RSS

Một số vấn đề về tình tiết : Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng

08 Tháng 3

Khoản 4 Điều 104 Bộ luật Hình sự quy định : “Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân”

Sau khi Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực pháp luật, đã có nhiều văn bản hướng dẫn áp dụng Bộ luật Hình sự, trong đó có hướng dãn về tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác” quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên đối với khoản 4 Điều 104 Bộ luật Hình sự thì cho đến nay chưa có hướng dẫn, nhất là đối với trường hợp phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác. Do đó, thực tiễn xét xử hầu như các cơ quan tiến hành tố tụng rất ít áp dụng tình tiết này khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự. Trong một số trường hợp cụ thể khi cần phải thảo luận về tình tiết phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác để áp dụng khoản 4 Điều 104 Bộ luật Hình sự thì cũng còn ý kiến khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tr, Viện kiểm sát, Tòa án) và người tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán), nên cuối cùng giải pháp tốt nhất là không áp dụng tình tiết này nữa cho “an toàn”

Vừa qua, nhân có vụ án vợ chồng chủ trại tôm “Minh Đức” là Huỳnh Thanh Giang và Mã Ngọc Thơm ở huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau đã có hàn vi hành hạ giã man, tàn ác đối với cháu Hào Anh gây thương tích cho cháu với tỷ lệ thương tật gần 67%; dư luận xã hội rất bức xúc, nhiều cơ quan, cá nhân trong cả nước lên tiếng đòi trừng trị hành vi của Huỳnh Thanh Giang và Mã Ngọc Thơm. Tuy nhiên, khi trao đổi trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng có những ý kiến khác nhau về trường hợp phạm tội của vợ chồng Giang – Thơm có phải là phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại khoản 4 Điều 104 Bộ luật Hình sự hay không.

Tình tiết này là một tình tiết không phải ngay từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 đã được nhà làm luật quy định, mà khoản 3 Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 1985 chỉ mới quy định : “Phạm tội gây cố tật nặng hoặc dẫn đến chết người thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm”. Qua thực tiễn xét xử, vào năm 1987 ở tỉnh Hà Nam Ninh (cũ), nay là tỉnh Hà Nam xảy ra một vụ án gây xôn xao dư luận, đó là trường hợp : Phạm Văn C, do nhiều năm không nộp đủ mức khoán sản nên bị hợp tác xã thu bớt lại ruộng, C đã có những lời lẽ thô tục, xúc phạm Ban quản lý hợp tác xã để chém, nếu không hủy quyết định thu hồi ruộng, nhưng C không gặp đồng chí Chủ nhiệm ở trụ sở. Sau khi ở trụ sở Hợp tác xã nông nghiệp về, C biết đồng chí Chủ nhiệm hợp tác xã không có nhà nên nảy ý định trả thù bằng cách rạch mặt các con của đồng chỉ Chủ nhiệm, C về nhà lấy một con dao cau (loại dao mỏng, sắc chuyển để bổ cau) sang nhà đồng chí Chủ nhiệm. Tại nhà đồng chí Chủ nhiệm chỉ có ba cháu nhỏ là con của đồng chí Chủ nhiệm đang chơi với nhau, cháu lớn nhất 9 tuổi, nhỏ nhất mới 4 tháng tuổi; C liền dùng dao cứa nhiều nhát vào người, vào mặt cả ba cháu, làm các cháu bị thương. Nghe tiếng các cháu kêu khóc, mọi người trong xóm kéo đến thì thấy cả ba cháu trên người, trên mặt đầy máu nên đã đưa đi bệnh viện cấp cứu. Sau khi điều trị, kết luận giám định pháp y xác định tỷ lệ thương tật của ba cháu không đáng kể, cháu nặng nhất 5%, nhẹ nhất 3%. Khi xét xử vụ án này, Tòa án cũng chỉ áp dụng khoản 2 Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 1985 phạt Phạm Văn C 7 năm tù (là mức cao nhất của khung hình phạt). Dư luận xã hội không đồng tình, cho rằng pháp luật quá nương nhẹ đối với hành vi phạm tội của Phạm Văn C.

Từ vụ án này, khi Quốc hội có chủ trương sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 1985, Tòa án nhân dân tối cao đã đề nghị Quốc hội bổ sung tình tiết “Hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” vảo khoản 3 Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 1985. Trong tờ trình đề nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 1985, đã lấy vụ án trên làm ví dụ, nên đã được hầu hết các đại biểu Quốc hội đồng tình. Chính về vậy, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa VIII ngày 28-12-1989 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, trong đó bổ sung tình tiết phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” vảo khoản 3 Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 1985 để đáp ứng yêu cầu đấu tranh đối với những trường hợp phạm tội tương tự như vụ án trên. Tuy nhiên, chưa có văn bản chính thức nào hướng dẫn tình tiết phạm tội thuộc “phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác”. Qua theo dõi, chúng tôi cũng chưa thấy Tòa án nào áp dụng tình tiết này khi xét xử với bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác”

Đến năm 1993, tác giả được phân công làm chủ tọa phiên tòa phúc thẩm vụ án xảy ra trong Trại tạm giam của Công an tỉnh. Tại đây có một số tên được mệnh danh là “đầu gấu” trong trại. Khi có phạm nhân mới vào trại, chúng tổ chức đánh phủ đầu một vài trận, sau đó bắt hầu hạ, không cho ăn, phải nhường suất cơm cho chúng, chúng ăn còn thừa thì mứoi được ăn; người nhà gửi đồ tiếp tế vào, chúng băt sphải nộp hết cho bọn chúng; khi chúng ngủ phải ngồi quạt cho chúng, ai không nghe sẽ bị đánh đạp rất dã man; hơn thế, chúng còn cắt máu cá phạm nhân mới vào pha nước để uống thay rượu nhằm uy hiếp các phạm nhân mới. Hành vi của chúng kéo dài hơn một năm mới bị phát hiện; nhiều nạn nhân đã chuyển trại, đã chấp hành xong hình phạt tù về làm ăn sinh sống ở nhiều địa phương khác nhau, nên Cơ quan điều tra không triệu tập được hết để lấy lời khai và giám định tỷ lệ thương tật. Tuy nhiên, vẫn còn gần mười nạn nhân xác định được địa chỉ và đưa đi giám định thì tỷ lệ thương tật cao nhất cũng chỉ 9% còn người thấp nhất có 1%. Vụ án này cũng gây bất bình trong dư luận, vì trong thời gian này có nhiều trại giam cũng xảy ra tình trạng có bọn “đầu gấu”; ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến công tác quản lý các Trại giam, đòi hỏi phải trừng trị nghiêm khắc những tên “đầu gấu” trong trại. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án cấp sơ thẩm cũng chỉ áp dụng khoản 2 Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 1985 (đã được sửa đổi, bổ sung) đối với hành vi phạm tội của các bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương cũng thấy mức án đối với các bị cáo như vậy là chưa nghiêm, nhưng còn ý kiến khác nhau về trường hợp phạm tội của các bị cáo phải là “phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” hay không, nên đã đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát tỉnh kháng nghị bản án hình sự sơ thẩmđể Tòa án cấp phúc thẩm xem xét áp dụng tình tiết “phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” để tăng hình phạt đối với các bị cáo. Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án này, cũng như kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là vô cùng nghiêm trọng nên đã chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, chuyển từ khoản 2 lên khoản 3 Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 1985 với tình tiết định khung hình phạt là “phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” và tăng hình phạt đối với tất cả các bị cáo; bị cáo bị phạt cao nhất là 18 năm tù, nhẹ nhất là 10 năm tù. Sau khi xét xử vụ án này, cũng có nhiều ý kiến cho rằng Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng tình tiết phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” là không chính xác. Thay mặt Hội đồng xét xử, tôi có báo cáo với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xét lại bản án cấp phúc thẩm và đề nghị xem xét có kháng nghị với thủ tục Giám đốc thẩm hay không, vì nếu bản án cấp phúc thẩm bị kháng nghị thì Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử giám đốc thẩm, quyết định giảm đốc thẩm giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là quyết định cuối cùng. Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và bản án hình sự phúc thẩm này, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã không kháng nghị. Từ đó đến nay, thực tiễn xét xử chúng tôi cũng chưa thấy Tòa án nào áp dụng tình tiết phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” khi xét xử các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Khi thông qua Bộ luật Hình sự năm 1999, Quốc hội vẫn quy định tình tiết phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác”đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng quy định tại khoản 4 của Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Vậy hiểu thế nào là phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác quy định tại khoản 4 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Đây là vấn đề không đơn giản, không phải vì chưa có giải thích hoặc hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền, mà nội dung tình tiết phạm tội này cũng khá đặc biệt. Do đó, để có thể tìm ra được những dấu hiệu của tình tiết này, thiết nghĩ chúng Tòa án cũng cần phải nghiên cứu các trường hợp khác mà nhà làm luật cũng quy định tình tiết “đặc biệt nghiêm trọng”.

Ngoài tình tiết phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” quy định tại khoản 4 Điều 104 Bộ luật Hình sự và một số tội phạm khác như tội : Làm chết người trong khi thi hành công vụ (khoản 2 Điều 97); tội cố ý gây thương hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (khoản 2 Điều 105), thì một số tội trong Bộ luật Hình sự nhà làm luật quy định tình tiết “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”. Ví dụ : Khoản 3 Điều 116 – Tội dâm ô với trẻ em; khoản 4 Điều 133 – Tội cướp tài sản; khoản 4 Điều 134 – Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; khoản 4 Điều 135 – Tội cưỡng đoạt tài sản; khaonr 4 Điều 136 – Tội cướp giật tài sản; khoản 4 Điều 137 – Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản; khoản 4 Điều 138 – Tội trộm cắp tài sản; khoản 4 Điều 139 – Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản … hoặc tình tiết “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác”. Ví dụ : Khoản 3 Điều 165 – Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng; khoản 4 Điều 197 – Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; khoản 4 Điều 200 – Tội cưỡng bức, lôi kéo ngừoi khác sử dụng trái phép chất ma túy … hoặc “Phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng”. Ví dụ : Khoản 2 Điều 88 – Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; khoản 2 Điều 91 – Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; khoản 2 Điều 175 – Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng; khoản 3 Điều 181 – Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác …

Có ý kiến cho rằng, khoản 4 Điều 104 Bộ luật Hình sự quy định “Phmạ tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” nên “Phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” cũng phải tương đương với trường hợp dẫ đến chết nhiều người (hai người trở lên). Ví dụ : Làm chết một ngừoi và làm bị thương nhiều người, mà ngừoi này đều tỷ lệ thương tật trên 60% hoặc gây chết một người và còn gây thương tích cho rất nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của người bị thương ciingj lại từ 100% trở lên.

Ý kiến trên chủ yếu căn cứ vào hậu quả do hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác gây ra, nhưng phải nghiêm trọng hơn trường hợp quy định tại khoản 3 điều luật. Quan điểm này hoàn toàn có lý nếu nhà làm luật quy định “Hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 104 Bộ luật Hình sự quy định : “Trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” chứ không phải “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” hoặc “Hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác”. Ngay cả khi nhà làm luật quy định “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” hoặc “Hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác” thì cũng không chỉ căn cứ vào thiệt hại về sức khỏe của nạn nhân mà còn bao gồm các thiệt hại khác nữa. Khi hướng dẫn tình tiết “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” trong một số tội phạm, các cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương nêu tiêu chí xác định trường hợp nào là “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, nhưng vẫn phải nêu : “Ngoài các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản, thì thực tiễn chó thấy có thể còn có hậu quả phi vật chất, như ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, gây ảnh hưởng về an ninh, trật tự, an toàn xã hội … Trong các trường hợp này phải tùy vào từng trường hợp cụ thể để đánh giá mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”(1)

Việc nhà làm luật quy định “Phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” là đã dự liệu trong thực tế, người phạm tội chưa gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thậm chí chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng, nhưng tính chất của hành vi là đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, tình tiết “Phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” là tình tiết thuộc tính chất nghiêm trọng của hành vi chứ không phải tình tiết thuộc về mức độ nghiêm trọng của hành vi, nên nó không phụ thuộc vào những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

Việc xác định trường hợp phạm tội nào là trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác đối với tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏa cho người khác” là một vấn đề không đơn giản. khó có thể đưa ra một tiêu chí hay một đại lượng chung cho tất cả các trường hợp phạm tội, bởi lẽ mỗi vụ án có các dấu hiệu chủ quan, khách quan; nhân thân của người phạm tội và người bị hại khác nhau; các yếu tố khác liên quan đến đạo đức xã hội, đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội … ở nơi xảy ra vụ án cũng khác nhau.

Chính vì vậy, cho đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương chưa hướng dẫn được về tình tiết “Phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác”. Nhưng không vì thế mà cho rằng, chưa có hướng dẫn thì chưa được áp dụng. Một vấn đề có tính nguyên tắc, nhưng rất ít ai chú ý đó là : Khi các cơ quan Nhà nước có trách nhiêm chưa giải thích hoặc hướng dẫn về các dấu hiệu mà các nhà làm luật quy định trong Bộ luật Hình sự thì cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng khi điều tra, truy tố, xét xử vụ án cụ thể là người có toàn quyền đánh giá, xác định các dấu hiệu cấu thành tội phạm cũng như các tình tiết khác có liên quan đến vụ án, trong đó có tình tiết “Phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” quy định tại khoản 4 Điều 104 Bộ luật Hình sự. Tất nhiên việc đánh giá, xác định của cơ quan tiến hành tố tụng và ngừoi tiến hành tố tụng phải có căn cứ, phù hợp với tính chất của hành vi mà người phạm tội thực hiện, phù hợp với tình hình đấu tranh phòng, chống tội phạm và yêu cầu chính trị ở địa phương, được nhân dân đồng tình.

Để xác định chính xác tình tiết “Phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” quy định tại khoản 4 Điều 104 Bộ luật Hình sự, thông qua thực tiễn xét xử và nghiên cứu các quy định của Bộ luật Hình sự chúng tôi xin trao đổi về tình tiết này như sau :

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự, ngoài tỷ lệ thương tật và tính mạng (dẫn đến chết người) do hành vi phạm tội gây ra, nhà làm luật còn quy định nhiều tình tiết khác có ý nghĩa làm tăng trách nhiệm hình sứ của người phạm tội như :

- Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm (khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự)

- Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn  đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm (khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự).

Tuy nhiên, tại khoản 4 Điều 104, nhà làm luật không quy định như khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật, mà chỉ quy định : “Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác”, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân. Phải chăng, nhà làm luật coi trường hợp “Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” là trường hợp phạm tội dẫn đến chết một người, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104? Mặc dù chưa có giải thích hoặc hướng dẫn nhưng theo chúng tôi chắc chắn không phải như vậy, vì nếu nhà làm luật có ý đó thì không khó khăn gì mà không quy định : “Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc dẫn đến chết một người, nhưg thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 điều này”. Mặt khác, nếu hiểu như vậy, thì có nhiều trường hợp khó lý giải như : Trường hợp chỉ dẫn đến chết một người nhưng còn gây thương tích cho người khác mà tỷ lệ thương tật cho người này là 95% thì áp dụng các khoản nào của Điều 104 hoặc gây chết một người và còn gây thương tích cho nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những ngừoi bị hại cộng lại trên 100% …

Như vậy, nhà làm luật quy định “Phạm tội trong trương fhợp đặc biệt nghiêm trọng khác” là quy định một dấu hiệu độc lập, thuộc về tính chất nghiêm trọng của hành vi, không phụ thuộc vào các dấu hiệu được quy định tại khoản 1, khoản 2 hoặc khoản 3 điều luật. Tuy nhiên, khi xem xét, đánh giá hành vi phạm tội có thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng hay không thì không thể không xem xét kết hợp các tình tiết khác mà nhà làm luật đã quy định là dấu hiệu định tội, định khung hình phạt tại Điều 104 Bộ luật Hình sự. Tính chất đặc biệt nghiêm trọng của hành vi phụ thuộc vào phương pháp, phương tiện, thủ đoạn, động cơ, mục đích của người phạm tội; vào nhân thân của người phạm tội và tình trạng của người bị hại; vào tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội xảy ra ở nơi xảy ra vụ ánvà dư luận xã hội đối với hành vi của ngừoi phạm tội …

Thực tiễn xét xử cho thấy, hành vi dùng axit gây thương tích cho người khác là hành vi vô cùng nghiêm trọng, nó không chỉ gây đau đớn cho nạn nhân và gây dị tất suốt đời, dúng axit gây thương tích cho người khác, người phạm tội đã dùng phương pháp và thủ đoạn vô cùng đã man và tàn ác.

Ví dụ : Nguyễn Hoàng A là một con nghiện, thường xuyên hành, đánh đập vợ con, trong nhà có tài sản gì, A đều đem bán lấy tiền sử dụng ma túym nhiều lần chị M (vợ của A) phải bế con về nhà để tránh những trận đòn của A; Tổ dân phố , Hội phụ nữ và các đoàn thể đã góp ý cho A, nhưng A vẫn không tiếp thu; chính quyền đại phương đã đưa A vào Trại cai nghiện nhứngau khi ra trại A đã tái nghiện, chị M và các con lại phải thường xuyên chịu đựng những trận đòn của A mỗi khi A “đói thuốc”. Chịu không được, chị M đã làm đơn xin ly hôn với A. Do không đồng ý ly hôn với chị M, A đã chuẩn bị một lọ axit chờ lúc chị M ngủ, A đã đổ axit vào mặt, vào ngực và bộ phận sinh dục của chị M làm chị M bỏng nặng, tỷ lệ thương tật là 95%. Hành vi dùng axit của A đối với chị M là hành vi dã man, tàn ác; không chỉ làm cho chị M bị đau đớn, cố tật nặng suốt đời, hành vi của A đã gây xôn xao dư luận, đòi hỏi phải trừng trị thật nghiêm khắc.

Gần đây, có trường hợp mà dư luận cũng xôn xao, đó là trường hợp nữ Thẩm phán bị tạt axit chỉ vì đã xét xử đúng pháp luật, không đáp ứng các yêu cầu phi lý của đương sự. Khi truy tố hành vi tạt axit của bị can đối với nữ Thẩm phán đã có nhiều ý kiến đề nghị phải coi trường hợp này là đặc biệt nghiêm trọng  theo khoản 4 Điều 104 Bộ luật Hình sự, nhưng không được chấp nhận.

Hành vi tạt axit gây thương tích cho nạn nhân là hành vi đặc biệt nguy hiểm, những năm 1980 của thế kỷ trước trong các báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao tại các hội gnhị tổng kết đã coi hành vi này là hành vi đặc biệt nghiêm trọng, có đồng chí lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao còn cho rằng phải xét xử bị cáo có hành vi tạt axit về tội giết ngừoi mới thỏa đáng. Năm tháng trôi qua, những vụ tạt axit gây đau đớn cho nạn nhân vẫn chưa được tổng kết, hướng dẫn. Riêng cá nhân tác giả, không phải tất cả các vụ tạt axit đều coi là phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác theo khoản 4 Điều 104 Bộ luật Hình sự, nhưng trường hợp Nguyễn Hoàng A và trường hợp nữ Thẩm phán mà chúng tôi nêu trên phải coi là trường hợp thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 4 Điều 104 Bộ luật Hình sự.

Ngoài hành vi dùng axit gây thương tích cho nạn nhân, các hành vi tra tấn nạn nhân như kiểu tra tấn Trung cổ làm cho nạn nhân tàn phế suốt đời; hành vi hành hạ, đánh đập trẻ em là con, cháu hoặc là người giúp việc, ngừoi làm công … dẫn đến những thương tật cugnx phải coi là phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác.

Tóm lại, để xác định hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi “Phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” quy định tại khoản 4 Điều 104 Bộ luật Hình sự phải xem xét, đánh giá một cách toàn diện các tình tiết của vụ án  liên quan đến tính chất nghiêm trọng của hành vi mà người phạm tội thực hiện, không chỉ căn vào những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe mà người phạm tội gây ra cho nạn nhân.

 

Chú thích :

(1) Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn về trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đối với các tội xâm phạm sở hữu và tại Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng do hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

 

Đinh Văn Quế

Theo : Tạp chí TAND kỳ I tháng 09-2010 (Số 17)

About these ads
 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 62 other followers

%d bloggers like this: