Một nguyên tắc hiến định: Tòa án cơ quan tư pháp duy nhất có chức năng xét xử nên phải độc lập với các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị. Đặc biệt, tòa không bị ràng buộc địa giới hành chính do cơ quan hành pháp quản lý. Mô hình tòa án khu vực tái khẳng định điều này.…
Hiến pháp năm 1946 quy định: Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gồm Tòa án Tối cao; Các tòa án phúc thẩm; Các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp. Mô hình, tên gọi các tòa trên vẫn còn nguyên giá trị, mang đậm tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền. Vì thế khi cải cách tổ chức, hoạt động ngành tòa án nên giữ tư tưởng uyên bác này của Người.
Trong cải cách tư pháp thì vấn đề cải cách tổ chức và hoạt động của tòa án theo tinh thần Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị là một vấn đề rất quan trọng, đặc biệt là ở Tòa án Tối cao. Trước tiên, phải xác định Tòa án Tối cao là cơ quan tư pháp cao nhất chứ không chỉ là cơ quan xét xử cao nhất. Đây là cơ quan thực thi quyền tư pháp mà không một cơ quan, tổ chức nào trong hệ thống chính trị có quyền này. Theo Nghị quyết 49, đây là tòa có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. So với chức năng, nhiệm vụ hiện hành thì TAND Tối cao sau khi cải cách sẽ không còn chức năng xét xử phúc thẩm, thêm nhiệm vụ “phát triển án lệ”.
Về tổ chức con người của Tòa án Tối cao sau khi cải cách có sự thay đổi lớn so với bộ máy hiện hành theo hướng tinh, gọn (không quá 20 thẩm phán tối cao). Cơ quan này phải tập hợp không chỉ các thẩm phán là những chuyên gia đầu ngành mà còn tập hợp các chuyên gia đầu ngành về các lĩnh vực pháp luật. Nếu Tòa án Tối cao không có đội ngũ chuyên gia đầu ngành thì không thể đảm đương được nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ như yêu cầu của Nghị quyết 49.

