là 2.608 vụ; năm 2001 là 1.240 vụ; năm 2002 là 895 vụ; năm 2003 là 811 vụ. 

Tỷ lệ các vụ án VKS trả lại hồ sơ cho CQĐT tương đối cao. Theo số liệu thống kê của VKSNDTC, trong thời gian từ 1/12/1998 đến hết ngày 31/5/2001, toàn ngành đã thụ lý kiểm sát điều tra 45.306 vụ với 212.159 bị can về các loại tội phạm, CQĐT đã kết thúc điều tra chuyển hồ sơ đến VKS đề nghị truy tố 119.895 vụ với 181.852 bị can. Sau khi nghiên cứu hồ sơ, VKS trả lại cho CQĐT 5.169 vụ = 4,31 % (Trong đó có 3.236 vụ = 62,6 % trả lại vì thiếu chứng cứ, 1.933 vụ = 37,39% trả lại vì thiếu thủ tục tố tụng và các lý do khác). ở một số địa phương, tỷ lệ này khá cao so với tỉ lệ chung như: Gia Lai 11%; Bến Tre 10,93%; Bình Định 8,91%; Quảng Nam 8,25%, Bình Dương 8%.1

Từ 1/12/2001 đến 30/11/2002, VKS các cấp đã thụ lý kiểm sát điều tra tổng số 64.560 vụ án /91.477 bị can về các loại tội phạm. Trong đó, CQĐT đã kết thúc điều tra chuyển đến VKS đề nghị truy tố 49.684 vụ /72.797 bị can. Sau khi nghiên cứu hồ sơ, VKS trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung 1.925 vụ /49.684 bị can = 3,87%(Trong đó: hoàn hồ sơ vì lý do chứng cứ 1.624 vụ = 84%, hoàn hồ sơ vì thủ tục tố tụng 301 vụ  = 16%).

Tỷ lệ này ở một số địa phương cũng cao hơn so với tỷ lệ bình quân cả nước như Kon Tum 16,12%, Khánh Hoà 11,20%, Thừa Thiên Huế 9, 25%, Tuyên Quang 8,76%, Bình Định 8%, Bắc Giang 5,72%, Thành phố Hồ Chí Minh 5, 59%, Bắc Cạn 5,57%…2

Từ 1/12/2002 đến 30/11/2003, VKSND các cấp thụ lý kiểm sát điều tra  66.310 vụ án hình sự / 99.622 bị can về các loại tội phạm. CQĐT đã kết thúc điều tra chuyển đến VKS đề nghị truy tố 52.564vụ / 82.012 bị can. VKS trả lại hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung: 1.908 vụ chiếm tỷ lệ 3,62%.

Một số địa phương tỷ lệ trả hồ sơ cao như: Thừa Thiên Huế 11,06%, Khánh Hoà 8,97%, Bến Tre 8,54%, Quảng Nam 8,36%, Tây Ninh 7,97%, Lào Cai 6,85%, Hải Dương 6, 45%, Phú Thọ 6, 28%

Những bất cập và nguyên nhân [1] [2]

Xem hộp 2 ta thấy, mặc dù pháp luật quy định VKS phải kiểm sát việc khởi tố, điều tra của CQĐT nhưng vì chưa có cơ chế pháp lý gắn kết cơ quan công tố với CQĐT nên VKS không thể kiểm sát được những trường hợp việc khởi tố vụ án của CQĐT không có căn cứ pháp lý và việc điều tra không đủ chứng cứ buộc tội bị can. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc CQĐT và VKS phải đình chỉ điều tra vụ án.

Mục đích của việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng  là nhằm đảm bảo việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội; đồng thời, khắc phục những thiếu sót về thủ tục tố tụng của hồ sơ vụ án. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc trả hồ sơ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng làm cho thời gian điều tra, truy tố, xét xử  bị kéo dài, thậm chí cũng có khi bị lạm dụng, xâm phạm đến quyền của bị can, bị cáo và những người có liên quan, gây bất bình và hoài nghi trong dự luận xã hội.

Việc trả hồ sơ vì những lý do cơ bản sau: thiếu những chứng cứ quan trọng: 1.570 vụ = 82%; có vi phạm hoặc thiếu về thủ tục tố tụng: 338 vụ =17,71%. [3]

Như vậy, căn cứ chủ yếu để VKS trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung là thiếu chứng cứ quan trọng mà VKS không thể tự mình bổ sung. Cụ thể, trong hồ sơ chưa xác định được hành vi, vai trò của người thực hiện tội phạm, động cơ gây án của bị can, căn cứ quy kết trách nhiệm hình sự của bị can, chưa thu giữ vật chứng… hoặc có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác; trong quá trình điều tra đã để lọt tội phạm, lọt hành vi phạm tội, hoặc khởi tố sai tội danh cần phải thay đổi quyết định khởi tố cho phù hợp với hành vi phạm tội.

Vấn đề đặt ra là, nguyên nhân dẫn đến việc VKS trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung do thiếu những chứng cứ quan trọng là gì? Vì VKS không được tham gia vào quá trình điều tra vụ án, cũng không quyết định và chỉ đạo được nội dung cần điều tra, mà kết quả điều tra lại được VKS sử dụng làm căn cứ cáo buộc bị can và làm cơ sở tranh luận, buộc tội bị can trước toà.

Điều tra là một khâu có tính quyết định trong toàn bộ quy trình tố tụng. Hoạt động công tố cũng như xét xử cũng chỉ là những hoạt động tiếp theo để tiếp tục đưa ra kiểm tra, đánh giá công khai kết quả của hoạt động điều tra, mà giai đoạn kết – hệ quả của hoạt động này là công tố – buộc tội hay không buộc tội. Vì vậy, hoạt động điều tra phải gắn kết mật thiết với hoạt động công tố, hoặc chí ít cũng phải dưới sự chỉ đạo của hoạt động công tố. Nếu không điều tra hoặc không trực tiếp chỉ đạo điều tra thì công tố viên không có điều kiện để kết tội. Nếu không trực tiếp điều tra hoặc không chỉ đạo điều tra thì khó có thể nắm nội dung của hành vi phạm tội [4]. “Xét về bản chất, hoạt động điều tra thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra nằm trong hoạt động công tố của Viện kiểm sát”[5]. Nếu như hoạt động điều tra nằm trong hoạt động công tố, cơ quan công tố phải trực tiếp điều tra, và trong trường hợp không điều tra thì phải trực tiếp chỉ đạo quyết định nội dung cần điều tra.

Trong khi đó, pháp luật nước ta tách hoạt động điều tra và công tố làm hai công đoạn khác nhau và do những chủ thể khác nhau đảm nhiệm. Mặc dù pháp luật quy định hoạt động điều tra phải đặt dưới sự kiểm sát của VKS nhưng, cơ quan công tố không chỉ đạo trực tiếp điều tra nên công tác kiểm sát điều tra rất khó thực hiện.

Các CQĐT hiện nay không trực thuộc VKS mà được tổ chức ở các Bộ Công an và Bộ Quốc phòng, hoạt động điều tra theo luật tố tụng hình sự nhưng lại chịu sự chỉ đạo về mặt hành chính của các Bộ. Cách tổ chức này không tạo ra sự ràng buộc giữa cơ quan công tố và CQĐT. Cho nên, cơ quan công tố không thể chỉ đạo nội dung điều tra theo hướng của mình mà việc điều tra vẫn theo sự chỉ đạo của cơ quan hành chính. BLTTHS quy định, VKS có quyền phê chuẩn các lệnh, quyết định của CQĐT như phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam… và phải chịu trách nhiệm về việc phê chuẩn đó. Điều này làm cho quyền công tố trở nên không thực quyền, bị đặt vào tình thế “sự đã rồi”, dẫn đến hệ quả là nhiều khi kết quả điều tra không phục vụ cho hoạt động công tố tạo ra sự cắt khúc giữa điều tra và công tố. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến các vụ án oan sai, án bị đình chỉ điều tra, án bị hoàn trả hồ sơ để điều tra bổ sung, kéo dài thời gian giải quyết vụ án, không đảm bảo chất lượng điều tra và công tố.

Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định: VKSND chịu trách nhiệm thực hiện việc thống kê tội phạm (Điều 5), nhưng Điều 101 BLTTHS lại quy định: cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra bằng văn bản. Như vậy, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân giao trách nhiệm thống kê tội phạm thuộc về VKS trong khi BLTTHS lại quy định tin báo tố giác tội phạm gửi đến cơ quan điều tra. Mặt khác, Điều 103 BLTTHS chỉ quy định VKS có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của CQĐT đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố chứ không quy định cụ CQĐT cung cấp đầy đủ tin báo tội phạm cho VKS. Do đó, việc thống kê tin báo tội phạm không có cơ sở để thực hiện.

Kiến nghị

Nhằm cải tiến mối quan hệ giữa công tố và điều tra, nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án, chúng tôi xin nêu một số kiến nghị như sau:

1 – Tách cơ quan điều tra ra khỏi các Bộ quản lý hành chính thành một hệ thống cơ quan điều tra dọc trực thuộc cơ quan công tố[6]. Theo đó, công tố chỉ đạo nội dung điều tra, đảm bảo kết quả điều tra phục vụ cho hoạt động công tố, hoạt động công tố không bị cắt khúc và có thực quyền.

2 – Quy định cơ quan công tố không chỉ kiểm tra, giám sát và phê chuẩn quyết định của cơ quan điều tra mà phải là cơ quan tự ra quyết định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định đó.

3 – Cụ thể hoá trách nhiệm của CQĐT trong việc thông báo về tin báo tố giác tội phạm cho cơ quan công tố. Căn cứ vào các nguồn tin báo tố giác tội phạm, cơ quan điều tra phải thông báo kịp thời cho cơ quan công tố. Tuỳ tính chất, mức độ của vụ việc, cơ quan công tố có quyền quyết định cần thiết phải tiến hành điều tra hay không, nếu điều tra thì nội dung điều tra thu thập những gì; còn cách thức và tổ chức điều tra là công việc của CQĐT.

4 – Trong quá trình điều tra, để đảm bảo cho việc điều tra đúng hướng theo yêu cầu của cơ quan công tố, CQĐT và điều tra viên có trách nhiệm cung cấp hồ sơ vụ án, các tài liệu điều tra, cũng như phải báo cáo về diễn biến của việc điều tra, kết quả điều tra cho cơ quan công tố và công tố viên. Cùng với điều này, pháp luật tố tụng hình sự cần quy định cho cơ quan công tố có quyền nhận xét về chất lượng của kết quả điều tra vì chính kết quả điều tra như là một sản phẩm được công tố viên sử dụng làm chứng cứ truy tố, và cáo buộc nghi phạm, sử dụng các kết quả điều tra đó để tranh tụng trước toà.

5 – Do có sự gắn kết điều tra với công tố  nên, khi đã điều tra xong thì cần có cáo trạng truy tố luôn. Không nên quy định phải có bản kết luận điều tra và sau đó lại phải có bản cáo trạng trong khi nội dung bản kết luận điều tra và bản cáo trạng không khác nhau bao nhiêu. Tuỳ từng trường hợp mà có thể quy định rút ngắn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam. /.

Chú thích:

[1] Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Báo cáo chuyên đề Nâng cao chất lượng công tác kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm hạn chế tình trạng trả hồ sơ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự (số liệu được lấy từ 1/12/1998 đến 31/5/2001),tr.2-3.

[2] Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Báo cáo chuyên đề Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm hạn chế tình trạng trả hồ sơ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự (số liệu được lấy từ 1/12/2001 đến 31/11/2002).

[3] Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Báo cáo kết quả thực hiện chuyên đề Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm hạn chế tình trạng trả hồ sơ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự (số liệu được lấy từ 1/12/2002 đến 30/11/2003), tr2.

[4] Nguyễn Đăng Dung, Một số vấn đề về cải cách tư pháp ở Việt Nam. In trong sách “Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2004, tr 44.

[5] Đỗ Ngọc Quang, in trong “Nhà nước và pháp luật Việt Nam trước thềm thế kỷ 21” của Khoa Luật -Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, năm  2000.

[6] ở Mỹ, Cục điều tra liên bang (FBI) là một bộ phận của Bộ Tư pháp mà Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng đồng thời là Tổng công tố.

Lý Văn Chính

Theo: Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 53, tháng 6/2005.

About these ads
 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 58 other followers

%d bloggers like this: