RSS

Đấu tranh phòng chống tội mua bán phụ nữ và trẻ em ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

05 Tháng 5

     Nhiều hội nghị và hội thảo khoa học ở phạm vi khu vực và quốc tế trong những năm gần đây đã khẳng định vấn đề mua bán phụ nữ và trẻ em – một hình thức nô lệ hiện đại đang ngày càng gia tăng một cách đáng kể ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Đây không còn là vấn đề riêng biệt của mỗi nước mà nó đã mang tính toàn cầu, thu hút sự quan tâm của nhiều chính phủ, nhiều tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ trên thế giới. Hiện tượng xã hội tiêu cực này liên quan đến nhiều vấn đề trước hết là vấn đề di dân, vấn đề chuyển dịch lao động trên thị trường quốc tế và trong mỗi quốc gia theo hướng từ các nước nghèo sang các nước phát triển, từ nông thôn ra các thành phố và các khu công nghiệp. Hiện tượng này cũng liên quan đến sự phân công lao động giới không bình đẳng. Hầu như ở mọi nơi, phụ nữ đều khó tìm việc làm hơn so với nam giới, họ thường là nguồn nhân công rẻ mạt ở các khu sản xuất không chính quy, lao động mang tính dịch vụ. Mua bán phụ nữ và trẻ em thường gắn liền với các hành vi xuất, nhập cảnh trái phép, mại dâm, lạm dụng tình dục và bóc lột lao động, trong đó mua bán phụ nữ và trẻ em nhằm mục đích mại dâm chiếm tỉ lệ đáng kể.

     Ở Việt Nam, cùng với sự tăng trưởng không ngừng về kinh tế, sự ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng, mức sống của người dân được nâng cao, các hoạt động xã hội từ thiện được mở rộng và phát triển do sự tác động tích cực của công cuộc đổi mới cơ chế quản lí kinh tế và chính sách mở cửa thì một số tệ nạn xã hội đã phát sinh, phát triển do tác động tiêu cực của nó trong đó có tệ nạn mua bán phụ nữ và trẻ em. Nhìn một cách tổng quan có thể nói rằng hiện tượng này ở Việt Nam chưa phải là căn bệnh trầm kha, chưa phải là điểm nóng như ở một số nước khác trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, nó vẫn là vấn đề bức xúc, nhức nhối và đáng quan tâm, lo âu của toàn xã hội.

     Cho đến nay, chưa có số liệu chính xác về số tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam cũng như những nạn nhân của nó. Tuy nhiên, qua một số cuộc điều tra xã hội học ở một số vùng trọng điểm, qua công tác xét xử, qua dư luận quần chúng và các phương tiện thông tin đại chúng mọi người đều thấy tính phức tạp và mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Hiện tượng này đã và đang diễn ra cả trong và qua biên giới với những hình thức quy mô khác nhau.

     Ở trong nước, nạn nhân của hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em thường là những đối tượng mà trước đó được di chuyển từ nông thôn ra thành phố, từ thành phố vào các tụ điểm làm gái mại dâm, phục vụ trong các nhà hàng, khách sạn… Ở khu vực biên giới, hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em được diễn ra chủ yếu ở 3 tuyến chính. Tuyến biên giới Việt Nam – Trung Quốc bao gồm các tỉnh Lạng Sơn, Lào Cai, Hà Giang và Quảng Ninh. Tuyến biên giới Việt Nam – Lào bao gồm các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Khánh Hoà. Tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia bao gồm các tỉnh An Giang, Tây Ninh, Sông Bé và Kiên Giang. Theo số liệu của Cục phòng chống tệ nạn xã hội thuộc Bộ lao động, thương binh và xã hội thì số nạn nhân là phụ nữ và trẻ em bị mua bán trong nước chiếm khoảng 30% tổng số phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị mua bán.

     Nạn nhân của các vụ mua bán này phần lớn là những phụ nữ và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, không có việc làm hoặc việc làm không ổn định, gia đình trắc trở. Một số khác lại do bị ép buộc bán bởi chính cha mẹ mình hám tiền. Bên cạnh đó cũng có một bộ phận bị bạn bè thậm chí người thân dụ dỗ, lừa dối đi kiếm sự giàu sang ở những vùng đất hứa… Song điểm chung nhất rất dễ nhận thấy ở các nạn nhân là trình độ văn hoá thấp, kém hiểu biết và ít có năng lực làm chủ và tự bảo vệ mình.

     Theo các báo cáo của Cục cảnh sát hình sự Bộ công an về thực trạng tình hình mua bán phụ nữ và trẻ em thì từ năm 1997 đến năm 2002 đã phát hiện 1.595 trường hợp phụ nữ và trẻ em bị mua bán, trong số đó chủ yếu là bị bán sang Trung Quốc, Campuchia và một số nước khác trong khu vực.

     Cũng theo kết quả điều tra mới đây của Bộ lao động, thương binh và xã hội thì nạn nhân của loại tội phạm này đã được phát hiện và xử lí còn khác rất xa với thực tế. Cũng đồng ý với quan điểm trên, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng số nạn nhân cũng như số vụ phạm tội của loại tội phạm này đã được phát hiện và xử lí chỉ là 1/3. Số còn lại vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà chúng ta chưa phát hiện và xử lí được.

     Trong số 704 đối tượng là nạn nhân được điều tra thì tỉ lệ phân theo độ tuổi được xác định như sau: Dưới 16 tuổi chiếm 6,25%; từ 16 – 17 tuổi chiếm 6,25%; từ 18 – 25 tuổi chiếm 57,1%; từ 26 tuổi trở lên chiếm 30,4%.

     Như vậy, nếu xét theo nhóm tuổi thì nạn nhân ở độ tuổi từ 18 đến 25 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất (57,1%). Con số này cũng hoàn toàn phù hợp với con số về độ tuổi của gái mại dâm theo điều tra của Cục phòng chống tệ nạn xã hội. Điều này một lần nữa khẳng định hoạt động mua bán phụ nữ và trẻ em chủ yếu nhằm mục đích mại dâm.

     Một vấn đề khác được đặt ra nghiên cứu là số lượng nạn nhân có nguồn gốc xuất thân được phân bố theo các vùng như thế nào? Kết quả điều tra cho thấy, số nạn nhân có nguồn gốc xuất thân tập trung chủ yếu ở nông thôn chiếm 75,14% (trên phạm vi toàn quốc). Thực trạng phân bố này cũng phù hợp với kết quả điều tra của một số tỉnh cụ thể là:

     Quảng Ninh số nạn nhân xuất thân từ nông thôn là 81,48%; Long An 60%; Đồng Tháp 80,67%; Kiên Giang 69,23%; Nam Định 97,53%; Lạng Sơn 75,7%; An Giang 65,83%.

     Theo số liệu của Tổng cục cảnh sát nhân dân thì có khoảng 70,64% nạn nhân là phụ nữ không nghề nghiệp và khoảng 22,15% đang làm các công việc như làm hợp đồng ngắn hạn cho các công ti, xí nghiệp, tiếp viên, mua bán nhỏ, sinh viên… số còn lại có công việc tạm ổn định. Cũng theo kết quả điều tra này cho thấy, số nạn nhân của tệ nạn mua bán phụ nữ và trẻ em có trình độ văn hoá, chuyên môn thường là rất thấp. Cụ thể: Không biết chữ chiếm 19,03%; có trình độ tiểu học 43,47%; có trình độ trung học cơ sở 29,83%; có trình độ trung học phổ thông 6,53% và có trình độ đại học, cao đẳng 1,14%.

     Nếu so sánh giữa 2 miền: Miền Nam và miền Bắc thì có thể nhận thấy số nạn nhân ở miền Nam có tỉ lệ không biết chữ khá cao: 30,9%; trong khi tỉ lệ này ở miền Bắc là 2,39%. Tương tự như vậy, nếu xem xét giữa khu vực đô thị và nông thôn thì tỉ lệ người không biết chữ ở nông thôn cao hơn ở đô thị rất nhiều, thứ tự tỉ lệ này là 28,94% và 4,26%. Từ trình độ văn hoá thấp và sự kém hiểu biết như vậy đã dẫn đến tình trạng họ dễ bị bọn tội phạm lừa đảo, dụ dỗ. Đây chính là một trong những nguyên nhân sâu xa khiến họ trở thành nạn nhân của tệ nạn mua bán phụ nữ và trẻ em nhằm mục đích mại dâm.

     Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội mua bán phụ nữ và trẻ em trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi không chỉ nâng cao công tác điều tra, truy tố, xét xử mà còn phải chỉ ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội của loại tội phạm này, từ đó tìm ra những giải pháp có tính khả thi nhằm đấu tranh phòng chống tội mua bán phụ nữ và trẻ em một cách có hiệu quả.

     Qua nghiên cứu tình hình tội phạm của tội mua bán phụ nữ và trẻ em ở nước ta trong thời gian qua, chúng tôi thấy nổi lên một số nguyên nhân và điều kiện phạm tội chủ yếu sau đây:

     Thứ nhất, trong những năm qua, tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến động lớn về chính trị, kinh tế – xã hội. Xu thế toàn cầu hoá trên nhiều lĩnh vực đang diễn ra mạnh mẽ. Ở trong nước, nền kinh tế đã đạt được sự tăng trưởng đáng kể, sự giao lưu quốc tế về văn hoá – xã hội và nhiều mặt khác cũng ngày càng phát triển đã kéo theo sự gia tăng, nhiều loại tội phạm trong đó có tội mua bán phụ nữ và trẻ em.

     Thứ hai, điều kiện chính trị – xã hội và quan điểm về đấu tranh phòng chống tệ nạn mại dâm của các quốc gia trong khu vực còn có sự khác nhau, nhu cầu về gái mại dâm thì ngày một gia tăng cho nên trong thời gian gần đây ở các nước này đã hình thành thị trường mại dâm liên quốc gia và phát triển khá mạnh mẽ như Thái Lan, Trung Quốc, Campuchia và một số nước khác… Do đó, có thể nói đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm phát sinh và phát triển các tổ chức tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em nhằm mục đích mại dâm xuyên quốc gia.

     Thứ ba, sự khó khăn về kinh tế, sự lạc hậu về nhận thức của một bộ phận dân cư, đặc biệt là số phụ nữ và trẻ em ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa đã bị bọn tội phạm buôn người lợi dụng một cách triệt để nhằm thực hiện hành vi phạm tội của mình thông qua các thủ đoạn hết sức tinh vi như dịch vụ nhận con nuôi, dịch vụ hôn nhân, dịch vụ tìm việc làm hoặc tham quan du lịch… Thực tế này cũng là một trong những nguyên nhân của tình hình tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em.

     Thứ tư, việc mua bán phụ nữ và trẻ em cũng như kinh doanh trên thân xác của họ có thể thu được siêu lợi nhuận, chỉ thua lợi nhuận thu được từ buôn bán vũ khí và mua bán ma tuý bất hợp pháp vì nạn nhân của loại tội phạm này có thể mua đi bán lại nhiều lần mà rủi ro lại thấp và nếu có bị phát hiện thì hình phạt áp dụng đối với người phạm tội cũng không nghiêm khắc bằng các tội phạm về ma tuý hoặc buôn lậu. Đây cũng là lí do góp phần thúc đẩy tội mua bán phụ nữ và trẻ em phát triển nhanh trong những năm gần đây.

     Thứ năm, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức cho người dân nhất là ở các vùng sâu, vùng xa chưa thật tốt. Các phương thức, thủ đoạn hoạt động của bọn tội phạm buôn người cũng chưa được các cơ quan có trách nhiệm thông tin kịp thời đến từng gia đình, cộng đồng dân cư để mọi người cảnh giác cũng như chủ động trong đấu tranh phòng chống loại tội phạm này.

     Thứ sáu, việc thiếu cơ sở pháp lí trong hợp tác đấu tranh phòng chống tội mua bán phụ nữ và trẻ em với các nước đã gây khó khăn cho việc phối hợp giữa công an Việt Nam với cảnh sát các nước trong việc điều tra, thu thập chứng cứ cũng như truy bắt đối tượng phạm tội.

     Thứ bảy, việc tổ chức tái hoà nhập cộng đồng cho những nạn nhân của tội mua bán phụ nữ và trẻ em làm chưa thật tốt. Nhiều nạn nhân của loại tội phạm này khi trở về sức khoẻ bị giảm sút, bị bệnh tật và không có việc làm, lại bị gia đình và xã hội xa lánh. Sẵn có tâm lí mặc cảm với quá khứ của mình, cộng thêm những khó khăn trước mắt, do đó họ dễ bị bọn tội phạm lợi dụng thêm một lần nữa hoặc chính họ lại là người chủ động trở thành nạn nhân của hành vi phạm tội này.

     Trước diễn biến phức tạp của tội mua bán phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam hiện nay cả về số vụ phạm tội, quy mô phạm tội cũng như số người tham gia thực hiện hành vi phạm tội, chúng tôi cho rằng để đấu tranh phòng chống loại tội phạm này một cách có hiệu quả, chúng ta cần phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp mà trước hết là một số biện pháp sau đây:

     Thứ nhất, cần phát triển kinh tế, mở rộng chương trình dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân nhằm mục đích xoá đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các tỉnh, giữa nông thôn và thành phố để hạn chế và tiến tới xoá bỏ tệ nạn phát sinh từ tội ác mua bán phụ nữ và trẻ em. Sự mất cân bằng trong nền kinh tế, sự chênh lệch về giàu nghèo, văn hoá là những nguyên nhân khách quan chủ yếu của loại tội phạm này. Do đó, để hạn chế và tiến tới loại trừ tội mua bán phụ nữ và trẻ em khỏi đời sống xã hội thì phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo là việc làm quan trọng nhất.

     Thứ hai, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về đấu tranh phòng chống tội mua bán phụ nữ và trẻ em cho người dân. Thông tin và phổ biến một cách kịp thời những thủ đoạn của bọn tội phạm buôn người, nguy cơ trở thành nạn nhân và hậu quả do hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em gây ra đến từng người dân, từng gia đình và toàn xã hội để tăng khả năng tự bảo vệ mình của người phụ nữ đồng thời chỉ cho họ thấy các biện pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ một khi họ trở thành nạn nhân bị đem bán. Quản lí chặt chẽ hộ khẩu, làm tốt công tác khai báo tạm trú, tạm vắng và đặc biệt là quản lí chặt chẽ công tác xuất nhập cảnh.

     Thứ ba, mọi người dân cần tham gia phát hiện, ngăn chặn tình trạng mua bán phụ nữ và trẻ em ngay tại cộng đồng đồng thời liên kết với các địa phương trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Vận động, hướng dẫn phụ nữ tham gia vào việc bảo vệ biên giới, kiểm soát địa bàn, phát động phụ nữ đặc biệt là các gia đình nạn nhân và bản thân nạn nhân tố giác tội phạm nhằm giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện, điều tra và xử lí kịp thời, chính xác loại tội phạm buôn người.

     Thứ tư, nghiêm trị bọn tội phạm buôn người chính là biểu hiện sức mạnh của luật pháp. Do đó, lực lượng công an nhân dân cần phối hợp chặt chẽ với bộ đội biên phòng, lực lượng hải quan, viện kiểm sát nhân dân, toà án nhân dân và các cơ quan hữu quan nhằm làm tốt hơn nữa công tác điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này.

     Thứ năm, trong những năm qua, ở Việt Nam số phụ nữ và trẻ em bị bán ra nước ngoài chiếm khoảng 70% số phụ nữ và trẻ em bị mua bán. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là sự hợp tác quốc tế của Việt Nam còn nhiều bất cập. Do đó, để góp phần đấu tranh phòng chống tội mua bán phụ nữ và trẻ em có hiệu quả thì cần thiết phải thiết lập sự hợp tác quốc tế và khu vực giữa Việt Nam với các nước có chung đường biên giới và các nước thuộc khu vực sông Mê Kông, đặc biệt thông qua 2 kênh hợp tác là INTERPOL và ASEANPOL trong việc trao đổi thông tin cũng như tình hình tội phạm của loại tội phạm này một cách thường xuyên nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động truy quét tội phạm, trong giải cứu và phóng thích những người phụ nữ bị bán sang nước khác. Bộ công an cần sớm xây dựng đề án và đề xuất với Nhà nước nhằm kí kết hiệp định tương trợ pháp lí và dẫn độ tội phạm với các nước trong khu vực Đông Nam Á (hiện tại, ở khu vực này Việt Nam mới kí với Lào năm 1998) .

     Thứ sáu, những phụ nữ và trẻ em bị mua bán dù dưới bất kì lí do nào cũng đều là nạn nhân của loại tội phạm này. Vì vậy, giúp họ tái hoà nhập cộng đồng là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó vai trò của hội phụ nữ là rất quan trọng. Để công tác này đạt hiệu quả, theo chúng tôi cần phải quan tâm một số vấn đề sau đây:

- Xoá bỏ tâm trạng mặc cảm, lo lắng của những nạn nhân khi trở về. Gia đình và xã hội cần có thái độ bao dung, thông cảm, tránh có thái độ định kiến, khinh rẻ hay diễu cợt;

- Cần sớm giúp họ tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục, tín dụng như khám chữa bệnh miễn phí, xét nhiệm HIV/AIDS kịp thời, đưa họ vào các lớp học tình thương, xoá mù chữ để nâng cao trình độ văn hóa, trình độ hiểu biết, hỗ trợ nguồn vốn ban đầu để giúp họ tạo dựng cuộc sống nhằm tránh nguy cơ rơi vào tình trạng bị lừa, bị bán trở lại;

- Cần có chính sách ưu đãi trong dạy nghề, tạo việc làm. Bởi vì, giải quyết việc làm là một trong những yếu tố quan trọng quyết định công tác tái hoà nhập cộng đồng của những nạn nhân này. Có việc làm, có thu nhập đủ sống sẽ góp phần làm giảm tình trạng phụ nữ vì lí do kinh tế mà bị lừa, bị bán.

     Cuộc đấu tranh phòng chống loại tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em là nhiệm vụ đầy khó khăn và lâu dài không chỉ của riêng một quốc gia nào trong đó có Việt Nam.Chúng tôi cho rằng xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội nhằm không ngừng nâng cao cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân, áp dụng đồng bộ các biện pháp phòng chống, sẵn sàng liên kết với các nước trong khu vực và trên thế giới trong cuộc đấu tranh không ngừng bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em thì loại tội phạm này tất yếu sẽ giảm dần và tiến tới bị loại trừ ra khỏi đời sống xã hội./.

TS. Trương Quang Vinh

Theo : Tạp chí Luật học số 03 (2004)

About these ads
 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 57 other followers

%d bloggers like this: