RSS

Về đổi mới thủ tục thi hành hình phạt tử hình trong tiến trình cải cách tư pháp

09 Tháng 11

Hệ thống hình phạt trong Luật hình sự nước ta được chia làm hai phần: hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Trong hình phạt chính có hình phạt tử hình.

Tử hình là hình phạt tước bỏ quyền sống của người phạm tội, là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt nước ta, chỉ được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng không phải bất cứ người nào phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đều bị phạt tử hình mà chỉ áp dụng hình phạt tử hình đối với những người gây tội ác rất lớn, gây phương hại đến an ninh quốc gia, những kẻ đã thoái hóa, biến chất, tham nhũng tiền của rất lớn… Về vấn đề này, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều đổi mới quan trọng, thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa. Nếu Bộ luật Hình sự năm 1985 có tới 40 tội có hình phạt tử hình thì Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ còn 32 tội có hình phạt tử hình.

Khi cân nhắc giữa hình phạt tù chung thân với hình phạt tử hình mà thấy còn băn khoăn thì cương quyết không áp dụng hình phạt tử hình mà áp dụng hình phạt tù chung thân. Toà án phải xem xét, đánh giá thật toàn diện tất cả các tình tiết của vụ án, khi không còn khả năng áp dụng hình phạt nào khác thì mới áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội. Pháp luật quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử; không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Trong trường hợp này thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân.

Theo thống kê của tổ chức Ân xá thế giới và tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (Interpol), đến cuối năm 2005 trên thế giới còn 43 nước và vùng lãnh thổ đang áp dụng hình phạt tử hình. Các nước này đều có chung quan điểm cho rằng những kẻ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng cần phải được loại trừ khỏi đời sống xã hội và tử hình được xem như một biện pháp răn đe, phòng ngừa tội phạm quan trọng trong xã hội. Một số nước như Philippin trước đây đã bãi bỏ án tử hình nhưng hiện nay đã khôi phục lại ở một số trọng tội. Nước Mỹ cũng có 32/51 bang có áp dụng hình phạt tử hình. Ở Nhật Bản Bộ luật Hình sự năm 1880 hình phạt tử hình được áp dụng cho 20 loại tội phạm. Bộ luật Hình sự Nhật Bản hiện hành cũng còn áp dụng hình phạt tử hình cho 13 loại tội phạm.

Cũng theo tổ chức Ân xá thế giới thì các phương thức thi hành hình phạt tử hình cũng rất khác nhau ở các nước. *Phương thức phổ biến nhất được áp dụng là treo cổ và xử bắn. Điều 11 Bộ luật Hình sự Nhật Bản quy định tử hình được thực hiện ở trong tù bằng treo cổ.

Ở các nước theo đạo Hồi truyền thống hình phạt tử hình được thực hiện bằng ném đá đến chết hoặc thiêu sống trên giàn thiêu.

Ở một số nước Châu Âu tử hình được thực hiện bằng chém. Bị án được đưa lên máy chém để thực hiện hình phạt.

Các hình thức “cẩu đầu trảm”, “long đầu trảm” rất phổ biến trong lịch sử Trung Quốc cổ đại. Ngoài ra, trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam còn có các biện pháp cho voi giày, tùng xẻo hoặc ném bị án vào vạc dầu sôi.

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển đã ảnh hưởng mạnh mẽ vào lĩnh vực thi hành hình phạt tử hình để người phạm tội khi chết đỡ bị đau đớn, còn nguyên vẹn thể xác và ít gây tâm lý sợ hãi, lo lắng cho những người thi hành hình phạt tử hình. Như ở các bang nước Mỹ đang áp dụng các phương thức thi hành hình phạt này như xử bắn, tiêm thuốc độc, ngồi ghế điện, dùng hơi ngạt,… Mỗi bang nước Mỹ áp dụng phương thức thi hành hình phạt riêng của mình. Phương thức xử bắn người phạm tội hiện chỉ có 25 nước và vùng lãnh thổ áp dụng và cũng chỉ áp dụng đối với những kẻ phạm tội đặc biệt nguy hiểm.

Bộ luật Tố tụng Hình sự nước CHXHCN Việt Nam năm 2003 đã quy định về thi hành bản án hình sự đối với người bị kết án tử hình tại 2 Điều 258, 259. Hình phạt tử hình được thi hành bằng xử bắn.

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, thì sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, người bị kết án có quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước xin ân giảm án tử hình; dù người bị kết án có làm đơn xin ân giảm hay không thì hồ sơ vụ án phải được gửi ngay lên Chánh án Toà án nhân dân tối cao và bản sao bản án phải được gửi ngay lên Viện trưởng Viện Kiểm sát tối cao. Sau khi nhận được bản án và hồ sơ vụ án, Toà án nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; nếu người bị kết án làm đơn xin ân giảm án tử hình thì Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phải trình với Chủ tịch nước về ý kiến của mình về hình phạt tử hình đối với người bị kết án, rồi chuyển hồ sơ vụ án cùng đơn xin ân giảm án tử hình của người bị kết án lên Văn phòng Chủ tịch nước để trình Chủ tịch nước xem xét quyết định; nếu Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm án tử hình của người bị kết án thì mới được tổ chức thi hành án. Trường hợp Chủ tịch nước chấp nhận đơn xin ân giảm án tử hình của người bị kết án thì án tử hình được chuyển thành tù chung thân.

Việc tổ chức thi hành án tử hình cũng được quy định rất chặt chẽ. Sau khi Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm án tử hình hoặc Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao quyết định không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, thì Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành án tử hình gồm đại diện Toà án, Viện Kiểm sát và Công an. Trước khi thi hành án, Hội đồng thi hành án phải kiểm tra căn cước của người bị kết án. Trong trường hợp người bị kết án là phụ nữ thì trước khi ra quyết định thi hành án, Chánh án toà án đã xử sơ thẩm phải tổ chức kiểm tra các điều kiện không áp dụng hình phạt tử hình quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự năm 1999.

Trong trường hợp có tình tiết đặc biệt, Hội đồng thi hành án hoãn thi hành và báo cáo lên Chánh án Toà án nhân dân tối cao. Thực tiễn đã có một số trường hợp, Hội đồng thi hành án đã hoãn thi hành, vì người bị kết án khai ra đồng phạm khác.

Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta trong thời gian qua, nhất là sau hơn 5 năm thực hiện Bộ luật hình sự năm 1999, cho thấy số án tử hình tập trung chủ yếu vào các tội phạm ma tuý, giết người, tham nhũng,v.v… Ngay trong nhóm các tội phạm về ma tuý án tử hình cũng tập trung vào các tội phạm mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý. Theo quy định của pháp luật hiện hành Bộ Công an được giao chủ trì tổ chức thi hành hình phạt tử hình.

Qua thực tiễn điều tra, xử lý tội phạm và tổ chức thi hành hình phạt tử hình ở nước ta cho thấy có một số vấn đề sau:

1. Số tội phạm hiện nay quy định hình phạt tử hình vẫn còn rộng. Trên thực tế có một số tội phạm có rất ít bản án áp dụng khung hình phạt này, ví dụ như các tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (quy định tại Điều 157 Bộ luật hình sự); tội sử dụng trái phép chất ma tuý (quy định tại Điều 197 Bộ luật hình sự),v.v…

2. Về các quy định thi hành hình phạt tử hình trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có một số điểm chưa thật phù hợp:

Về việc thi hành hình phạt tử hình bằng xử bắn có tác dụng răn đe tội phạm, tuyên truyền phòng ngừa tội phạm cao. Tuy nhiên biện pháp này làm cho thi thể bị cáo không nguyên vẹn và có ảnh hưởng nhiều tới tâm lý, tư tưởng cán bộ chiến sĩ thi hành án. Số cán bộ công an đã tham gia xử bắn nhiều hoặc xử bắn các bị cáo nữ, hoặc trực tiếp được giao trói, bịt mắt nhét giẻ vào mồm bị cáo, hoặc được giao bắn viên đạn cuối cùng vào thái dương phạm nhân,… đều bị ảnh hưởng tâm lý nhiều. Qua điều tra của Bộ Công an đối với cán bộ chiến sĩ đội vũ trang thi hành án tử hình ở các tỉnh, thành phố thì hầu hết cán bộ chiến sĩ đều bị ảnh hưởng tâm lý. Vì vậy trong thời gian tới Nhà nước cần cho thay đổi phương thức thi hành hình phạt tử hình.

Trong quá trình thi hành hình phạt tử hình đã xuất hiện nhiều vướng mắc như kiểm tra căn cước, xác định vân tay của tử tù, hoãn thi hành án, gia đình xin nhận xác bị án về mai táng. Đã có nhiều vụ án phải hoãn thi hành án, điển hình là các tử tù Siêng Phênh và Nguyễn Khánh Lộc đã đề nghị hoãn thi hành án để khai ra một số kẻ đồng phạm đang còn giấu mặt ngoài xã hội. Bên cạnh đó trong thời gian qua có nhiều trường hợp gia đình xin nhận xác người thân về mai táng sau khi hình phạt tử hình đã được thi hành. Vì vậy cần phải có những quy định rõ về các trường hợp trên để tiện xử lý trong thực tiễn.

Về pháp trường thi hành án tử hình: Trong thời gian qua các địa phương rất khó tìm địa điểm làm pháp trường, nhất là các tỉnh đồng bằng. Vì vậy có tỉnh như Nghệ An phải đi xa 140km mới có địa điểm thi hành án tử hình.

Thực hiện tiến trình cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước, xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, vừa qua lãnh đạo Bộ Công an đã có báo cáo Chính phủ và Nhà nước tiếp tục đổi mới chính sách hình sự và hệ thống pháp luật tố tụng hình sự về án tử hình:

1. Đề nghị Quốc hội, Chính phủ nghiên cứu, tiếp tục đổi mới, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999 theo hướng bỏ khung hình phạt tử hình đối với 9 tội danh: tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139); tội buôn lậu (Điều 153); tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều 180); tội sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 197); tội đưa hối lộ (Điều 289); tội phá hoại hoà hình, gây chiến tranh xâm lược (Điều 341); tội chống loài người (Điều 342); tội phạm chiến tranh (Điều 343).

2. Nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 theo hướng quy định: Hình phạt tử hình được thi hành bằng xử bắn đối với những kẻ phạm tội là chủ mưu nguy hiểm cầm đầu các băng, nhóm tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Các trường hợp tử hình khác có thể áp dụng phương pháp thi hành án bằng tiêm thuốc độc tại buồng giam như Trung Quốc và nhiều nước trên thế giới đang áp dụng

Đồng thời ban hành Thông tư liên tịch Bộ Công an – Viện KSND tối cao – TAND tối cao về việc thi hành hình phạt tử hình theo hướng đổi mới quy định này của pháp luật tố tụng hình sự.

Án tử hình và thi hành hình phạt tử hình là một vấn đề được sự quan tâm nhiều của dư luận quốc tế và trong nước trong tiến trình cải cách tư pháp của Việt Nam. Vận dụng hợp lý và đổi mới các quy định pháp luật về vấn đề này có tầm quan trọng đặc biệt để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta trong tình hình mới. Xin thông tin một số vấn đề trên để nghiên cứu, trao đổi.

Đại tá, GS.TS Nguyễn Xuân Yêm – Phó G.Đốc Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công An

Theo: Tạp chí Nghề Luật, số 02 năm 2006

 

About these ads
 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 62 other followers

%d bloggers like this: