RSS

Luận tội và tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự

20 Tháng 5

Chủ động tham gia tranh tụng tại phiên tòa hình sự là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của Kiểm sát viên theo yêu cầu của cải cách tư pháp. Bằng sự am hiểu sâu sắc và từ kinh nghiệm nhiều năm lãnh đạo, chỉ đạo công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động xét xử hình sự của Viện kiểm sát nhân dân, tác giả bài viết đã nêu lên những nhận thức cơ bản về bản chất, nội dung hoạt động tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự; đánh giá thực trạng và chỉ ra những nhiệm vụ, giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động này trong thực tiễn.

Bản chất hoạt động tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên toà hình sự là làm sáng tỏ các tình tiết khách quan của vụ án nhằm góp phần cùng với Hội đồng xét xử giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra oan sai cũng như bỏ lọt tội phạm. Như vậy, tranh luận của Kiểm sát viên không chỉ là buộc tội mà cần phải chú ý cả vấn đề gỡ tội. Do đó, không phải là vấn đề “được thua”, mà tranh luận để làm rõ các tình tiết của vụ án, góp phần cùng Toà án đánh giá đúng bản chất sự việc. Việc nhận thức đúng đắn bản chất của hoạt động tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên toà hình sự có ý nghĩa rất quan trọng. Bởi vì, chỉ trên cơ sở nhận thức đúng về bản chất của tranh luận mới giúp cho Kiểm sát viên xác định đúng đắn nhiệm vụ của mình khi tham gia tranh luận, nêu cao trách nhiệm trong việc thực hiện đầy đủ các yêu cầu mà pháp luật quy định, có thái độ và cách ứng xử phù hợp, tránh tư duy cứng nhắc, bảo thủ, không xem xét, đánh giá đầy đủ kết quả điều tra công khai tại phiên toà dẫn đến những sai lầm trong việc đưa ra quan điểm giải quyết vụ án.

Về nội dung của tranh luận: Hoạt động tranh luận của Kiểm sát viên bao gồm trình bày lời luận tội và đối đáp với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác. Luận tội là quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về vụ án hình sự, kết luận về nội dung, tính chất của hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, vai trò của bị cáo trong vụ án có đồng phạm, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nguyên nhân điều kiện phạm tội, trên cơ sở trình bày, phân tích các căn cứ kết tội, gỡ tội để đề xuất hướng xử lý.

Một vấn đề cần lưu ý là phải phân biệt giữa nội dung của luận tội với nội dung của cáo trạng. Cáo trạng là văn bản pháp lý, thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát về vụ án hình sự trên cơ sở kết quả hoạt động điều tra và ra quyết định truy tố bị can ra trước toà án để xét xử. Cáo trạng là văn bản pháp lý kết thúc giai đoạn điều tra và mở đầu một giai đoạn tố tụng mới, đó là giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự. Theo quy định tại Điều 167 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thì nội dung cáo trạng phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm; địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác; những chứng cứ xác định tội trạng của bị can, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án. Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng.

Về nội dung của luận tội, trên cơ sở quy định của Điều 217 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự thì yêu cầu, nội dung của luận tội như sau:

- Phải phân tích, đánh giá các chứng cứ của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ; đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, hậu quả gây ra, vai trò trách nhiệm và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để đề xuất áp dụng pháp luật và vận dụng chính sách xử lý cho phù hợp; khi nêu hành vi phạm tội phải viện dẫn các chứng cứ để chứng minh, bảo đảm tính lôgic và sắc bén.

- Phải phân tích, phê phán thủ đoạn phạm tội của bị cáo; phân tích bác bỏ những quan điểm không có căn cứ, không phù hợp với vụ án của những người tham gia tố tụng khác để làm sáng tỏ sự thật, bảo vệ chính sách pháp luật, thể hiện tính đấu tranh và tính thuyết phục của bản luận tội. Khi phân tích bác bỏ các quan điểm không phù hợp phải viện dẫn các chứng cứ để chứng minh.

- Phải xác định rõ các nguyên nhân và điều kiện phạm tội, tuyên truyền giáo dục pháp luật, góp phần đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật. Kiểm sát viên phải phân tích, phê phán hành vi và thủ đoạn thực hiện tội phạm, những nhận thức lệch lạc, sai trái của bị cáo để lên án trước dư luận; đồng thời rút ra những bài học cảnh giác trong nhân dân và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa để khắc phục những thiếu sót, sơ hở trong công tác quản lý kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, nội dung này phải phù hợp với thực tế của vụ án, tránh cường điệu, lan man, xa rời thực tiễn; cần gắn chặt với yêu cầu chính trị chung và yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, phục vụ tốt cho việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng chống loại tội phạm đó nói riêng.

- Đề nghị áp dụng về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp, bồi thường thiệt hại (nếu có), đảm bảo chính xác theo điều, khoản, điểm của Bộ luật Hình sự.

Có thể nói, luận tội có ý nghĩa pháp lý và chính trị rất lớn; phần trình bày lời luận tội của Kiểm sát viên thường được sự quan tâm chú ý theo dõi đặc biệt của những người tham dự phiên toà và công chúng. Xét về tính chất pháp lý thì luận tội của Kiểm sát viên chính là công cụ để Viện kiểm sát thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên toà. Để bản luận tội có chất lượng tốt thì cùng với việc phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án trước khi tham gia phiên toà để chuẩn bị dự thảo luận tội, Kiểm sát viên phải hết sức chú ý theo dõi để nắm được toàn bộ diễn biến của phiên toà; tích cực, chủ động tham gia xét hỏi, ghi chép đầy đủ các ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác để sửa đổi, bổ sung, cập nhật vào nội dung của luận tội.

Việc đối đáp của Kiểm sát viên trong quá trình tranh luận chủ yếu là đưa ra những lập luận để phản bác những ý kiến không phù hợp của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác về luận tội của Kiểm sát viên. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thì kết quả tranh luận có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc giải quyết vụ án của Toà án. Việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục. Đó là những quan điểm cơ bản mang tính định hướng về phương pháp luận mà Kiểm sát viên cần nắm vững để vận dụng trong quá trình tranh luận.

Về yêu cầu đối với Kiểm sát viên khi tranh luận, trước hết phải khẳng định tranh luận là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định mà Kiểm sát viên có nghĩa vụ phải thực hiện. Mục đích chủ yếu của tranh luận là nhằm làm sáng tỏ các tình tiết khách quan của vụ án, bảo vệ tính có căn cứ và hợp pháp của các quan điểm truy tố. Tuy nhiên, nếu qua điều tra tại phiên toà mà thấy một số quan điểm trong cáo trạng không phù hợp thì Kiểm sát viên có quyền thay đổi quan điểm. Điều đó cũng có nghĩa là Kiểm sát viên không bảo vệ quan điểm truy tố một cách thiếu căn cứ. Cơ sở để Kiểm sát viên thực hiện việc luận tội và tranh luận là phải dựa vào các quy định của pháp luật và các chứng cứ khách quan đã được kiểm tra tại phiên toà để đưa ra quan điểm và bảo vệ quan điểm của mình. Mặt khác, để bảo đảm tính thuyết phục khi tranh luận, ngoài việc dựa vào các quy định của pháp luật và chứng cứ đã được kiểm tra, xác minh, Kiểm sát viên còn phải dựa vào quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về đấu tranh, phòng chống tội phạm để vận dụng một cách phù hợp.

Vài nét về thực trạng của hoạt động tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên toà hình sự trong thời gian qua.

Hàng năm, các Kiểm sát viên đã thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm từ 45.000 đến 50.000 vụ án hình sự. Kết quả cho thấy, chất lượng hoạt động tranh luận của các Kiểm sát viên tại phiên toà hình sự đã được nâng lên đáng kể. Thực hiện nhiệm vụ tranh luận, về cơ bản các Kiểm sát viên đã hoàn thành tốt yêu cầu, nhiệm vụ là góp phần cùng Toà án làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án, làm cho việc giải quyết các vụ án ngày càng có chất lượng tốt hơn, bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; tình trạng oan, sai trong việc giải quyết các vụ án hình sự đã giảm rõ rệt, nhất là đã hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp Viện kiểm sát truy tố nhưng Toà án tuyên bị cáo không phạm tội.

Các Kiểm sát viên khi được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đã có sự chuẩn bị chu đáo hơn, thể hiện qua việc nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, đánh giá, hệ thống các chứng cứ buộc tội, gỡ tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các nội dung khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án. Từ đó, các Kiểm sát viên đã chuẩn bị đề cương tham gia xét hỏi và dự thảo luận tội sát hơn với nội dung của vụ án. Việc trình bày luận tội và đối đáp của Kiểm sát viên tại phiên toà có chất lượng tốt hơn và có sức thuyết phục hơn. Lời lẽ trong bản luận tội, phương pháp, kỹ năng đối đáp của Kiểm sát viên cũng đã được chú ý và có nhiều đổi mới, tiến bộ, khắc phục cơ bản những hiện tượng như: sử dụng lời lẽ “đao to, búa lớn”, thái độ gây gắt và hiện tượng suy diễn, cường điệu hoá trong luận tội và đối đáp.

 Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp đối với các hoạt động tố tụng trong giai đoạn này đã được thực hiện một cách thường xuyên, kịp thời và có hiệu quả cao hơn. Nhiều đơn vị trong ngành cũng đã quan tâm làm tốt việc xây dựng các chuyên đề nghiệp vụ, tổng kết thực tiễn, ra các thông báo rút kinh nghiệm, tập hợp các bản luận tội có chất lượng tốt để phổ biến, học tập.v.v. Các biện pháp nêu trên đã góp phần nâng cao một bước chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự trong toàn ngành.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, những mặt đã làm tốt thì hoạt động tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên toà hình sự trong thời gian qua vẫn còn những tồn tại, yếu kém, cụ thể là:

Thiếu sót trong việc chuẩn bị tham gia xét xử như nghiên cứu hồ sơ không kỹ nên không hệ thống đầy đủ các chứng cứ; không dự đoán được các tình huống có thể xảy ra trong quá trình tranh luận như bị cáo, luật sư sẽ bào chữa như thế nào. Chuẩn bị đề cương thẩm vấn không sát với nội dung nên việc tham gia thẩm vấn tại phiên toà không đúng trọng tâm.

Trên thực tế, vẫn còn một số trường hợp do không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án nên dự thảo luận tội của Kiểm sát viên chưa được chuẩn bị kỹ lưỡng. Nội dung của một số bản luận tội chưa đạt yêu cầu, chủ yếu là nêu lại diễn biến của vụ án, mô tả lại hành vi phạm tội của bị cáo hay nói cách khác là tóm tắt lại nội dung của cáo trạng mà chưa phân tích, đánh giá, viện dẫn đầy đủ chứng cứ để chứng minh, bảo vệ quan điểm truy tố. Nguyên nhân của tồn tại này là do chủ quan, cho rằng đã thực hiện thông khâu, đã kiểm sát điều tra từ đầu nên không nghiên cứu lại hồ sơ vụ án một cách kỹ lưỡng. Bên cạnh đó, một phần là do hạn chế về khả năng nghiên cứu, đánh giá các chứng cứ, chưa hệ thống, liên kết được toàn bộ chứng cứ để làm cơ sở cho việc luận tội đối với bị cáo.

Quá trình tham gia phiên toà, vẫn còn có trường hợp Kiểm sát viên chưa tập trung chú ý theo dõi mọi diễn biến của phiên toà để chủ động tham gia xét hỏi, kiểm tra lại chứng cứ, ghi chép các ý kiến để sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh nội dung của dự thảo luận tội. Nhìn chung, Kiểm sát viên tập trung thời gian, nghiên cứu kỹ hồ sơ, chuẩn bị tốt nội dung luận tội và tích cực, chủ động tham gia xét hỏi trong các vụ án phức tạp, bị cáo chối tội, những vụ án mà việc đánh giá chứng cứ đang còn những quan điểm khác nhau hay những vụ án có sự tham gia của luật sư, người bào chữa.v.v. còn trong các vụ án khác thì có lúc còn biểu hiện chủ quan, chưa có sự chuẩn bị thực sự chu đáo.

Một số Kiểm sát viên chưa có sự phản ứng linh hoạt khi tham gia tranh luận, còn hạn chế trong đối đáp nên có tâm lý ngại tranh luận hoặc tranh luận qua loa, chưa đưa ra đầy đủ những luận điểm có sức thuyết phục với sự diễn đạt rõ ràng mạch lạc để đối đáp với tất cả các ý kiến của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đã nêu lên, nhất là những ý kiến trái ngược lại với quan điểm của Kiểm sát viên đã trình bày trong luận tội. Có vụ án, khi Luật sư nêu lý do phản bác luận tội nhưng Kiểm sát viên không phát biểu tranh luận, khi chủ toạ phiên toà yêu cầu tranh luận thì Kiểm sát viên phát biểu là “cáo trạng đã nêu hết rồi”. Hoặc có trường hợp trong vụ án bị cáo dùng dao đâm chết người, vết đâm ở ngực xuyên từ phải sang trái và chếch lên làm thủng tim, nạn nhân chết. Kiểm sát viên kết luận là bị cáo dùng tay trái đâm nhưng Luật sư nêu bị cáo thuận tay phải, lúc đó Kiểm sát viên đã không trả lời được. Hay trong một vụ án giết người bằng việc đốt nhà làm cho nạn nhân chết. Khi Luật sư đưa ra các chứng cứ để chứng minh bị cáo không thể thực hiện việc đốt nhà thì Kiểm sát viên lại dùng phương pháp loại trừ: “Trong nhà chỉ có 2 người, không chứng minh được ai là người đốt nhà thì chỉ có bị cáo đốt”.v.v. Những trường hợp này chủ yếu là do việc nghiên cứu hồ sơ vụ án không kỹ, không nắm được toàn bộ các chứng cứ trong vụ án nên không đưa ra được đầy đủ căn cứ buộc tội. Đó cũng là những trường hợp mà Kiểm sát viên chưa thể hiện được vai trò chủ động khi tham gia phiên toà, chưa thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình như quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Nguyên nhân của những tồn tại nêu trên chủ yếu là do Kiểm sát viên chưa nhận thức một cách đầy đủ các yêu cầu của cải cách tư pháp và các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân, của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử hình sự. Còn có biểu hiện chủ quan, chưa chịu khó nghiên cứu, học tập nâng cao về trình độ, năng lực, rèn luyện kỹ năng thực hiện các hoạt động nghiệp vụ công tác kiểm sát nói chung và kỹ năng tranh luận nói riêng.

Lãnh đạo một số đơn vị cũng chưa giành nhiều thời gian để trực tiếp tham gia, theo dõi các phiên toà để có nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm nghiệp vụ với các Kiểm sát viên. Viện kiểm sát cấp tỉnh, các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát tối cao chưa thường xuyên sơ kết rút kinh nghiệm nghiệp vụ công tác thực hành quyền công tố. Công tác bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ cho Kiểm sát viên còn có những hạn chế, bất cập; việc tổng kết, xây dựng các chuyên đề nghiệp vụ triển khai chậm, chất lượng một số chuyên đề chưa đạt yêu cầu và điều đáng quan tâm là việc triển khai những kết quả nghiên cứu vào thực tiễn công tác còn hạn chế.v.v.

Về phương hướng để nâng cao chất lượng hoạt động tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên toà.

Một là, phải nêu cao hơn nữa trách nhiệm của Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp trong quản lý, chỉ đạo điều hành các hoạt động tố tụng hình sự và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong thực hiện công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự. Tập trung chỉ đạo làm tốt công tác chuẩn bị tham gia xét xử như nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, chuẩn bị đề cương tham gia xét hỏi, dự thảo luận tội trên cơ sở nghiên cứu, nắm vững nội dung của vụ án, hệ thống chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các nội dung khác có liên quan đến viẹc giải quyết vụ án. Thực hiện tốt việc nghe báo cáo án, chỉ đạo về đường lối giải quyết vụ án, chỉ đạo cụ thể các vấn đề nghiệp vụ mà Kiểm sát viên cần lưu ý khi tham gia phiên toà. Thường xuyên rút kinh nghiệm, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ cho Kiểm sát viên.

Trong quá trình thực hành quyền công tố tại phiên toà, các Kiểm sát viên phải tập trung theo dõi mọi diễn biến của phiên toà, chủ động tham gia xét hỏi để góp phần làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án; ghi chép đầy đủ nội dung xét hỏi, trả lời và các ý kiến mà bị cáo, luật sư và những người tham gia tố tụng nêu lên, nhất là những ý kiến phản bác lại nội dung luận tội của Kiểm sát viên để chủ động tranh luận. Đây là yêu cầu hết sức quan trọng, bởi vì kết quả quá trình thẩm vấn công khai tại phiên toà sẽ giúp Kiểm sát viên hệ thống lại toàn bộ các chứng cứ của vụ án đã được kiểm tra tại phiên toà để hoàn chỉnh nội dung bản luận tội; việc ghi chép đầy đủ các ý kiến sẽ giúp cho Kiểm sát viên chủ động trong tranh luận, xác định đúng những vấn đề trọng tâm cần phải tranh luận để bảo vệ quan điểm truy tố, luận tội.

Trên thực tế, có một số tình huống xảy ra trong quá trình tranh luận cần lưu ý, đó là: Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt tại phiên toà nhưng đã gửi đến Toà án bản bào chữa thì Kiểm sát viên có phải tranh luận không? Có ý kiến cho rằng, Kiểm sát viên không phải tranh luận vì không có đối tượng để đối đáp. Trong trường hợp này, mặc dù người bào chữa không có mặt nhưng họ có gửi bản bào chữa trong đó thể hiện ý kiến của họ bào chữa cho bị cáo, vì vậy Kiểm sát viên phải phát biểu ý kiến về nội dung của bản bào chữa đó. Một tình huống khác, khi nội dung tranh luận có liên quan đến một quy định của pháp luật mà chưa có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền và đang có nhiều quan điểm nhận thức khác nhau, mỗi bên tranh luận đều đưa ra những luận điển có chứa đựng những hạt nhân hợp lý nhất định để bảo vệ quan điểm của mình. Trong trường hợp này, Kiểm sát viên phải dựa trên cơ sở nguyên tắc chung của pháp luật và trên cơ sở mục đích của chế định pháp luật đó để đưa ra quan điểm của mình và phải kiên quyết bảo vệ quan điểm; việc kết luận thuộc trách nhiệm của Hội đồng xét xử.

Hai là, tăng cường việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ Kiểm sát viên.

Trước hết, mỗi Kiểm sát viên phải tích cực nghiên cứu, học tập để nắm vững các quy định của pháp luật, nhất là pháp luật về hình sự, về tố tụng hình sự, các luật có liên quan, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật; nắm vững các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm.

Thường xuyên rèn luyện các kỹ năng nghiệp vụ về tham gia phiên toà hình sự như kỹ năng trình bày bản luận tội, kỹ năng diễn đạt, đối đáp trôi chảy, khả năng phản xạ linh hoạt trước các vấn đề mới phát sinh tại phiên toà.v.v. Phải thể hiện sự ứng xử có văn hoá trong thái độ, trong cách xưng hô tại phiên toà, bảo đảm tôn trọng sự điều khiển của chủ toạ phiên toà, tôn trọng quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng nhất là những người tham gia tranh tụng với mình. Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần quan tâm sơ kết rút kinh nghiệm hoạt động tranh luận của Kiểm sát viên, nơi nào có điều kiện nên tổ chức các cuộc thi về tranh luận tại phiên toà để phổ biến kinh nghiệm, nâng cao năng lực, kỹ năng tranh luận. Kiểm sát viên phải thường xuyên tự mình đánh giá lại kết quả hoạt động sau mỗi phiên toà, rút kinh nghiệm một cách nghiêm túc những thiếu sót, chú ý lắng nghe các ý kiến góp ý của đồng nghiệp, dư luận của công chúng với thái độ cầu thị để không ngừng hoàn thiện hơn kỹ năng nghiệp vụ của mình trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự nói chung cũng như việc trình bày luận tội, tham gia tranh luận của Kiểm sát viên tại các phiên toà hình sự sơ thẩm nói riêng.

Truờng đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát cần xây dựng nội dung chương trình để tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên toà hình sự.

Ba là, tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao./.

TS. Dương Thanh Biểu

Theo : Tạp chí Kiểm sát

About these ads
 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 57 other followers

%d bloggers like this: