RSS

Monthly Archives: Tháng Hai 2012

Phân biệt tội giết người quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ Luật hình sự (BLHS) với tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 3 Điều 104 BLHS

- Khoản 2 Điều 93 quy định: “Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.”

Như vậy, nhà làm luật đã thiết kế Điều 93 BLHS tương đối đặc biệt hơn so với các Điều luật khác trong phần tội phạm, đó là cấu thành cơ bản của tội phạm ở khoản 1 điều này lại là cấu thành tăng nặng và khoản 2 của điều luật này lại là cấu thành giảm nhẹ. Theo đó nếu như không có 16 tình tiết tăng nặng tại các điểm từ a đến q của khoản 1. (Thực ra không phải chỉ có 16 tình tiết tăng nặng mà trong các điểm còn có thiết kế ghép các tình tiết tăng nặng khác nhau. Ví dụ, điểm d “giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân” hoặc điểm đ “giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình”), thì người phạm tội chỉ bị xử phạt theo khoản 2 Điều 93 BLHS, trong nghề Tòa án vẫn gọi là giết người thông thường.

- Khoản 3 Điều 104 BLHS quy định “Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm”.

Trong các tình tiết định tội ở khung cơ bản của Điều 104 BLHS có những tình tiết giống như tình tiết tăng nặng tại khoản 1Điều 93 BLHS. Ví dụ như điểm d “đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già yếu, ốm đau…”; điểm đ “Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình”; điểm e “có tổ chức”; điểm h, điểm i và điểm k “Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê”; “Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm”; “Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân”. Tuy nhiên, các tình tiết của khoản 1 Điều 104 BLHS là tình tiết định tội cho những trường hợp tỷ lệ thương tích dưới 11%, còn các tình tiết tại khoản 1 Điều 93 BLHS là các tình tiết định khung tăng nặng.

Read the rest of this entry »

 
 

Những vướng mắc về vấn đề tổng hợp hình phạt tù với án treo trong thực tiễn xét xử hiện nay

Theo quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự quy định tại khoản 1 và 5 thì:

“1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm…

5. Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này”.

Như vậy, theo quy định tại khoản 5 Điều 60 Bộ luật hình sự thì người nào được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách (không phân biệt tội cố ý hay vô ý) thì đều bị Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước rồi tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Việc quy định như vậy cũng tương đối là rõ ràng, song vấn đề đặt ra ở đây là có phải bất cứ trường hợp nào mà một người đã được hưởng án treo lại phạm tội trong thời gian thử thách thì tòa án không thể cho họ được hưởng án treo một lần nữa không? Thực tiễn xét xử hiện nay, chúng ta vẫn thường cho rằng nếu bất kỳ ai mà phạm tội trong thời gian thử thách thì đều không được hưởng án treo một lần nữa, theo chúng tôi nhận thức như vậy cũng chưa phải là đúng, vì có nhiều trường hợp người phạm tội trong thời gian thử thách nhưng là loại tội do vô ý, chứ không phải do cố ý, nếu chúng ta cứ cho rằng họ phạm tội trong thời gian thử thách để làm căn cứ quyết định áp dụng hình phạt tù giam mà không dám cho họ hưởng án treo một lần nữa là việc vận dụng quá“cứng” và máy móc. Chúng tôi cho rằng kể cả họ có phạm tội trong thời gian thử thách nhưng đó là tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng nhưng do vô ý và có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì chúng ta vẫn có thể cho họ được hưởng án treo một lần nữa và tổng hợp như trường hợp tổng hợp hình phạt của cải tạo không giam giữ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 50 là:

Read the rest of this entry »

 
3 Comments

Posted by on 28.02.2012 in Luật Hình Sự

 

Bàn về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên

Trong những năm gần đây, vấn đề người chưa thành niên phạm tội đã gióng lên những hồi chuông cảnh tỉnh đáng báo động. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của Bộ Công an (http://mps.gov.vn) chỉ tính riêng trong năm 2010, trên địa bàn cả nước có 13.572 đối tượng phạm tội là thanh thiếu niên, tăng nhiều lần so với những năm trước cả về số lượng phạm tội lẫn các vụ trọng án. Về độ tuổi, theo thống kê của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội thì tình hình tội phạm do người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện có chiều hướng gia tăng và chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 60%; từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chiếm khoảng 32% và dưới 14 tuổi chiếm khoảng 8% trong tổng số các vụ phạm tội do người chưa thành niên và trẻ em thực hiện. Về cơ cấu tội phạm, theo thống kê mới nhất của Viện kiểm sát Nhân dân tối cao và Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, thì hành vi vi phạm pháp luật hình sự của người chưa thành niên tập trung nhiều nhất vào các nhóm tội xâm phạm sở hữu; xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm và danh dự con người, một số tội xâm phạm an toàn trật tự công cộng. Trong đó, tội danh trộm cắp tài sản chiếm 38%, cố ý gây thương tích chiếm 11%, đặc biệt là giết người chiếm 1,4% trong tổng số tội phạm do người chưa thành niên thực hiện. Tuy nhiên, khi xét xử một số vụ án do người chưa thành niên gây ra (nhất là một số vụ trọng án) trong thời gian gần đây, có nhiều ý kiến cho rằng hình phạt dành cho các bị cáo là người chưa thành niên chưa tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội. Điều này đặt ra vấn đề là: Vậy thế nào là người chưa thành niên, có nên giảm độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội hay không?. Sau đây xin được đưa ra một vài ví dụ cụ thể về các vụ án do người chưa thành niên gây ra trong thời gian vừa qua.

* Vụ án thứ nhất: Ngày 27-5-2011, VKSND thành phố Hà Nội đã hoàn tất cáo trạng truy tố Đào Thị Thu Hương (tức My sói) sinh năm 1996 ở quận Hoàng Mai, Hà Nội và đồng bọn về tội “hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em và cướp tài sản”. Cùng bị truy tố với My sói là các đồng phạm Trịnh Thăng Long (sinh năm 1992) ở xã Công Chính, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa; Nguyễn Xuân Thắng (sinh năm 1993) ở Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội, Nguyễn Đức Hoàng (sinh năm 1992) ở phường Điện Biên, Đống Đa, Hà Nội; Lê Quang Vinh (sinh năm 1991) ở quận Hoàng Mai, Hà Nội và Trần Hoàng Nam (sinh năm 1992) ở quận Long Biên, Hà Nội. Do cần tiền tiêu xài, Đào Thị Thu Hương và Trịnh Thăng Long (là người tình của Hương) nảy ra ý định lừa các phụ nữ đưa vào nhà nghỉ nhằm mục đích hiếp dâm và cướp tài sản. Để thực hiện, nhóm này lên mạng internet để “chat” làm quen Read the rest of this entry »

 
 

Khi nào được xem là hoạt động điều tra?

Có quan điểm cho rằng chỉ khi có quyết định khởi tố vụ án, còn quan điểm khác bảo bắt đầu từ khi có tố giác của công dân…

Mới đây, TAND tỉnh Khánh Hòa đã tuyên phạt Trần Bá Tuấn và Nguyễn Đình Quyết mỗi người chín tháng tù treo về tội dùng nhục hình. Tại phiên tòa, một vấn đề được hai bị cáo, luật sư bào chữa và vị công tố viên đặt ra tranh luận: Các hoạt động trước khi có quyết định khởi tố vụ án có phải là hoạt động điều tra hay không.

Đây là nội dung rất quan trọng, bởi nếu các hoạt động trước khi có quyết định khởi tố vụ án không được coi là hoạt động điều tra mà chỉ coi là công tác xác minh, kiểm tra giải quyết tin báo tội phạm thì việc truy tố, xét xử hai bị cáo về tội dùng nhục hình là chưa chính xác.

Đánh đập, chích điện

Theo hồ sơ, bà Trần Thị Lan là người giúp việc cho gia đình ông VHT. Do bị mất tiền và nghị ngờ bà Lan lấy nên ông T. báo công an. Tiếp nhận tin báo, lãnh đạo Công an TP Nha Trang (Khánh Hòa) đã phân công điều tra viên Trần Bá Tuấn và cán bộ trinh sát Nguyễn Đình Quyết đi xác minh.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, từ ngày 28 đến 29-11-2010, Tuấn và Quyết đã dùng công cụ hỗ trợ là gậy cao su, dùi cui điện đánh đập, chích điện nhiều lần vào tay, chân, vai bà Lan để ép bà Lan khai nhận hành vi trộm cắp. Đến ngày 30-11-2010, bà Lan bị ngất xỉu trong nhà tạm giữ nên được đưa đi cấp cứu và điều trị.

Người nhà bà Lan đã làm đơn tố giác đến một số cơ quan chức năng. Kết quả điều tra của VKSND Tối cao xác định có cơ sở cho thấy bà Lan bị hai điều tra viên trên đánh trong khi bị tạm giữ nên khởi tố vụ án…

Read the rest of this entry »

 

Cách viết bản án hình sự

 I. Mục đích, ý nghĩa của bản án hình sự

          Bản án hình sự là một văn bản tố tụng hình sự ghi nhận các kết luận và quyết định của Hội đồng xét xử, cao hơn nữa đó là sự đánh giá của Nhà nước đối với một hành vi, một con người cụ thể khi hành vi đó, con người đó bị truy tố trước Tòa án. Bản án hình sự đánh dấu sự kết thúc của quá trình điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, do vậy bản án phải phản ánh trung thực diễn biến của vụ án và phải xác định rõ sự thật khách quan, đó là: có sự việc phạm tội xảy ra không?, ai là người đã thực hiện các hành vi đó và hành vi đó có cấu thành tội phạm không?, nếu là tội phạm thì phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của Bộ luật hình sự?, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội, động cơ, mục đích, hoàn cảnh, điều kiện của tội phạm đó… Căn cứ vào các kết luận, các phân tích, đánh giá nêu trên để Hội đồng xét xử Quyết định hình phạt cho tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội. Nếu không có tội thì Hội đồng xét xử phải xác định những căn cứ để tuyên bố bị cáo không phạm tội và giải quyết việc phục hồi danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.

          Theo nguyên tắc “Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án” (Nguyên tắc suy đoán vô tội) – Điều 9 BLHS năm 2003.

          Do đó, bản án hình sự có hiệu lực pháp luật là sự thể hiện quyền lực của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Hoạt động xét xử mà kết quả là việc hội đồng xét xử ra bản án để xác định một người có tội hay không có tội, phải chịu hình phạt hay không phải chịu hình phạt có ý nghĩa chính trị, xã hội rất sâu sắc và trước hết trực tiếp ảnh hưởng tới người bị đưa ra xét xử. Bản án hình sự tuyên đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không chỉ có ý nghĩa về mặt đảm bảo pháp chế Xã hội chủ nghĩa được thực hiện nghiêm minh mà còn mang tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm trong xã hội, đồng thời tạo ra niềm tin của nhân dân vào công lý.

Read the rest of this entry »

 

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc xét hỏi của kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự

Xét hỏi tại phiên toà mà nhiều người quen gọi là “thẩm vấn”. Xét hỏi tại phiên toà là một phần (một giai đoạn) của quá trình xét xử một vụ án hình sự, trong đó Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự phải kiểm tra các chứng cứ, kết luận điều tra, bản cáo trạng một cách công khai về những tình tiết của vụ án. Trong giai đoạn xét hỏi tại phiên toà, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự phải trực tiếp xét hỏi bị cáo, người bị thiệt hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, nghe kết luận của người giám định, xem xét xác vật chứng, đọc biên bản, công bố lời khai, công bố các tài liệu, xem xét tại chỗ… áp dụng các biện pháp được Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xem xét, đánh giá các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, nhằm xác định sự thật của vụ án, đồng thời loại bỏ những tình tiết không liên quan đến vụ án.

Xét hỏi là giai đoạn trung tâm của hoạt động xét xử và cũng là giai đoạn quan trọng nhất để xác định sự thật vụ án, có thể những câu hỏi và những câu trả lời tại phiên toà không khác với những câu hỏi và câu trả lời ở giai đoạn điều tra, nhưng nó có một ý nghĩa vô cùng quan trọng ở chỗ: Việc hỏi và trả lời được diễn ra công khai, nó là hình thức kiểm nghiệm kết quả điều tra của Cơ quan điều tra. Ngoài việc xét hỏi, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự còn xem xét vật chứng, xem xét hiện trường xảy ra vụ án và những nơi khác, công bố các tại liệu v.v…Cũng chính vì Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự còn có những hoạt động khác ngoài việc xét hỏi nên nhiều ý kiến cho rằng chương XX Bộ luật tố tụng hình sự nên có tiêu đề là: “Thủ tục điều tra xét hỏi tại phiên toà”. ý kiến này theo chúng tôi là hợp lý và nó phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng hình sự về căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, đó là: “Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ”.

Như vậy, xét hỏi tại phiên toà là một hoạt động tố tụng rất quan trọng, nếu bỏ qua giai đoạn này là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Từ khi có Nghị quyết Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2-1-2002 Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp thì vấn đề xét hỏi tại phiên toà hình sự lại càng được quan tâm Read the rest of this entry »

 

Một số vấn đề khi áp dụng tình tiết: ” Phạm tội đối với trẻ em”

Phạm tội đối với trẻ em vừa là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 48 Bộ luật hình sự, vừa là tình tiết định tội hoặc định khung hình phạt quy định ở một số tội phạm. Tuy nhiên, về lý luận cũng như thực tiễn xét xử việc hiểu và áp dụng tình tiết này còn nhiều quan điểm khác nhau. Mặt khác, các cơ quan có thẩm quyền cũng chưa giải thích hoặc hướng dẫn chính thức nên thực tiễn xét xử các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng gặp không ít khó khăn khi phải cân nhắc có áp dụng hay không áp dụng các tình tiết này trong vụ án cụ thể. Với bài viết này, chúng tôi cũng không hy vọng sẽ đáp ứng được tất cả những vấn đề mà thực tiễn đặt ra, mà chỉ trao đổi một số điểm để bạn đọc và đặc biệt là các đồng nghiệp tham khảo.

Phạm tội đối với trẻ em là trường hợp người phạm tội xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và các quyền khác mà trẻ em có theo quy định của pháp luật.

Theo Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì người dưới 16 tuổi là trẻ em. Quy định về độ tuổi đối với trẻ em của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cũng phù hợp với quy định của Bộ luật hình sự về độ tuổi của trẻ em. Ví dụ: Điều 112 Bộ luật hình sự quy định: “người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”; Điều 114 Bộ luật hình sự quy định: “người nào cưỡng dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”; Điều 115 Bộ luật hình sự quy định“người nào đã thành niên giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.v.v…

Phạm tội đối với trẻ em được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không chỉ xuất phát từ quan điểm bảo vệ trẻ em là bảo vệ tương lai của đất nước, bảo vệ lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà còn xuất phát từ một thực tế là trẻ em là người không có khả năng tự vệ, và đây là lý do chính mà nhà làm luật quy định “phạm tội đối với trẻ em” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó khi xác định mức độ tăng nặng của tình tiết này sẽ phụ thuộc vào độ tuổi của nạn nhân. Nếu trẻ em càng ít tuổi, sự kháng cự càng yếu ớt thì mức tăng nặng càng nhiều.

Read the rest of this entry »

 
 

Một số vấn đề về chuyển vụ án hình sự

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì sau khi thụ lý hồ sơ vụ án để chuẩn bị xét xử, nếu Toà án thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án mình thì chuyển vụ án cho Toà án có thẩm quyền xét xử vụ án đó. Việc chuyển vụ án trong giai đoạn điều tra là do Cơ quan điều tra đề nghị và Viện kiểm sát quyết định, nhưng việc chuyển vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử lại do Toà án tự quyết định, Toà án chỉ thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Trong khi đó có nhiều trường hợp việc chuyển vụ án của Toà án nếu Viện kiểm sát không đồng ý thì Toà án có thẩm quyền xét xử vụ án đó cũng không xét xử được. Ví dụ: Toà án nhân dân huyện H sau khi thụ lý vụ án hình sự thấy không thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án mình, đã quyết định chuyển vụ án cho Toà án nhân dân huyện M, Toà án nhân dân huyện M cũng thấy vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án mình, nhưng Viện kiểm sát nhân dân huyện M không thay đổi bản cáo trạng vì cho rằng vụ án vẫn thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện H.

Đây là vấn đề tuy không phổ biến nhưng thực tiễn xét xử đã xảy ra nhiều trường hợp do không có sự thống nhất giữa Toà án với Viện kiểm sát dẫn đến việc lẽ ra vụ án phải được chuyển cho Toà án có thẩm quyền xét xử nhưng không chuyển được hoặc Toà án “buộc phải” xét xử vụ án sai thẩm quyền để rồi bị Toà án cấp phúc thẩm hoặc Toà án cấp giám đốc thẩm huỷ bản án vì vi phạm về thẩm quyền xét xử. Ngay cả khi bản án đã bị huỷ vì xét xử không đúng thẩm quyền thì việc giải quyết vụ án đó theo thẩm quyền xét xử cũng gặp khó khăn, nếu như Viện kiểm sát và Toà án không thống nhất về thẩm quyền xét xử.

Việc chuyển vụ án gắn liền với việc xác định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, muốn chuyển vụ án đúng, trước hết phải xác định đúng thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử vụ án.

Về thẩm quyền liên quan đến chuyển vụ án bao gồm thẩm quyền theo việc và thẩm quyền theo lãnh thổ. Bộ luật tố tụng hình sự quy định thẩm quyền điều tra và thẩm quyền xét xử không có gì mâu thuẫn. Vì vậy, nếu Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát xác định đúng thẩm quyền điều tra thì Toà án cũng sẽ xác định đúng thẩm quyền xét xử. Vấn đề còn lại là giải quyết trường hợp tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với nhau, mà đây mới là vấn đề quan trọng.

Read the rest of this entry »

 

Một số vấn đề về giới hạn của việc xét xử

Ngày 26-11-2003, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XI đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự (Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003). So với Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, thì Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có nhiều quy định mới, hoặc sửa đổi, bổ sung, trong đó vấn đề giới hạn của việc xét xử cũng được sửa đổi, bổ sung.

Giới hạn là phạm vi, mức độ nhất định, không thể hoặc không được phép vượt qua.1

Nếu giới hạn là phạm vi, mức độ nhất định, không thể hoặc không được vượt qua thì giới hạn của việc xét xử cũng phải được hiểu là phạm vi, mức độ nhất định, mà Toà án không thể hoặc không được vượt qua.

Khi nói đến giới hạn của việc xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng thường nghĩ ngay đến quy định tại điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 (nay là điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) mà ít khi nghĩ đến phạm vi xét xử.

Theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì “Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử. Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố”. Đây là giới hạn của việc xét xử hiểu theo nghĩa hẹp và cũng chủ yếu đối với Toà án cấp sơ thẩm.

Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì giới hạn của việc xét xử  không chỉ bao gồm nội dung của Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự, mà còn bao gồm cả nội dung về phạm vi, thẩm quyền xét xử của Toà án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Ví dụ: Theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự, thì Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phạm phá hoại hoà bình, chống loài người và các tội phạm chiến tranh; các tội phạm quy định tại các Điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự. Theo quy định này thì Toà án cấp huyện không thể xét xử vượt quá phạm vi quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự.

Read the rest of this entry »

 
 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 72 other followers