RSS

Khái niệm chứng cứ trong tố tụng hình sự: Nhìn từ góc độ lịch sử và luật so sánh

28 Tháng 10
Trong tố tụng hình sự, chứng cứ là cơ sở để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án. Vậy chứng cứ là gì? Tác giả trở về cội nguồn lịch sử của sự phát triển lý luận chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự và tiếp cận khái niệm chứng cứ dưới góc độ luật so sánh, liên hệ và đưa ra kiến nghị sửa đổi khái niệm chứng cứ trong Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành.

Lịch sử phát triển khái niệm chứng cứ

Từ  tố tụng buộc tội…

Tố tụng buộc tội (tố cáo) xuất hiện trong thời kỳ lịch sử cổ đại (phản ánh đậm nét ở luật tố tụng La Mã) được thực hiện theo nguyên tắc: “không có nguyên cáo thì không có quan tòa” [1]. Trong hình thức tố tụng này, chứng cứ không phải là những sự kiện, tình tiết nhằm để chứng minh chân lý mà là niềm tin của quan tòa vào tính đúng đắn hoặc hợp lý của một người nào đó tham gia cuộc tranh luận tại công đường. Việc khẳng định tính hợp lý (phù hợp) tương ứng với mức độ nhận thức của con người ở giai đoạn đó, dựa trên cơ sở tín ngưỡng, thậm chí là mê tín. Vì vậy, lời thề, ý trời được coi là chứng cứ quan trọng để xét xử tội phạm hình sự. Đương nhiên, khái niệm chứng cứ không được ghi nhận trong luật mà chỉ tồn tại trong niềm tin vào thần linh và quan điểm tôn giáo. Đấy là sự kiểm chứng duy nhất tính khách quan của loại chứng cứ này.

…và tố tụng thẩm vấn

Vào thế kỷ thứ XIII ở Pháp, thế kỷ thứ XVI ở Đức và một số nước châu Âu, hình thức tố tụng thẩm vấn được hình thành, phát triển. Nó xuất hiện lần đầu tiên trong pháp luật La Mã và biến mất cùng với sự sụp đổ của đế chế La Mã. Dưới ảnh hưởng của Tòa án Thiên chúa giáo (thế kỷ thứ XIII ở Pháp), tố tụng thẩm vấn (inquisitoir – sự thẩm tra), xuất hiện trở lại [2]. Đây là sự khởi nguồn của tố tụng viết – các bên cung cấp chứng cứ phải thông báo cho nhau biết. Theo đó, chứng cứ được hiểu là sự đệ trình của một cơ quan tố cáo – cụ thể là người đại diện cho cơ quan tố cáo xuất trình cho tòa án những chứng cứ để chứng minh cho sự tố cáo của mình nhằm duy trì sự tố cáo. Chứng cứ tồn tại với tính chất là phương tiện để chứng minh cho sự tố cáo của cơ quan tố cáo [3]. Đây là nền tảng cơ bản sau này liên quan đến quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.

Đến tố tụng tranh tụng

Tố tụng tranh tụng xuất hiện đầu tiên ở Hy Lạp cổ đại, sau đó, du nhập vào La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục” (Procedure des questions perpetuellés). ở đây, người đại diện cơ quan công tố có trách nhiệm thu thập chứng cứ và trình bày chứng cứ trước tòa để buộc tội.

Ngay từ thời kỳ đầu hình thànhN, tố tụng tranh tụng coi trọng tranh luận bằng lời nói công khai, trực tiếp tại tòa. Vì vậy, nhiều tài liệu, chứng cứ viết được coi là chứng cứ rất quan trọng trong tố tụng thẩm vấn thì trong tố tụng tranh tụng lại không được coi là chứng cứ. Để làm rõ vấn đề liên quan đến tài liệu đó, thông thường người viết tài liệu được mời tham gia tố tụng và trực tiếp trình bày tại tòa. Như vậy, chứng cứ được hiểu là phương thức một bên chứng minh trước tòa là mình đúng. Tức là bên nào thuyết phục được tòa án sẽ là bên thắng kiện chứ không phải bên vốn có sự thật ấy.

Chứng cứ dưới góc độ luật so sánh

Ở mỗi một quốc gia, trong luật tố tụng hình sự, theo từng truyền thống pháp luật, khái niệm chứng cứ luôn được đặt ra với ý nghĩa xuyên suốt quá trình chứng minh. Trên thế giới, có những nước xây dựng một đạo luật riêng về chứng cứ  (Mỹ, Úc); hoặc đưa khái niệm chứng cứ vào Bộ luật tố tụng hình sự (Nga, Trung Quốc); hay chỉ quy định những quy phạm xác minh chứng cứ (Nhật). Tuy nhiên, khái niệm chứng cứ được xác định thống nhất là mọi sự thật chứng minh tính chân lý của vụ án đều là chứng cứ, trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.

Quan điểm của hệ thống luật Anh – Mỹ

Trong hệ thống luật Anh – Mỹ, với điển hình của luật án lệ, các quy định của pháp luật chủ yếu hình thành thông qua quá trình xét xử tại tòa án và các phán quyết của thẩm phán. Vì vậy, tố tụng tranh tụng được coi là hình thức tố tụng xét xử đặc thù.

Nguyên tắc kiểm tra chéo N (cross examination), đối chất để xác định tính chính xác, tính có căn cứ của chứng cứ được đặc biệt coi trọng. Theo đó, trong quá trình xét xử, tòa án đóng vai trò là trọng tài quan sát các bên tranh tụng, bảo đảm quyền tranh tụng trước tòa cho cả bên buộc tội (công tố viên) và bên gỡ tội (các luật sư bào chữa). Việc đánh giá chứng cứ để đưa ra phán quyết cuối cùng dựa trên những tiêu chí hợp lệ của chứng cứ do pháp luật quy định.

Ở Úc, chứng cứ được hiểu là những gì được dùng để chứng minh sự tồn tại của một tình tiết thực tế nào đó trong các vụ án hình sự (theo Luật chứng cứ). Các sự kiện, tài liệu được sử dụng làm chứng cứ phải được thu thập, kiểm tra, đánh giá theo trình tự, thủ tục và những nguyên tắc nhất định theo quy định của Luật chứng cứ [4].

Điều 141 Luật chứng cứ liên bang Mỹ (Federal rules of evidence), có khái niệm về chứng cứ liên quan: “Chứng cứ liên quan là chứng cứ hàm chứa trong nó sự tồn tại của bất cứ một sự kiện nào là nguyên nhân nhân quả dẫn đến việc xác định rõ hơn hoặc ít rõ hơn một hành động đã xảy ra so với trường hợp không có chứng cứ” [5].

Như vậy, với truyền thống luật Anh -Mỹ, chứng cứ được hiểu là tất cả những gì được sử dụng trong việc chứng minh sự thật hoặc bác bỏ một vấn đề trong vụ án mà có ảnh hưởng đến sự có tội hoặc vô tội của bị can, bị cáo. Xem xét về bản chất của khái niệm chứng cứ trong hệ thống án lệ, chúng tôi thấy, khái niệm này thể hiện việc ưu tiên chứng cứ miệng hơn chứng cứ viết; lời khai của người làm chứng và của bị can, bị cáo được kiểm tra, đối chất với sự có mặt của thẩm phán và hội đồng xét xử (bồi thẩm đoàn) nhằm xác định hành vi phạm tội có xảy ra hay không, ai là người thực hiện hành vi phạm tội đó.

Quan điểm về chứng cứ trong hệ thống tố tụng xét hỏi

Một đặc trưng cơ bản của tố tụng xét hỏi là sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động tố tụng rất rõ. Trước khi xét xử, các cơ quan điều tra, truy tố phải điều tra, thu thập chứng cứ và sau đó hồ sơ được chuyển sang cho toà án để nghiên cứu, đánh giá chứng cứ chuẩn bị cho việc xét xử.

Trong Bộ luật Tố tụng hình sự Pháp, khái niệm chứng cứ không được quy định thành một điều luật cụ thể. Đối với mỗi giai đoạn tố tụng hình sự liên quan tới việc truy tìm của cảnh sát, việc điều tra hoặc giai đoạn xét xử, chứng cứ được quy định cụ thể (Xem Hộp 1).

Hộp 1: chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Pháp bao gồm 5 loại sau:

1. sự thừa nhận (aveu);

2. việc làm chứng: đây là loại chứng cứ được thu thập bởi cuộc điều tra (enquête) hoặc lấy lời khai;

3. chứng cứ viết: các tài liệu giấy tờ tạo nên một cấu thành tội phạm cụ thể, ví dụ như giấy tờ giả mạo, hoặc một hành vi đe doạ bằng giấy tờ, thư từ; các biên bản do cảnh sát thiết lập thông qua giai đoạn điều tra ban đầu sẽ có giá trị chứng minh; các thư từ cá nhân cũng có thể được sử dụng làm chứng cứ; các chứng cứ về hợp đồng;

4. kết luận giám định: việc sử dụng các kiến thức kỹ thuật của chuyên gia để kết luận về một vấn đề trong quá trình chứng minh (ví dụ: giám định tâm thần, kế toán tài chính, hoá học, vật lý, độc tố…). Giám định phải tuân theo một số nguyên tắc nhất định;

5. suy đoán và các dấu vết.

Việc dẫn chiếu một cách cụ thể các loại chứng cứ và các phương thức để xác định chứng cứ có ý nghĩa đề cao quyền của thẩm phán ở thủ tục xét hỏi trong tố tụng hình sự – một trong những đặc trưng cơ bản của thủ tục tố tụng này.

ở Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga, khái niệm chứng cứ được quy định bằng hai quy phạm trong một điều luật (Xem Hộp 2).

Hộp 2: Điều 74 Bộ luật tố tụng hình sự liên bang Nga quy định:

1. Quy phạm định nghĩa: “chứng cứ trong vụ án hình sự là bất kỳ những gì mà toà án, kiểm sát viên, dự thẩm viên, nhân viên điều tra ban đầu căn cứ vào đó theo thủ tục do Bộ luật này quy định để xác định có hay không có những tình tiết phải chứng minh trong quá trình tố tụng đối với vụ án, cũng như những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án “.

2. Quy phạm xác định nguồn chứng cứ: “chứng cứ bao gồm: lời khai của những người bị tình nghi, bị can; lời khai của người bị hại, người làm chứng; kết luận và lời khai của người giám định; vật chứng; biên bản các hoạt động điều tra và xét xử; những tài liệu khác “

Liên hệ với  tố tụng hình sự Việt Nam

Trước năm 1945

ở nước ta, với sự ra đời của Bộ Quốc triều khám tụng điều lệ hay còn gọi là Quốc triều từ tụng điều lệ (năm 1777, thời Lê Trung Hưng) – bộ luật tố tụng đầu tiên của Việt Nam, các quy định về vấn đề chứng minh để giải quyết vụ án lần đầu tiên đã xuất hiện. Sau này có Bộ Hoàng Việt luật lệ năm 1815, Bộ Hồng Đức thiện chính thư, Thiên Nam dư hạ tập, Lịch triều hiến chương loại chí, các sách án lệ Bắc Việt (1932-1936), án lệ Trung Việt v.v.. Mặc dù các quy phạm hướng dẫn chưa được chú ý, các chế tài cực kỳ nghiêm khắc như dùng xuy, trượng, đồ được áp dụng khá phổ biến nhưng qua đó, hình thức tố tụng đã được hình thành. Có thể nói, thời kỳ trước năm 1945 ở nước ta, chứng cứ được thể hiện cơ bản ở lời khai, lời thừa nhận của bị cáo với việc chứng minh trong các vụ án bằng các hình thức tra khảo, nhục hình… Nghĩa vụ chứng minh được trao cho hệ thống quan lại từ cấp làng, xã cho đến triều đình thực hiện. Tuy áp dụng các chế tài hết sức hà khắc nhưng các quy định về tố tụng thể hiện rõ nghĩa vụ của cơ quan công quyền trong thu thập chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội. Đây là điểm thể hiện sự kế thừa trong quy phạm định nghĩa về chứng cứ trong tố tụng hình sự nước ta hiện hành.

Trong tố tụng hình sự hiện nay

Khái niệm

Nhìn từ góc độ so sánh, cách quy định về chứng cứ tại Điều 64, Bộ luật Tố tụng hình sự nước ta (BLTTHS) năm 2003 tương đối giống với quy định hiện hành về chứng cứ trong Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga (Xem Hộp 3).

Hộp 3: Theo Khoản 1, Điều 64 BLTTHS, chứng cứ phải bảo đảm đầy đủ những thuộc tính sau: 1. tính khách quan: chứng cứ phải là những gì có thật. Đó là những sự vật, hiện tượng đã xảy ra, đã tồn tại trong thực tế khách quan, phản ánh đúng thực tế khách quan, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người. Chứng cứ là phương tiện để xác định sự thật của vụ án. Vì vậy, muốn xác định được sự thật khách quan thì chứng cứ phải đảm bảo tính khách quan;  2. tính liên quan: tính liên quan của chứng cứ được thể hiện trong mối liên hệ giữa chứng cứ với những vấn đề cần chứng minh trong vụ án. Nếu một sự vật, hiện tượng trực tiếp hay gián tiếp xác định tình tiết này hay tình tiết khác của đối tượng chứng minh thì sự vật, hiện tượng đó có liên quan đến vụ án. Không phải mọi sự vật, hiện tượng có thật nào cũng trở thành chứng cứ trong vụ án, chỉ có những gì ” mà các cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án ” mới liên quan đến vụ án và có thể là chứng cứ trong vụ án; 3. tính hợp pháp: tính hợp pháp là thuộc tính về hình thức của chứng cứ. Chứng cứ phải được thu thập theo trình tự luật định, từ những phương tiện chứng minh theo luật định. Quá trình chứng minh cũng phải được những người có thẩm quyền tiến hành theo đúng những quy định của pháp luật. Luật nghiêm cấm những việc làm trái pháp luật có thể ảnh hưởng đến giá trị chứng minh và giá trị pháp lý của chứng cứ như bức cung, mớm cung, dùng nhục hình v.v..Khoản 2K, Điều 64, BLTTHS năm 2003 quy định: chứng cứ được xác định bằng: a) Vật chứng; b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; c) Kết luận giám định; d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác “.

Việc xác định nguồn chứng cứ như trên dẫn đến những cách hiểu khác nhau: có quan điểm cho rằng, khái niệm chứng cứ có hai ý nghĩa: một là những sự kiện chứng minh; hai là đồng thời là phương tiện chứng minh (nguồn thông tin về sự kiện).Quan điểm này không phân biệt khái niệm chứng cứ với khái niệm phương tiện chứng minh. Quan điểm khác cho rằng, xuất phát từ quy định tại Điều 64, BLTTHS với 2 nội dung cơ bản: một là khái niệm chứng cứ với các thuộc tính của chứng cứ, hai là quy định về nguồn chứng cứ. Xét về kỹ thuật lập pháp, Khoản 1 quy định “chứng cứ là…”, Khoản 2 lại quy định “chứng cứ được xác định bằng..”, thực chất là cụ thể hoá và giải thích khái niệm. Tuy nhiên, điều này dễ dẫn đến sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm chứng cứ với nguồn chứng cứ hoặc là sự đồng nhất tất cả từ vật chứng; lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; kết luận giám định; biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu khác là chứng cứ. Do đó, chứng cứ được hiểu là những thông tin, sự kiện, hiện tượng đã được quy định, xác định là nguồn chứng cứ.

Theo chúng tôi, các quy định hiện hành đã thể hiện được vấn đề bản chất của chứng cứ và là căn cứ pháp lý cho việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự. Tuy nhiên, khái niệm trên vẫn chịu ảnh hưởng khá nhiều bởi tư duy lập pháp của các luật gia Xô Viết – tức là, đi từ dấu hiệu cơ bản đến xem xét và xác định chứng cứ. Điều này đặt ra những khó khăn nhất định khi nhận thức về vấn đề chứng cứ – một vấn đề mà xưa nay chúng ta vẫn quan niệm là tương đối trừu tượng và khó hiểu. Nhiều người chưa hiểu đúng về khái niệm chứng cứ mà vẫn đứng giữa ranh giới giữa khái niệm chứng cứ, khái niệm nguồn chứng cứ hay khái niệm phương tiện chứng minh. Với khái niệm: “chứng cứ là những gì có thật”, sự khẳng định này khá chung chung. Xét về mặt bản chất, chứng cứ là những tình tiết, sự kiện có thật “phản ánh sự thật khách quan” được dùng để chứng minh tính chân lý của vụ án chứ không phải là “sự thật khách quan”. Chứng cứ tồn tại dưới những dạng vật thể khác nhau của thế giới vật chất, là những thứ mà người ta phải cầm được, nắm được như các giấy tờ, tài liệu, các vật chứng liên quan đến vụ án… Trong những trường hợp đặc biệt, chứng cứ có thể được lưu giữ trong trí nhớ của con người. Do đó, chúng tôi cho rằng, cần chính xác hơn, cụ thể hóa hơn khi đưa ra một quy phạm định nghĩa “những gì có thật” là chứng cứ. Hiểu một cách bản chất, “chứng cứ chính là những tình tiết, sự kiện có thật phản ánh sự thật khách quan”.

Chủ thể thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ

Vấn đề này trong khoa học tố tụng hình sự có khá nhiều quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, khái niệm chứng cứ hiện hành vắng bóng chủ thể thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ. Quy định: “các cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án” là chủ thể của việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ là chưa đủ, còn thiếu chủ thể trực tiếp và chủ yếu trong quá trình chứng minh là điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán…

Quan điểm thứ hai cũng có ý kiến đồng nhất về sự thiếu vắng chủ thể trong khái niệm định nghĩa nhưng tiếp cận ở góc độ khác như: Việc quy định tại Khoản 1, Điều 64, Bộ BLTTHS rằng, chứng cứ là ” những gì có thật ” chỉ khi được cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội… là chưa đầy đủ, vì trong quá trình tiến hành tố tụng không chỉ có cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được sử dụng chứng cứ vào quá trình chứng minh mà tất cả những người tham gia tố tụng cũng có quyền đưa ra chứng cứ, sử dụng chứng cứ nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, đảm bảo sự thật khách quan.

Xét ở một khía cạnh đảm bảo sự bình đẳng giữa người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, quan điểm thứ hai dựa trên cơ sở:

- Tại các điều luật khác trong BLTTHS có quy định bị can, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan… đều có quyền đưa ra chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình.

- Lý luận chứng cứ trong tố tụng hình sự nước ta cũng như nhiều nước cũng không phủ nhận vai trò của những người tham gia tố tụng trong việc cung cấp chứng cứ, luật sư cũng có quyền thu thập chứng cứ.

Tuy nhiên, xuất phát từ tính đặc trưng của tố tụng hình sự là trách nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng nên chúng tôi cho rằng, không cần thiết phải đưa thêm chủ thể là những người tham gia tố tụng vào quy phạm định nghĩa. Việc quy định chủ thể theo khái niệm hiện hành là đủ nhằm làm nổi bật việc sử dụng chứng cứ để chứng minh tính chân lý của vụ án và ra những quyết định đúng pháp luật và có sức thuyết phục thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.

Hướng quy định này cũng tương đối đồng nhất với quan điểm về lý luận chứng cứ của các quốc gia khác.

Hướng sửa đổi khái niệm chứng cứ trong BLTTHS

Từ những phân tích và lý giải nêu trênT, theo chúng tôi, sẽ khoa học và hợp lý hơn nếu tách nội dung Điều 64, BLTTHS sửa đổi thành 2 điều luật cụ thể quy định về khái niệm chứng cứ và nguồn chứng cứ. Khái niệm chứng cứ cần cụ thể hóa và chuẩn xác hơn về nội hàm, nên chăng, có sự sửa đổi như sau: Chứng cứ trong vụ án hình sự là những tình tiết, sự kiện có thật phản ánh sự thật khách quan, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án dùng làm căn cứ để chứng minh tính chân lý của vụ án. /.

Chú thích:

[1] Vư –Sin -Ky, Lý luận chứng cứ tư pháp trong pháp luật Xô Viết, NXB Matxơcova, 1950, tr. 381.

[2] Nhà pháp luật Việt -Pháp, Một số nội dung của nguyên tắc tố tụng xét hỏi và tranh tụng, kỷ yếu hội thảo, ngày 18/1/2002.

[3] Cơ quan tố cáo nay còn được gọi là viện kiểm sát hay viện công tố.

[4] “Cross on Evidence”, David Byrne QC & I.D Heyden, 3rd Australian Edition, Butterworths 1986.

[5] Relevant evidence means evidence having any tendency to make the existence of any fact that is of consequence to the determination of the action more probable or less probable than it would be without the evidence. Federal rules of evidence – With advisory Committee Notes and legislative History, Christopher B. Mueller; Laird C. Kirkpatrick, edition 1997.


Nguyễn Văn Du

Theo: Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 53, tháng 6/2005

About these ads
 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 62 other followers

%d bloggers like this: