RSS

Thực trạng và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp

06 Tháng 1

Tranh tụng tại phiên tòa là một trong những nội dung có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự, là vấn đề có tính thời sự được xã hội quan tâm. Tranh tụng tại phiên tòa hình sự không chỉ là yêu cầu của việc bảo đảm tính dân chủ, công bằng giữa những người tham gia tố tụng với Viện kiểm sát, mà kết qủa tranh tụng tại phiên tòa là căn cứ để Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự xác định sự thật vụ án. Thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS) và Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” (gọi tắt là Nghị quyết 08) trong đó xác định: “Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác

Khi xét xử, các Tòa án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết qủa tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, người làm chứng, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn luật định. Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để Luật sư tham gia vào qúa trình tố tụng, tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa…”

Thời gian gần đây nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng BLTTHS của cơ quan có thẩm quyền được ban hành và sửa đổi kịp thời cho phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08 nhằm đề cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật của HĐXX về các phán quyết của mình. Hầu hết các Thẩm phán có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, đội ngũ Thẩm phán và Thư ký Tòa án đều có trình độ cử nhân luật trở lên; đa số các Thẩm phán mới được bổ nhiệm đã được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ xét xử. Cơ sở vật chất, kinh phí đảm bảo cho hoạt động xét xử của các Tòa án ngày càng được Nhà nước quan tâm và tăng cường.

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, hoạt động xét xử của Tòa án theo quy định của BLTTHS và tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW cũng có những khó khăn nhất định, cụ thể là :

Tranh tụng nói chung và tranh tụng tại phiên tòa hình sự nói riêng là một vấn đề mới mẻ đối với lĩnh vực tư pháp ở nước ta. Về mặt lý luận, đang còn có những quan điểm nhận thức rất khác nhau giữa các nhà khoa học cũng như cán bộ làm công tác thực tiễn về khái niệm tranh tụng; thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của tranh tụng tại phiên tòa; về phạm vi, phương pháp và nội dung tranh tụng mà các chủ thể cần thực hiện…

Các nhà nghiên cứu lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới chứng minh rằng tư tưởng về tranh tụng bắt nguồn từ ý tưởng của nhà triết học cổ đại nổi tiếng người Hy Lạp Plato. Ông cho rằng “bằng cách nói chuyện (đối thoại) về một điều gì đó trong một thời gian dài, một vài dấu hiệu hoặc hiểu biết sẽ xuất hiện và cả hai bên sẽ cùng nhìn ra sự thật”[1]. Ý tưởng này của Plato được các Luật gia Hy Lạp cổ đại phát triển và xây dựng thành là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS ở Nhà nước Hy Lạp cổ đại. Sau đó, nguyên tắc này được đưa vào áp dụng ở La Mã và các quốc gia cổ đại khác ở Châu Âu với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục”2. Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi tranh tụng là một trong các nguyên tắc cơ bản của tư pháp hình sự.

Trước đây, với quan niệm cho rằng tranh tụng là nguyên tắc đặc trưng của TTHS tư sản nên vấn đề này không được khoa học pháp lý quan tâm nghiên cứu. Vì vậy, về mặt lý luận, tranh tụng không được thừa nhận và thuật ngữ “tranh tụng” cũng chưa bao giờ được dùng trong các văn bản pháp luật của nước ta. Những năm gần đây, tranh tụng được đề cập đến trong một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành. Trong qúa trình xây dựng BLTTHS sửa đổi, đặc biệt là sau khi có Nghị quyết số 08 thì vấn đề tranh tụng  được đưa ra tranh luận sôi nổi.

Theo từ điển Tiếng việt, thì “tranh tụng” có nghĩa là “sự kiện cáo nhau”3. Theo nghĩa Hán Việt thì thuật ngữ “tranh tụng” được ghép từ hai từ “tranh luận” và “tố tụng” có nghĩa là “tranh luận trong tố tụng”. Đó là cuộc tranh luận giữa hai bên: “bên nguyên đơn và bên bên bị đơn có lập trường tương phản với nhau, yêu cầu Tòa án làm trọng tài phân xử”4

Hiện nay, trên thực tế đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau giữa những người làm công tác thực tiễn và  nghiên cứu khoa học về tranh tụng trong TTHS. Sự khác nhau giữa các quan điểm này là ở chỗ xác định tranh tụng có phải là một nguyên tắc cơ bản của TTHS Việt Nam không? Tranh tụng tại phiên tòa có đồng nhất hay không đồng nhất với tranh luận tại phiên tòa? Phạm vi và nội dung tranh tụng như thế nào?…Có thể phân các quan điểm này thành hai nhóm chính sau đây:

Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng về cơ bản, các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa trong BLTTHS 2003 là phù hợp và trong thực tiễn áp dụng không có gì vướng mắc lớn. Nghị quyết số 08 nhấn mạnh đến vấn đề tranh tụng chỉ là nhằm khắc phục tình trạng ở một số phiên tòa hiện nay, Kiểm sát viên qúa thụ động, ỷ lại vào Hội đồng xét xử (HĐXX) nên không tích cực tham gia xét hỏi cũng như tranh luận với người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.Về phía HĐXX lại qúa phụ thuộc vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án…nên không quan tâm xem xét các chứng cứ, các yêu cầu và quan điểm bào chữa mà Luật sư và bị cáo đưa ra tại phiên tòa. Vì vậy, vấn đề quan trọng là không phải là sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về thủ tục tại phiên tòa mà chỉ cần chủ tọa phiên tòa tăng thời gian để Luật sư và bị cáo được trình bày  các ý kiến của mình tại phiên tòa, không được ngắt lời hay hạn chế thời gian phát biểu của họ, bảo đảm sự tranh luận dân chủ giữa Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác là đủ. Về mặt thuật ngữ “tranh tụng” được hiểu là tranh luận trong TTHS. Nâng cao tính tranh tụng trong qúa trình xét xử có nghĩa là nâng cao hơn nữa hoạt động tranh luận tại phiên tòa. Vì vậy, không nên quy định trong BLTTHS tranh tụng là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS.

Nhóm quan điểm thứ hai thì cho rằng: Tư pháp hình sự ở một số nước dù được tổ chức theo mô hình tố tụng nào đi nữa (tố tụng xét hỏi hay tố tụng tranh tụng), thì trong TTHS cũng đều tồn tại ba chức năng với ba nhóm chủ thể: bên buộc tội, bên bào chữa và Tòa án. Do đó, “tranh tụng là nguyên tắc quan trọng, nguyên tắc đặc trưng của hoạt động tư pháp và là đặc trưng nổi bật nhất của tư pháp hình sự”. Tùy thuộc vào sự thừa nhận và sự thể hiện nội dung của nguyên tắc này (theo hướng mở rộng hay thu hẹp) trong các giai đoạn tố tụng mà người ta phân biệt mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng xét hỏi…Còn tranh luận chỉ là một phần (một thủ tục) của phiên tòa hình sự, mà trong đó các bên buộc tội và bên bào chữa đánh giá kết qủa xét hỏi trên cơ sở phân tích và đánh giá pháp lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị HĐXX về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án…Tranh luận chỉ là sự thể hiện đậm nét nhất, tập trung nhất nội dung nguyên tắc tranh tụng…Vì vậy, khái niệm “tranh luận” có nội hàm hẹp hơn khái niệm “tranh tụng”

Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai và cho rằng trong BLTTHS nước ta cần ghi nhận tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản của TTHS để phân định rõ chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử giữa các bên và Tòa án. Mặt khác, trong BLTTHS cũng cần quy định đầy đủ và cụ thể các điều kiện pháp lý cần thiết để đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên tham gia tố tụng. Việc ghi nhận nguyên tắc tranh tụng trong BLTTHS không đồng nhất với việc xây dựng hệ thống tố tụng ở nước ta theo mô hình tố tụng tranh tụng.

Như vậy, trong khoa học luật TTHS, khái niệm “tranh tụng”có thể được sử dụng theo các nghĩa khác nhau như sau:

-Tranh tụng là một nguyên tắc của TTHS;

-Tranh tụng là một mô hình (kiểu, hệ) tố tụng của các nước theo hệ thống luật án lệ (Anh-Mỹ);

Về mặt thực tiễn, đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Luật sư và các cán bộ tư pháp khác chưa được chuẩn bị đầy đủ về kỹ năng nghề nghiệp theo yêu cầu cải cách tư pháp; kinh nghiệm thực tiễn về tranh tụng còn hạn chế nên không tránh khỏi khó khăn, lúng túng trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Chính vì lý do đó mà trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ nêu lên khái quát thực trạng tranh tụng tại phiên tòa hình sự Việt Nam và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa hình sự hiện nay theo tinh thần cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 08 đã đề ra.

  1. Thực trạng tranh tụng tại các phiên tòa hình sự ở Việt Nam

  1.1. Thực trạng tranh tụng của chủ thể thực hiện chức năng buộc tội tại phiên tòa

  Đối với hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên

  Để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, VKSNDTC đã chỉ đạo tăng cường cán bộ công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự; thực hiện thông khâu kiểm sát điều tra – kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, theo đó Kiểm sát viên làm nhiệm vụ kiểm sát điều tra, đồng thời tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm để nắm chắc hồ sơ, chủ động hơn trong việc xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa. Sau khi thực hiện cơ chế này, công tác thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhìn chung, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đều tích cực và chủ động hơn vào việc xét hỏi, tranh luận để cùng với HĐXX tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Thông qua công tác kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, VKS các cấp đã tập hợp các dạng vi phạm để kiến nghị yêu cầu Tòa án rút kinh nghiệm trong công tác xét xử và thông báo rút kinh nghiệm về công tác kiểm sát xét xử; lựa chọn những bản luận tội, đề cương tranh luận có chất lượng tại phiên tòa rút kinh nghiệm chung.

  Hầu hết các Kiểm sát viên khi được phân công thực hành quyền công tố đã nắm chắc chứng cứ của vụ án, chuẩn bị đề cương xét hỏi, phát biểu luận tội, quan điểm đối đáp tại phiên tòa chặt chẽ, sắc bén, công khai dân chủ hơn. Nhìn chung những nội dung phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa được HĐXX chấp nhận và những người tham gia phiên tòa đồng tình.

Chất lượng công tố tại phiên tòa được nâng lên rõ rệt, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã chủ động tham gia xét hỏi và thẩm tra tài liệu, chứng cứ để buộc tội và bảo vệ cáo trạng, tham gia tranh luận và đối đáp với Luật sư, với các thành phần tham gia tố tụng khác nhằm làm sáng tỏ nội dung vụ án. Vì vậy, đã góp phần nâng cao chất lượng xét xử, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng.

Tuy nhiên, một số Kiểm sát viên chưa thường xuyên bám sát hoạt động điều tra để chủ động đề ra yêu cầu điều tra nhằm đẩy nhanh tiến độ giải quyết án; việc nắm diễn biến điều tra và xử lý chưa đầy đủ, chặt chẽ; chưa phát hiện sớm được những sai sót trong tố tụng điều tra và tố tụng xét xử; việc đưa ra chứng cứ, lập luận bảo vệ quan điểm truy tố ở một số vụ án chưa thật thuyết phục, xét hỏi còn trùng lặp với nội dung của HĐXX; luận tội và đối đáp trong tranh luận chưa chặt chẽ và còn lúng túng trước các tình huống phát sinh tại phiên tòa; đề xuất mức án chưa sát với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm.

 Trong hoạt động thực tiễn, do trình độ, năng lực của một số Kiểm sát viên còn hạn chế; việc nghiên cứu hồ sơ, chứng cứ một số vụ án chưa kỹ, chưa toàn diện, còn có biểu hiện chủ quan, đơn giản trong nghiên cứu. Cá biệt có vụ án không nắm chắc, nghiên cứu không sâu, không bảo vệ được quan điểm của VKS; còn lúng túng khi xử lý các tình huống phát sinh hoặc những nội dung có sự thay đổi. Việc xét hỏi và tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa hiện nay vẫn là khâu yếu ở cấp sơ thẩm (nhất là ở cấp huyện). Tại các phiên tòa phúc thẩm cũng có không ít trường hợp chất lượng, hiệu quả xét hỏi và tranh luận của Kiểm sát viên chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là đối với các vụ án có tính chất phức tạp hoặc đông bị cáo.

  Một số Kiểm sát viên còn thiếu kinh nghiệm nên khi dự kiến, chuẩn bị nội dung xét hỏi, tranh luận chưa sát, khi tranh luận thiếu sắc bén, tính thuyết phục không cao, có lúc còn bị động khi phát biểu quan điểm tại phiên tòa dẫn đến chất lượng thực hành quyền công tố tại phiên tòa bị hạn chế.

  Hoạt động tiến hành xét hỏi tại phiên tòa của một số Kiểm sát viên còn hạn chế. Do ảnh hưởng bởi quan niệm không đúng cho rằng việc xét hỏi tại phiên tòa là trách nhiệm của HĐXX, còn Kiểm sát viên chỉ có nhiệm vụ bảo vệ cáo trạng và kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chỉ thể hiện vai trò của mình ở giai đoạn tranh luận. Do vậy, việc xét hỏi để xác định tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội chủ yếu vẫn do HĐXX (chủ yếu là Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa) tiến hành; việc xét hỏi để làm sáng tỏ các chứng cứ buộc tội, các tình tiết gỡ tội của Kiểm sát viên còn hạn chế.

Một số Kiểm sát viên còn có tâm lý ngại tranh luận với Luật sư (nhất là trong các vụ án có nhiều Luật sư tham gia bào chữa cho các bị cáo), thái độ thiếu bình tĩnh, tự tin, xử lý tình huống phát sinh tại phiên tòa lúng túng hoặc né tránh các vấn đề, các tình tiết của vụ án cần tranh luận làm sáng tỏ tại phiên tòa. Tình trạng Kiểm sát viên không tập trung theo dõi quá trình xét hỏi tại phiên tòa, không ghi chép các quan điểm khác nhau về từng vấn đề cần tranh luận, đối đáp với người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nên không đối đáp hoặc đáp lại không hết (thậm chí né tránh) các vấn đề về vụ án mà quan điểm của họ khác với quan điểm của Kiểm sát viên buộc Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa phải yêu cầu Kiểm sát viên tranh luận bổ sung. Thái độ khi tranh luận của một số Kiểm sát viên còn nóng nảy, thiếu kiềm chế thể hiện sự phê phán, công kích nhau làm không khí phiên tòa thiếu nghiêm trang, căng thẳng, không phù hợp với văn hóa ứng xử tại phiên tòa.

Đối với hoạt động tranh tụng của người bị hại và nguyên đơn dân sự

Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì hoạt động tranh tụng của người bị hại và nguyên đơn dân sự là đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường, trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (Điều 51, 52 và 217); trình bày ý kiến về luận tội của KSV và đưa ra đề nghị của mình, đáp lại ý kiến của người khác (Điều 218). Người bị hại có quyền trình bày lời buộc tội trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại (Điều 51 BLTTHS).

Thực tiễn xét xử thấy rằng, vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì HĐXX thường không có sự phân biệt với những vụ án bình thường khác. KSV cũng bao biện làm hết tất cả việc buộc tội, còn người bị hại tham gia với vai trò rất thụ động. Theo Điều 105 BLTTHS, “…Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ…”. Tại sao quy định này không được áp dụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm? Bản chất người bị hại rút yêu cầu tại phiên tòa cũng giống như trước phiên tòa nhưng rút tại phiên tòa là khách quan hơn. Qua xét hỏi, tranh luận công khai, người bị hại có cơ hội thực hiện quyền của mình dân chủ và toàn diện hơn, lúc này họ không bị ép buộc, cưỡng bức hay vì một áp lực lực nào. Không thể tước đoạt mất quyền của người bị hại vì một lý do duy nhất là thời gian chứ không dựa trên cơ sở lý luận hay thực tiễn nào. Ở góc độ nhân đạo, sự thỏa thuận giữa người bị hại và bị cáo trong một số trường hợp là cần thiết. Chú ý rằng, nguyên tắc tranh tụng có một nội dung rất quan trọng là sự mặc cả thú tội giữa bên buộc tội và bào chữa. BLTTHS Việt Nam chưa quy định vấn đề này. Để cải cách tư pháp theo tinh thần tranh tụng thì đối với những vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, BLTTHS cần bổ sung theo hướng quy định thủ tục tố tụng riêng cho người bị hại tại phiên tòa và HĐXX phải đình chỉ vụ án khi người bị hại rút yêu cầu khởi tố trước khi nghị án tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là hoàn toàn phù hợp với lý luận và thực tiễn.

Cũng như người bị hại, pháp luật quy định nguyên đơn dân sự được tham gia phát biểu tranh luận sau người bào chữa và bị cáo là không phù hợp với sự vận hành các chức năng cơ bản của TTHS và nguyên tắc tranh tụng. Chức năng buộc tội làm xuất hiện chức năng bào chữa. Nguyên đơn dân sự là chủ thể của chức năng buộc tội. Về nguyên tắc thì bên buộc tội phát biểu quan điểm tranh luận trước bên bào chữa và trên cơ sở đó, bên bào chữa mới biết được bên buộc tội đã buộc tội mình như thế nào rồi đưa ra lời bào chữa của mình mới phù hợp với quy luật khách quan. Mặc dù KSV đã phát biểu quan điểm luận tội nhưng người bị hại và nguyên đơn dân sự là chủ thể của chức năng buộc tội, cũng sẽ phát biểu quan điểm liên quan đến việc buộc tội, sau đó bên bào chhữa phát biểu lời bào chữa sẽ lôgic hơn. Sự thiết kế trình tự phát biểu khi tranh luận tại Điều 217 BLTTHS năm 2003 là không theo một cơ sở lý luận hay thực tiễn nào. Sẽ hợp lý hơn nếu trình tự phát biểu khi tranh luận trước tiên là KSV rồi đến người bị hại, nguyên đơn dân sự và sau đó là bên bào chữa phát biểu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. 

1.2. Thực trạng tranh tụng của chủ thể thực hiện chức năng bào chữa (gỡ tội)

Theo chúng tôi, các chủ thể thực hiện chức năng bào chữa bao gồm: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; người bào chữa, bị đơn dân sự; người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của họ

  Là một chủ thể của bên tranh tụng, theo BLTTHS năm 2003, người bào chữa bao gồm: Luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và bào chữa viên nhân dân (Điều 56). Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề theo Luật Luật sư năm 2006. Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể là bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, anh chị em ruột và người giám hộ theo quy định của pháp luật đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần. Bào chữa viên nhân dân là những người được các tổ chức, đoàn thể xã hội cử ra để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Bị cáo là chủ thể của một bên tranh tụng (bên bào chữa), bị buộc tội trực tiếp, họ có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội (Điều 10 BLTTHS). Bị cáo tham gia phiên tòa để bào chữa cho sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình, đồng thời là nguồn chứng cứ quan trọng về vụ án. Chỉ có bị cáo – người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội mới hiểu đầy đủ, rõ ràng các tình tiết của vụ án nên hơn ai hết, chính họ mới thực hiện quyền bào chữa một cách khách quan và toàn diện nhất trước sự buộc tội. Do đó, sự tham gia của bị cáo tại phiên tòa là bắt buộc, đây vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của họ.

Người bào chữa tham gia phiên tòa là chủ thể của một bên tranh tụng – bên bị buộc tội để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo – người bị buộc tội. Người bào chữa tham gia phiên tòa theo hai hình thức, do bị cáo hay gia đình của bị cáo mời hoặc theo yêu cầu của Tòa án trong trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa

Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị cáo không phạm tội; làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chủ yếu đề cập đến vai trò của Luật sư trong việc thực hiện chức năng bào chữa.

  Trong những năm qua, đặc biệt là kể từ khi Đảng và Nhà nước phát động công cuộc cải cách tư pháp, vị trí vai trò của người bào chữa ngày càng được khẳng định. Có được điều này là đội ngũ những người làm công tác bào chữa mà chủ yếu là Luật sư đã từng bước trưởng thành về chất và lượng. Theo thống kê, hiện nay trong cả nước đã thành lập 61 Đoàn Luật sư trên tổng số 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với khoảng trên 7.000 Luật sư và 2.000 người tập sự hành nghề Luật sư hoạt động trong gần 1.500 tổ chức hành nghề Luật sư. Tỷ lệ số vụ án do công dân mời đang có chiều hướng tăng. Về cơ bản, sự tham gia tố tụng hình sự của Luật sư đã khắc phục được tính hình thức. Hoạt động tố tụng của Luật sư trong nhiều vụ án không những đảm bảo tốt hơn quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, mà còn giúp cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa những thiếu sót, làm rõ sự thật khách quan, góp phần đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ pháp chế XHCN

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy rằng, chất lượng bào chữa tại phiên tòa nhìn chung chưa cao, rất ít Luật sư đưa ra những tài liệu, chứng cứ có tính thuyết phục để bảo vệ có hiệu quả cho thân chủ của mình. Hầu hết các Luật sư mới chỉ dựa vào hồ sơ vụ án và tìm ra trong đó những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Còn không ít trường hợp Luật sư không nhất quán trong quan điểm bào chữa, viện dẫn những điều luật đã lạc hậu, những văn bản đã bị bãi bỏ hoặc bổ sung, sửa đổi. Có trường hợp Luật sư tranh luận gay gắt, tạo ra không khí căng thẳng, thiếu văn hóa pháp lý nơi công đường. Luật sư thường tập trung vào việc phê phán các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thu thập các tài liệu, chứng cứ như: chỉ ra những mâu thuẫn không đáng kể trong hồ sơ, những vi phạm thủ tục nhỏ. Đối với các vụ án kinh tế  hoặc có yếu tố chiếm đoạt, Luật sư thường viện dẫn các quy định của pháp luật về dân sự, kinh tế để “lái” vụ án theo hướng vi phạm về dân sự, là quan hệ vay nợ và cho rằng các cơ quan pháp luật đã hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế. Một số Luật sư khi thấy bị cáo rõ ràng là có tội, tất yếu không tránh khỏi hình phạt nhưng để tìm cách gỡ tội cho bị cáo, họ đã “đạo diễn” hoặc tạo cớ cho rằng bị cáo có dấu hiệu của một người không bình thường rồi đề nghị trưng cầu giám định tâm thần nhằm trì hoãn xét xử đã dẫn đến việc giải quyết vụ án bị kéo dài.

Phần lớn Luật sư bào chữa cho bị cáo chưa được tham gia từ giai đoạn khởi tố điều tra vụ án, thường họ chỉ được tham gia từ giai đoạn xét xử nên có nhiều trường hợp không bảo vệ được kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và đương sự trong giai đoạn điều tra vụ án. Do vậy, việc bào chữa hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị cáo và đương sự tại phiên tòa có nhiều khó khăn. Không ít trường hợp Luật sư do Tòa án chỉ định theo quy định của pháp luật họ thường thực hiện vai trò bào chữa chỉ là nghĩa vụ mà chưa phát huy hết khả năng và trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được bào chữa.

Một số Luật sư chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của người bào chữa theo quy định của BLTTHS, chỉ tập trung vào chứng cứ chứng minh theo hướng nhẹ tội cho bị cáo, thậm chí theo hướng bị cáo không có tội, nên việc đưa ra các chứng cứ, lập luận không khách quan, không có căn cứ pháp luật, cách đặt câu hỏi thường mớm cho bị cáo khai.

Sự phối hợp giữa công tác quản lý Nhà nước về Luật sư và công tác quản lý các Đoàn Luật sư chưa thực sự có hiệu quả. Tuy nhiên, việc phát hiện, xử lý còn hạn chế, ảnh hưởng tới uy tín chung của giới Luật sư và sự tôn nghiêm của pháp luật.

 2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp

Thứ nhất : cần phải quy định trong BLTTHS tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử : Hiện nay đã có nhiều quy định về tranh tụng nằm rải rác ở một số điều trong BLTTHS, như các điều 5,11,19,50,51,52,53,54,58… nhưng chưa được ghi nhận với tính chất như một nguyên tắc cơ bản, độc lập của TTHS Việt Nam. Do đó, để nâng cao chất lượng tranh tụng dân chủ tại phiên tòa hình sự, một yêu cầu trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới ở nước ta như các Nghị quyết 08-NQ/TW, số 48-NQ/TW và số 49-NQ/TW đã nêu và làm cơ sở cho việc xây dựng các quy định cụ thể vấn đề tranh tụng tại phiên tòa, cần phải đưa vấn đề tranh tụng lên thành một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xét xử.

Thứ hai, cần sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS về vấn đề tranh tụng, cụ thể :

Điều 10 của BLTTHS quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có Tòa án, trách nhiệm chứng minh bị cáo có tội hay không có tội tại phiên tòa đó là của HĐXX. Do vậy, hiện nay tại phiên tòa, HĐXX cũng tiến hành một số hoạt động tố tụng để chứng minh tội phạm. Ví dụ: HĐXX sẽ nhắc hoặc công bố lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra nếu lời khai của họ tại phiên tòa có mâu thuẫn với lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không khai, vắng mặt hoặc đã chết ( Điều 208 ). Như vậy, phải chăng Tòa án cũng là một cơ quan có chức năng buộc tội ? Do việc quy định không rõ ràng về trách nhiệm chứng minh tội phạm của các chủ thể tại phiên tòa nên có quan điểm cho rằng TTHS Việt Nam thuộc hệ tố tụng xét hỏi, các giai đoạn từ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đều là các tầng nấc liên tiếp khác nhau của quá trình buộc tội. Để Tòa án đúng là “cơ quan xét xử, cầm cân nảy mực” và đảm bảo cho việc tranh tụng tại phiên tòa diễn ra dân chủ, bình đẳng, khách quan thì cần phải xác định rõ vai trò của HĐXX tại phiên  tòa là người trọng tài giữa bên buộc tội và bên bào chữa để phán quyết về vụ án.

Mặt khác, do BLTTHS chưa quy định tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của TTHS nên các quy định của Bộ luật chưa cụ thể hóa đầy đủ tính chất tranh tụng tại phiên tòa. Một số quy định của Bộ LTTHS đặt gánh nặng trách nhiệm chứng minh tội phạm lên vai HĐXX (ví dụ Điều 207 quy định : “khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa …”). Vì vậy, chính các chủ thể tham gia tranh tụng (Kiểm sát viên, Luật sư …) cũng chưa ý thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình trong tranh tụng. Việc xét hỏi tại phiên tòa là một giai đoạn của quá trình tranh tụng tại phiên tòa, cho nên cần phải để các bên tranh tụng thực hiện trách nhiệm chứng minh (VKS, người bào chữa…) tiến hành xét hỏi là chủ yếu, còn HĐXX thực hiện việc giám sát, duy trì trình tự xét hỏi và có quyền tham gia vào quá trình xét hỏi ở bất kỳ thời điểm nào khi thấy cần thiết phải làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án chưa được các bên làm rõ trong quá trình xét hỏi. BLTTHS cần xác định rõ tại phiên tòa vai trò của HĐXX chỉ là người “trọng tài” giữa bên buộc tội và bào chữa để ra phán quyết về vụ án, còn việc xét hỏi theo hướng buộc tội là trách nhiệm của Kiểm sát viên, việc xét hỏi gỡ tội hoặc giảm nhẹ TNHS cho bị cáo là trách nhiệm của người bào chữa. Vì vậy, đề nghị sửa đổi các quy định về xét hỏi theo hướng : khi xét hỏi, Kiểm sát viên hỏi trước, sau đó đến người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, các thành viên HĐXX có thể hỏi bất kỳ ở thời điểm nào nếu xét thấy cần thiết nhằm làm sáng tỏ các tình tiết về vụ án hoặc mang tính chất nêu vấn đề để các bên tập trung xét hỏi làm rõ, còn việc hỏi để buộc tội và gỡ tội dành cho Kiểm sát viên và người bào chữa.

Thực tiễn cho thấy trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, nhiều khi những câu hỏi, đáp của các bên tranh tụng không đi thẳng vào vấn đề, không giải quyết thỏa đáng những mâu thuẫn, khúc mắc còn tồn tại nên cần có những quy định cụ thể và chi tiết hơn nữa về quyền và nghĩa vụ của Kiểm sát viên và người bào chữa trong quá trình tranh tụng, thúc đẩy sự chủ động tranh tụng của Kiểm sát viên và Luật sư. Để tạo ra một cơ chế  thực sự dân chủ và bình đẳng tại phiên tòa, tạo điều kiện để thực hiện một cách có hiệu quả nhất quyền buộc tội và gỡ tội, những quy định này phải được quy định trong văn bản tố tụng có giá trị pháp lý cao nhất là BLTTHS.

BLTTHS không quy định bắt buộc tất cả các vụ án hình sự đều phải có sự tham gia của người bào chữa nên trong thực tiễn phần lớn các vụ án hình sự không có người bào chữa tham gia. Các điều 49, 50 của Bộ luật không quy định quyền thu thập chứng cứ của bị can, bị cáo trong trường hợp họ không có người bào chữa. Để bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình và đảm bảo việc chứng minh của các cơ quan tiến hành tố tụng được khách quan, toàn diện, cần bổ sung quyền thu thập chứng cứ của bị can, bị cáo trong trường hợp họ không thể thu thập được thì có thể yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ. Cũng cần bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của bị can, bị cáo, nếu chứng cứ đó có lợi cho họ trong việc bào chữa.

Ngoài ra, trong thực tiễn xét xử những trường hợp bị cáo có những lý lẽ (có thể là chưa phù hợp với thực tế khách quan) nhằm bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, thì thường bị coi là có thái độ không thành khẩn nhận tội và nhiều trường hợp đã được nhận định trong bản án để đánh giá nhân thân của bị cáo…Để thực sự đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giữa Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa trong BLTTHS cần quy định: “Bị cáo có quyền sử dụng những biện pháp và cách thức mà pháp luật không cấm để bào chữa trước tòa, không bị coi là những tình tiết đánh giá về nhân thân cũng như về ý thức của họ.

Chức năng của Tòa án trong TTHS là xét xử, có ý nghĩa là vai trò Tòa án là người trọng tài đứng giữa bên buộc tội và bên bào chữa để giải quyết vụ án. Bởi vậy, Tòa án chỉ có thể thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý thuộc về chức năng xét xử. Khởi tố vụ án hình sự tuy chưa phải là buộc tội đối với một người cụ thể nhưng đó là nhiệm vụ thuộc về chức năng buộc tội. Điều 13, Điều 104 của BLTTHS quy định Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự là chưa phù hợp. Nếu nhằm mục đích không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm thì chỉ nên quy định Tòa án được quyền yêu cầu VKS khởi tố vụ án nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới là đủ.

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động tranh tụng tại các phiên tòa hình sự, theo chúng tôi cần tiến hành đồng bộ các giải pháp khác nhau, đó là: các giải pháp pháp lý; các giải pháp về tổ chức; các giải pháp về con người, các giải pháp vật chất – kỹ thuật và có chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ thỏa đáng phù hợp với hoạt động đặc thù của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán…Các giải pháp này liên quan chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, giải pháp này là tiền đề và điều kiện để tiến hành các giải pháp kia và ngược lại.

Các giải pháp về hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS hiện hành liên quan đến hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự có ý nghĩa quan trọng, góp phần thiết thực vào quá trình tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật; giải quyết các vấn đề vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự và cải cách hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng các cấp; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự ở nước ta.

Chú thích:

1. Khoa Luật Trường Đại học Cannor Mỹ (2001), cải cách Tòa án, Thông tin khoa học xét xử số 1/2003, tr.10.

2. Elisabeth Pelsez, Tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi, Thông tin khoa học xét xử số 1/2003, tr.3.

3. Từ điển Tiếng việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1991, tr.1238.

4. Nguyễn Thúc Linh, Từ điển Luật học diễn giải, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn 1972.

ThS. Trần Duy Bình

Theo: Cổng thông tin điện tử TANDTC (http: toaan.gov.vn)

About these ads
 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 56 other followers

%d bloggers like this: