RSS

Trách nhiệm phòng ngừa tội phạm của Viện kiểm sát nhìn từ góc độ cải cách tư pháp

29 Tháng 6

Viện kiểm sát nhân dân là một trong các cơ quan bảo vệ pháp luật của Nhà nước, có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nhằm góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Viện kiểm sát nhân dân có vị trí và vai trò rất quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Cơ sở lý luận và thực tiễn

Để phòng ngừa tội phạm có hiệu quả, đòi hỏi Viện kiểm sát phải thực hiện một cách chính xác và đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình trong tố tụng hình sự. Vì vậy theo ý kiến chúng tôi, nếu xem xét dưới giác độ vai trò, trách nhiệm pháp lý thì hoạt động phòng ngừa tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân về cơ bản phải được thực hiện theo hai hướng chủ yếu: Một là, thông qua các công tác để thực hiện chức năng; hai là phối hợp thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa với các chủ thể khác. Đây là vấn đề mà hiện nay chưa có sự nghiên cứu, tổng kết về mặt lý luận.

Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng việc phân biệt hai hướng hoạt động như vậy cũng chỉ theo một ý nghĩa tương đối, vì trong khi thực hiện chức năng của mình đương nhiên Viện kiểm sát nhân dân đã phải có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan và ngược lại, trong quá trình phối hợp thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa với các chủ thể khác cũng đòi hỏi các Viện kiểm sát nhân dân phải dựa trên cơ sở thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo qui định của pháp luật.

Ở hướng hoạt động phòng ngừa tội phạm thông qua các công tác để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp áp dụng các biện pháp pháp lý có tác dụng quan trọng góp phần tích cực vào việc ngăn chặn tội phạm, hạn chế hậu quả thiệt hại do tội phạm gây ra, kiềm chế, đẩy lùi và từng bước làm giảm tội phạm, khắc phục những nguyên nhân và điều kiện của từng loại tội phạm cũng như tình hình tội phạm trong xã hội.

Cùng với các biện pháp tác động trực tiếp nhằm đảm bảo cho quá trình khởi tố, điều tra phát hiện và xử lý tội phạm được nhanh chóng, chính xác, kịp thời theo quyền năng và nghĩa vụ tố tụng, Viện kiểm sát nhân dân còn gián tiếp tác động để áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm thông qua việc thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của mình.

Bằng phương thức trực tiếp hoặc gián tiếp tác động để áp dụng các biện pháp đấu tranh ngăn chặn tội phạm thông qua việc sử dụng các quyền năng và nghĩa vụ pháp lý của mình trong quá trình tố tụng đã làm toát lên ý nghĩa và tác dụng phòng ngừa của mỗi công tác thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân. Bởi vậy khi đánh giá hiệu quả của hoạt động phòng ngừa tội phạm sẽ không thể nào tách rời kết quả công tác công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Điều đó cũng có ý nghĩa là: Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm, đòi hỏi Viện kiểm sát nhân dân phải không ngừng nâng cao chất lượng các công tác thực hiện chức năng, phải hướng trọng tâm các công tác chuyên môn nghiệp vụ vào việc thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm. Các Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng cùng với việc đảm bảo không để một tội phạm và người phạm tội nào không bị phát hiện, xử lý, còn có trách nhiệm làm rõ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị áp dụng các biện pháp phòng ngừa qua từng vụ án, đối với mỗi lĩnh vực, mỗi địa phương nhất định.

Tuy nhiên, phòng ngừa tội phạm là công việc đầy khó khăn, phức tạp, phải được tiến hành trên phạm vi toàn xã hội và đòi hỏi phải có sự kết hợp đồng bộ nhiều biện pháp, phải phát huy sức mạnh tổng hợp của tất cả các chủ thể phòng ngừa. Trong hầu hết các qui định pháp luật về nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm đều có đề cập đến trách nhiệm phối hợp của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể nhân dân, các đơn vị lực lượng vũ trang.

Những kết quả bước đầu

Trong quan điểm chỉ đạo nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng đã quán triệt phương châm chủ động phối hợp với Cơ quan điều tra, Tòa án nhân dân, Cơ quan thi hành án để nâng cao trách nhiệm phòng ngừa tội phạm. Song để thực hiện có hiệu quả cơ chế phối hợp với các ngành, cùng với việc thống nhất những chủ trương, biện pháp phòng ngừa tội phạm cần hết sức chú trọng khía cạnh thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Cần nhấn mạnh rằng: Tăng cường sự phối hợp có nghĩa là phải nêu cao tinh thần hợp tác, hiệp đồng công tác, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau, nhưng nhất thiết phải trên cơ sở thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mỗi cơ quan, không thoả hiệp một chiều hoặc đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhau. Trong thực tế rất dễ dàng nhận thấy là ở nơi nào Viện kiểm sát nhân dân nắm vững và thực hiện đầy đủ chức năng nhiệm vụ của mình thì ở đó không những đã phát huy được vai trò tích cực, chủ động của Viện kiểm sát trong hoạt động phối hợp phòng ngừa tội phạm, mà đồng thời còn duy trì được mối quan hệ công tác tốt với các ngành, trước hết là với các cơ quan tư pháp.

Để thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội và Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, trong những năm qua ngành Kiểm sát đã tích cực phối hợp với các cơ quan tư pháp đấu tranh kiên quyết với các loại tội phạm, khám phá nhiều vụ án hình sự, góp phần ngăn chặn và kiềm chế sự gia tăng tội phạm, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Trong các Chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hàng năm về công tác của ngành Kiểm sát đều nêu lên tư tưởng chỉ đạo đối với Viện kiểm sát các cấp là: Phải chú trọng nâng cao trách nhiệm trong công tác phòng ngừa tội phạm. Theo đó, trong quá trình thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp các Viện kiểm sát nhân dân phải phát hiện những nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, trong đó đặc biệt quan tâm phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý Nhà nước để kiến nghị các cơ quan hữu quan có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục nhằm ngăn ngừa tội phạm xảy ra. Nhờ vậy, Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc quản lý và xử lý tin báo tội phạm. Một số nơi đã mở hòm thư tố giác tội phạm, thông báo số điện thoại công khai để nhân dân cung cấp tình hình tội phạm, duy trì thường xuyên chế độ trực nghiệp vụ. Thông qua các biện pháp này, Viện kiểm sát nhân dân đã trực tiếp khởi tố hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố nhiều vụ án để tiến hành điều tra, phối hợp chặt chẽ với cơ quan Công an trong việc phân loại xử lý, nâng cao tỷ lệ xử lý hình sự trong bắt giữ, chống bỏ lọt tội phạm. Nhìn chung tiến độ giải quyết án được đẩy nhanh hơn và phần lớn được thực hiện trong hạn luật định. Các Viện kiểm sát nhân dân cũng đã chủ động bàn bạc với các cơ quan tiến hành tố tụng xác định các vụ án trọng điểm để tập trung chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nhanh nhằm phục vụ yêu cầu chính trị của các địa phương. Đã có nhiều Viện kiểm sát địa phương tích cực phối hợp với Toà án nhân dân tổ chức các phiên toà lưu động nhằm thông qua việc thực hành quyền công tố đối với những vụ án này để tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân.

Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngành Kiểm sát đã triển khai nghiên cứu một số chuyên đề nhằm tổng kết thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm từ những vụ việc cụ thể để nhân ra diện rộng.

Trên đây là một số nét khái quát về những kết quả bước đầu trong thực tiễn hoạt động phòng ngừa tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân, song qua thực tế, chúng tôi nhận thấy vẫn còn những bất cập. Đó là: Hiện tại còn thiếu các quy định pháp luật về trách nhiệm phòng ngừa tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân trong các công tác thực hiện chức năng. Đến nay ngành ta vẫn chưa có một Chương trình tổng thể về phòng ngừa tội phạm và cũng vì vậy cho nên chưa xây dựng được những chuẩn mực rõ ràng xác định hiệu quả công tác phòng ngừa tội phạm trong hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Một số nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trực tiếp áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm chưa được thực hiện đầy đủ hoặc bị hạn chế tác dụng trong thực tiễn. Vấn đề nghiên cứu lý luận và triển khai ứng dụng các biện pháp phòng ngừa trong công tác của ngành chưa được quan tâm đúng mức. Đó là những nhân tố đã và đang có sự tác động làm hạn chế kết quả công tác phòng ngừa tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân. Nếu không nghiên cứu, phân tích một cách thấu đáo những gì đang diễn ra trong thực tiễn thì việc nhận diện những bất cập đó thật không dễ dàng.

Một số giải pháp và kiến nghị

Hiện nay, ngoài quy định chung tại Điều 7, trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân chỉ có 2 điều nói về Viện kiểm sát kiến nghị với cơ quan, tổ chức và đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm, đó là khoản 5 Điều 14 quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện công tác kiểm sát điều tra, Điều 19 quy định quyền của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự. Nếu theo cách hiểu thông thường thì trong trường hợp này luật không quy định quyền (hoặc nhiệm vụ và quyền hạn) kiến nghị áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự. Xem xét hai quy định trên có thể nhận thấy sự thiếu nhất quán và tính không hợp lý khi triển khai các điều luật ở các công tác này. Thực tế là không ai có thể phủ nhận vai trò, trách nhiệm phòng ngừa tội phạm của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố, nhất là trong giai đoạn tố tụng điều tra. Với chức năng đó, Viện kiểm sát nhân dân có vị trí vai trò trực tiếp áp dụng các biện pháp phát hiện tội phạm, chống bỏ lọt tội phạm, là những nội dung rất quan trọng của công tác phòng ngừa. Vì vậy, ngoài các nhiệm vụ và quyền hạn đã quy định tại Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, cần bổ sung quy định Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện công tác này có nhiệm vụ và quyền hạn trực tiếp áp dụng hoặc kiến nghị các cơ quan, tổ chức và đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm. Tương tự như vậy, khi thực hiện công tác kiểm sát thi hành án hình sự và công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, Viện kiểm sát nhân dân phải có nhiệm vụ và quyền hạn trực tiếp áp dụng hoặc kiến nghị áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm. Vấn đề này chưa được quy định rõ trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân hiện hành. Theo ý kiến chúng tôi, đây là hai lĩnh vực hoạt động rất quan trọng có tác dụng trực tiếp ngăn ngừa tái phạm tội. Thực tế hiện nay có tình hình là một số người bị án phạt tù giam vẫn tiếp tục trốn tránh thi hành án, những người bị án phạt tù nhưng cho hưởng án treo và những người bị án cải tạo không giam giữ hiện cũng chưa có một cơ chế quản lý chặt chẽ, ở các trại giam một số người bị bắt tạm giam tiếp tục bỏ trốn. Điều đó có nghĩa là các bản án do Toà án tuyên có hiệu lực pháp luật nhưng không được chấp hành, tác dụng của việc thực thi quyền lực tư pháp trong suốt quá trình tố tụng từ khi khởi tố điều tra đến lúc truy tố, xét xử bị vô hiệu, kẻ phạm tội vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật và khinh nhờn luật pháp. Thực tế đó cho thấy sự tiềm ẩn nguy cơ tái phạm tội trong số những đối tượng này ngày càng cao. Hơn ai hết, các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân cần phải nhanh chóng áp dụng các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa. Nếu không luật hoá trách nhiệm đó của cơ quan Viện kiểm sát là vô hình chung đã làm hạn chế một phần quan trọng sức mạnh của Nhà nước đối với công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm của chúng ta.

Thứ hai là, đã đến lúc Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải xây dựng một Chương trình tổng thể về phòng ngừa tội phạm cho toàn ngành Kiểm sát trong đó xác định một hệ thống các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác phòng ngừa tội phạm. Vấn đề này trong các chủ trương công tác của ngành ta cũng chưa được thực sự chú trọng. Trên thực tế, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong những năm qua đã ban hành một số Chỉ thị về công tác kiểm sát trong đó có nội dung về phòng ngừa tội phạm. Việc triển khai thực hiện những yêu cầu, nội dung trong các Chỉ thị của Viện trưởng và việc tổng hợp tình hình, báo cáo kết quả về Viện kiểm sát nhân dân tối cao thường được kết hợp trong chương trình công tác 6 tháng hoặc 1 năm của Viện kiểm sát các cấp. Trong đó có rất ít những nội dung bắt buộc phải có kế hoạch triển khai thực hiện và báo cáo kết quả riêng. Theo chúng tôi, để thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội và Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, các chương trình phòng chống ma tuý, mại dâm… , chúng ta cần hình thành một Chương trình tổng thể mang tính chiến lược về phòng ngừa tội phạm của ngành kiểm sát. Chương trình này sẽ nêu lên những mục tiêu, giải pháp chung và các đề án cụ thể, nhưng sẽ không tách rời nội dung chương trình công tác công tố và kiểm sát tư pháp. Để triển khai thực hiện chương trình phòng ngừa tội phạm của ngành, ở Viện kiểm sát nhân dân các cấp và các đơn vị sẽ phải xây dựng kế hoạch và chương trình hành động cụ thể, trong đó nêu rõ các tiêu chí về mục tiêu, nhiệm vụ, mức độ đạt được kết quả công tác… Thiết nghĩ, những đánh giá chung về tính hiệu quả trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp như: Tiến độ giải quyết án được đẩy nhanh, tỷ lệ người bị bắt, tạm giữ chuyển khởi tố hình sự cao, số vụ Viện kiểm sát trực tiếp khởi tố và yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố tăng, việc xác định án trọng điểm hoặc phối hợp tổ chức phiên toà lưu động,… đều có thể lượng hoá thành các tiêu chí để xác định mức độ hiệu quả của công tác phòng ngừa tội phạm. Bằng cách làm đó, chúng ta sẽ dần dần hình thành những chuẩn mực rõ ràng hơn trong việc đánh giá kết quả công tác và hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội phạm của các Viện kiểm sát nhân dân.

Thứ ba là, mặc dù luật pháp còn thiếu những quy định có tính đồng bộ về trách nhiệm phòng ngừa tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân như đã nói ở phần trên. Song với các quy định hiện hành, Nhà nước cũng đã trao cho Viện kiểm sát một số quyền hạn rất căn bản như: Tự mình khởi tố vụ án, khởi tố bị can và chuyển đến cơ quan điều tra để yêu cầu tiến hành điều tra; yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố; huỷ bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra; kiến nghị các cơ quan, tổ chức và đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm. Những quyền hạn này nếu được thực thi đầy đủ và chính xác sẽ có tác dụng phòng ngừa rất lớn, trước hết là bảo đảm để mọi tội phạm đều phải được điều tra phát hiện và xử lý kịp thời, không bỏ lọt tội phạm. Tuy nhiên trên thực tế bấy lâu nay khâu này làm chưa mạnh, nhất là việc kiến nghị phòng ngừa thường qua loa, chiếu lệ, không cụ thể, do đó vai trò của Viện kiểm sát ở đây bị mờ nhạt. Nói chung ở các cấp Kiểm sát đều ít thực hiện quyền khởi tố, ít đưa ra các kiến nghị và thậm chí vẫn còn có nơi để lọt tội phạm. Để khắc phục tình hình này, đề nghị đưa vào chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác của Viện kiểm sát các cấp cả về số lượng và chất lượng thực hiện các quyền khởi tố, kiến nghị, yêu cầu… Đồng thời xác định rõ trách nhiệm phải tiếp tục theo dõi kết quả thực hiện kiến nghị của các cơ quan, tổ chức hữu quan. Trong các biểu thống kê công tác Kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân cần có các tiêu chí về số lượng thực hiện các quyền này và trong các báo cáo kết quả công tác bắt buộc phải phân tích, đánh giá về hiệu quả thực hiện các biện pháp phòng ngừa tội phạm trong từng thời gian, ở từng địa bàn nhất định.

Thứ tư là, vấn đề nghiên cứu lý luận và triển khai ứng dụng các biện pháp phòng ngừa bấy lâu nay ít được chú trọng. Ai cũng biết rằng chúng ta không thể đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả nếu không tìm ra được các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm để có biện pháp tác động phù hợp. Do đó công tác nghiên cứu lý luận thường phải đi trước một bước để cung cấp những luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định các chủ trương, định hướng mục tiêu nhiệm vụ và đề ra các giải pháp thực hiện. Trong những năm qua ngành ta cũng đã triển khai nghiên cứu một số chuyên đề nhằm gắn việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp phục vụ cuộc đấu tranh chống các loại tội phạm với công tác phòng ngừa. Nhưng quả thật vẫn chưa có một đề tài chuyên sâu nào về tội phạm học để nghiên cứu khảo sát thực tiễn và đề xuất những biện pháp phòng ngừa được đưa vào ứng dụng có hiệu quả cụ thể. Chúng tôi cho rằng đã đến lúc những người làm công tác nghiên cứu phải vào cuộc cùng tham gia tích cực Chương trình phòng chống tội phạm, phải làm cho tội phạm học trở thành khoa học ứng dụng để trực tiếp giải quyết những nhu cầu do thực tiễn đặt ra. Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần có cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện và tăng cường hơn nữa sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn nhằm thúc đẩy công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm của ngành Kiểm sát có kết quả.

TS. Nguyễn Hồng Vinh

Theo : Tạp chí Kiểm sát số tháng 04 (2003)

About these ads
 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 57 other followers

%d bloggers like this: