RSS

Lưu trữ theo tác giả: Luật Hình Sự

About Luật Hình Sự

Chuyên trang Luật Hình Sự - Tố tụng Hình Sự

Phương hướng hoàn thiện các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự

Xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần thứ nhất (cấp thứ nhất) do Toà án được giao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo Luật tổ chức Toà án nhân dân và Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm ở Việt Nam là các Toà án cấp huyện, Toà án cấp tỉnh, Toà án quân sự khu vực, Toà án quân sự cấp quân khu.

Theo pháp luật tố tụng Việt Nam hiện hành, thì xét xử sơ thẩm được xác định như là một giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình sự, mọi tài liệu chứng cứ của vụ án do Cơ quan điều tra, truy tố thu thập trong quá trình điều tra đều được xem xét một cách công khai tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của nhau, được tranh luận, chất vấn những điều mà tại Cơ quan điều tra họ không có điều kiện thực hiện. Xét xử sơ thẩm được coi như là đỉnh cao cửa quyền tư pháp, tại phiên toà quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được thực hiện một cách công khai, đầy đủ nhất; những lo âu của bị cáo, người bị hại và của những người tham gia tố tụng khác được giải toả tại phiên toà. Tâm lý nói chung đối với những người tham gia tố tụng là mong muốn vụ án nhanh được đưa ra xét xử để họ biết được Toà án sẽ phán quyết như thế nào.

Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng mà ở đó đòi hỏi những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải tập trung trí tuệ, xử lý các tình huống một cách mau lẹ, các lý lẽ đưa ra không chỉ đòi hỏi sự chính xác mà phải có sức thuyết phục, nhưng đồng thời lại phải tuân theo những quy định của pháp luật. Thông qua phiên toà có thể đánh giá được trình độ nghiệp vụ của Thẩm phán, của Hội thẩm, của Kiểm sát viên, của Luật sư và những người tham gia tố tụng tố tụng khác. Cũng thông qua phiên toà mà Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Luật sư nâng cao được trình độ nghiệp vụ năng lực công tác và kỹ năng nghề nghiệp; thông qua phiên toà, những người dự phiên toà hiểu biết thêm về pháp luật, củng cố thêm lòng tin vào Toà án. Vì vậy, việc tổ chức phiên toà sơ thẩm tốt có tác dụng to lớn không chỉ đối với một vụ án cụ thể mà còn có tác dụng đối với việc nâng cao ý thức pháp luật cho mọi công dân.

Read the rest of this entry »

 

Vấn đề định tội trong trường hợp: “Lợi dụng chức vụ quyền hạn” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự – Một số vấn đề cần trao đổi.

Điểm d khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự (BLHS) – Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định về tình tiết định khung “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức”. Về tình tiết “Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức” đã được làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn trong áp dụng luật Hình sự.

Đối với tình tiết “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn”, trong áp dụng pháp luật còn có một số điểm vướng mắc nhất định, cần thiết phải nghiên cứu, trao đổi làm sáng tỏ để nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của việc áp dụng pháp luật Hình sự trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tình tiết “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một tình tiết mới được quy định trong BLHS năm 1999. Theo Từ điển tiếng Việt thì “Lợi dụng” là một động từ gồm hai nghĩa: một là, dùng vào việc gì có ích; hai là, thừa dịp mưu ích riêng cho mình. Trong trường hợp này chúng ta nên hiểu theo nghĩa thứ hai và nếu phát triển theo ngữ nghĩa ấy thì tình tiết “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” trong luật Hình sự được hiểu là dựa vào phần việc phải làm theo chức vụ, quyền hạn để mưu lợi ích riêng cho cá nhân. Nghĩa là dựa vào quyền năng (quyền hành) do chức vụ, quyền hạn mang lại để thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, trong trường hợp này chức vụ, quyền hạn đã được người phạm tội sử dụng như một phương tiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm. Biểu hiện cụ thể của trường hợp này là người phạm tội đã sử dụng quyền năng của mình vào việc thực hiện hành vi gian dối,làm cho người khác tin nhầm tưởng giả là thật mà trao tài sản để chiếm đoạt. Nghiên cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 – BLHS năm 1999, chúng ta nhận thấy rằng, về mặt lập pháp tội phạm này đã được xây dựng dựa trên cơ sở ba điều luật của BLHS năm 1985 đó là: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (XHCN) (Điều 134); Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN (Điều 134 a) và Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân (Điều 157). Trong BLHS năm 1985 tình tiết “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” để lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã được nhà làm luật xây dựng cấu thành một tội phạm độc lập, đó là tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản công dân (Điều 156). Do vậy, trong trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi gian dối (lừa đảo) để chiếm đoạt tài sản và tài sản đó là tài sản của công dân và trong khi thực hiện tội phạm có tình tiết lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì họ bị xử lý về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản công dân theo Điều 156 của BLHS 1985. Trong nhiều giáo trình, sách tham khảo luật Hình sự đã mô tả hành vi khách quan của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản công dân là hành vi chiếm đoạt tài sản của công dân bằng thủ đoạn lạm dụng chức vụ, quyền hạn. Biểu hiện Read the rest of this entry »

 
 

Rút yêu cầu khởi tố: Vẫn cần phải hướng dẫn

Cần phải hướng dẫn đối với việc rút yêu cầu khởi tố đối với một hay hai bị can trong vụ án có nhiều bị can, hướng dẫn với việc rút yêu cầu tại phiên tòa…

Điều 105 BLTTHS chỉ quy định “khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại” nhưng thực tiễn xét xử có nhiều vụ án không chỉ có một bị can, mà có nhiều bị can như báo Pháp Luật TP.HCM ngày 5-4 và ngày 3-5 nêu. Ngoài ra còn có trường hợp vụ án tuy chỉ có một bị can nhưng lại có nhiều người bị hại; có người yêu cầu khởi tố, có người không yêu cầu thì giải quyết thế nào cũng là vấn đề vướng mắc.

Cho phép đình chỉ với từng bị can

Đối với trường hợp vụ án có nhiều bị can mà chỉ có một người bị hại; trước khi xét xử người bị hại làm đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án đối với một bị can trong số nhiều bị can thì tòa án có được đình chỉ vụ án đối với bị can mà người bị hại có đơn rút yêu cầu khởi tố không? Có ý kiến cho rằng điều luật không nói rõ rút yêu cầu khởi tố vụ án hay rút yêu cầu khởi tố bị can nên trường hợp người bị hại làm đơn rút yêu cầu khởi tố cho một bị can thì việc rút yêu cầu này không thuộc trường hợp rút yêu cầu khởi tố theo khoản 2 Điều 105 BLTTHS; vụ án phải tiếp tục được truy tố, xét xử; việc rút yêu cầu khởi tố bị can này chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ cho bị can; chỉ khi nào người bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án thì vụ án mới được đình chỉ.

Theo chúng tôi, hiểu như vậy là máy móc, không đúng với quy định của BLTTHS về trường hợp đình chỉ vụ án. Điều 169 và Điều 180 BLTTHS đều quy định: “Trong trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả bị can thì có thể đình chỉ vụ án đối với từng bị can”. Như vậy, về nguyên tắc, pháp luật cho phép đình chỉ vụ án đối với một bị can trong số nhiều bị can trong cùng một vụ án. Điều 169 và 180 BLTTHS không loại trừ trường hợp đối với khoản 2 Điều 105.

Read the rest of this entry »

 

Một số điểm cần lưu ý khi áp dụng thông tư liên tịch số 7/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP

Tội phạm mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 194 của BLHS năm 1999: “Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Tội phạm mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 194 của BLHS năm 1999: “Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Tuy nhiên trên thực tế xác định như thế nào là hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hay trường hợp người thực hiện mua bán, trao đổi… ma túy giả có được coi là hành vi mua bán trái phép chất ma túy hay không. Từ đó để xử lý người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy đòi hỏi phải có sự thống nhất về đường lối xử lý giữa các ngành, các địa phương, nhằm đảm bảo sự công bằng, đúng pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, điều tra, truy tố người phạm tội trước pháp luật.

Ngày 24/12/2007 Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp đã ký ban hành Thông tư liên tịch số 17/TTLT-BCA- VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999. Theo đó khi xử lý người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy cần chú ý những vấn đề như:

Thứ nhất, mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 194 là một trong các hành vi sau :

+ Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;

+ Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

Read the rest of this entry »

 
 

Về vấn đề áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt tù đối với người phạm tội, một số vướng mắc và kiến nghị

Bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự mà phạm tội, đều bị điều tra, truy tố, xét xử và phải chịu hình phạt. Căn cứ vào quy định tại Điều 45 BLHS thì “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”. Theo cấu trúc của các điều luật thì khi một người bị truy tố, xét xử về một tội phạm nào đó được quy định trong Bộ luật hình sự, thì họ phải chịu mức hình phạt của một trong các hình phạt chính được quy định trong điều luật đó, thậm chí còn phải chịu một hay nhiều hình phạt bổ sung trong chính khung hình phạt của tội phạm đó. Tuy nhiên, cũng có không ít những trường hợp được quyết định hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt mà họ đã bị truy tố đó là:

Theo quy định tại Điều 47 BLHS thì “Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”.

Để áp dụng một cách thống nhất và tránh việc áp dụng một cách tràn lan Điều 47 BLHS, NQ số 01/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn “…Cần hạn chế và phải hết sức chặt chẽ khi áp dụng các quy định tại Điều 47 BLHS năm 1999, trong trường hợp nếu không có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 47 BLHS năm 1999, thì bị cáo phải bị xử phạt ở mức cao của khung hình phạt…” và cũng theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01 nêu trên thì những quy định tại Điều 47 chỉ áp dụng đối với hình phạt chính mà không áp dụng đối với hình phạt bổ sung.

Tại Công văn số 148/2002/KHXX ngày 30/9/2002 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 46 và 47 BLHS có ghi “theo tinh thần quy định tại Điều 47 BLHS, thì Tòa án chỉ có thể quyết định một hình phạt nhẹ hơn dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định từ khoản 1 Điều 46 BLHS. Như vậy, việc Tòa án nào hoặc Hội đồng xét xử nào quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định, khi bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS (cho dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46) là trái với quy định tại Điều 47 BLHS…”.

Read the rest of this entry »

 
 

Một số vấn đề áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự khi quyết định hình phạt tù đối với người phạm tội

Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự thì: “Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”. Thực tiễn áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự gần 10 năm qua cho thấy, nói chung các Toà án đã áp dụng đúng nội Điều 47 Bộ luật hình sự và các hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao, khắc phục được tình trạng quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của của khung hình phạt một cách tuỳ tiện. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự cũng nẩy sinh một số vấn đề vướng mắc; một số Thẩm phán hiểu không đầy đủ các quy định của Điều 47 Bộ luật hình sự và sự liên quan giữa Điều 47 với các điều luật khác quy định trong Bộ luật hình sự như: áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội; áp dụng hình phạt đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, nên khi gặp các trường hợp này, các Thẩm phán đã lúng túng không biết áp dụng như thế nào. Một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành cũng đã đề cập đến việc áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự với các quan điểm khác nhau. Để góp phần vào việc áp dụng thống nhất pháp luật mà cụ thể là việc áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, chúng tôi xin trao đổi một số vấn đề sau:

Trước hết cần tìm hiểu hoàn cảnh ra đời, sự cần thiết của việc nhà làm luật quy định Điều 47 trong Bộ luật hình sự, đồng thời phải hiểu rõ nội dung của Điều 47 và mối liên quan giữa Điều 47 với các điều luật khác trong Bộ luật hình sự, thì việc áp dụng Điều 47 mới báo đảm đúng tinh thần của nhà làm luật.

Như chúng ta đã biết, Bộ luật hình sự năm 1985 cũng quy định trường hợp quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất (khoản 3 Điều 38). Tuy nhiên, nội dung của khoản 3 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định: “khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà Điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn”, mà chưa quy định cụ thể, rõ ràng như Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999, nên thực tiễn xét xử, nhiều Toà án áp dụng khoản 3 Điều 38 không đúng với tinh thần của nhà làm luật; có nhiều trường hợp không nêu được tình tiết giảm nhẹ nhưng vẫn áp dụng khoản 3 Điều 38; có trường hợp Toà án chỉ nhận định một cách chung chung, rồi áp dụng khoản 3 Điều 38 Bộ luật hình sự để xử phạt người bị kết án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, thậm chí có trường hợp điều luật có 4 khung hình phạt nhưng Toà án đã chuyển từ khung hình phạt nặng nhất có mức hình phạt chung thân hoặc tử hình (khoản 4) xuống khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật có mức hình phạt từ 1 năm đến 3 năm (khoản 1). Để khắc phục tình trạng trên, Bộ luật hình sự năm 1999 dành riêng một điều (Điều 47) quy định trường hợp quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự, đồng thời cũng quy định những điều kiện khi quyết định hình phạt hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự, những điều kiện đó là: 

Read the rest of this entry »

 
 

Rút yêu cầu khởi tố: Không có gì tranh cãi!

Người bị hại làm đơn rút yêu cầu khởi tố hoặc bãi nại cho một bị can (trong số nhiều bị can) thì không thuộc trường hợp rút yêu cầu khởi tố vụ án nên vẫn phải tiếp tục truy tố, xét xử…

Bài viết “Rút yêu cầu khởi tố: Nhiều tình huống tranh cãi” (Báo Pháp Luật TP.HCM ngày 5-4) dẫn quan điểm của một số chuyên gia pháp luật cho thấy có sự tranh cãi về việc người bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa, rút yêu cầu khởi tố đối với một trong nhiều bị can… Tuy nhiên, theo tôi, việc rút yêu cầu khởi tố không có gì tranh cãi!

Chỉ xem là tình tiết giảm nhẹ

Với tình huống mà bài báo đặt ra: Anh A yêu cầu xử lý hình sự B và C vì đánh anh gây thương tích (thuộc trường hợp ở khoản 1 Điều 104 BLHS). Cơ quan điều tra đã khởi tố cả B lẫn C. Trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm, anh A bãi nại và xin rút yêu cầu khởi tố đối với B. Gặp trường hợp này, cơ quan tố tụng phải làm thế nào?

Có chuyên gia đã bảo người bị hại tha thứ và bãi nại cho một bị can nào đó thì họ được quyền rút yêu cầu khởi tố đối với bị can đó. Những bị can còn lại vẫn phải bị điều tra, truy tố, xét xử bình thường. Người khác thì nói dù anh A chỉ làm đơn bãi nại và xin rút yêu cầu khởi tố đối với riêng B thì cơ quan tố tụng cũng phải đình chỉ giải quyết cả vụ án, đình chỉ điều tra cả B lẫn C.

Theo tôi, khi xem xét Điều 105 BLTTHS (Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại) phải hiểu luật quy định khởi tố vụ án khi có yêu cầu và khi làm rõ bị can nào thì khởi tố bị can đó, không cần biết người bị hại có yêu cầu khởi tố bị can cụ thể nào không.

Về rút yêu cầu khởi tố, theo khoản 2 Điều 105 BLTTHS, người bị hại rút yêu cầu khởi tố thì vụ án phải được đình chỉ. Điều luật không nói rõ rút yêu cầu khởi tố vụ án hay rút yêu cầu khởi tố bị can. Tuy nhiên, liên hệ với tiêu đề Điều 105 thì ta phải hiểu là rút yêu cầu khởi tố vụ án.

Read the rest of this entry »

 

Cần thu hẹp đối tượng bị tạm giam

Ngoài việc thu hẹp việc tạm giam thì cần quy định chặt các căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác như phải có chế tài với người nhận bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ cam đoan…

Khoản 2 Điều 88 BLTTHS quy định hạn chế tạm giam đối với người chưa thành niên, phạm tội ít nghiêm trọng; không tạm giam phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh nặng có nơi cư trú rõ ràng. Trừ các trường hợp bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã… Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều chuyên gia pháp lý, nhiều người phạm tội ít nghiêm trọng như gây ra tai nạn giao thông, tội phạm trẻ vị thành niên hay phụ nữ có thai vẫn bị áp dụng chế độ này.

Sẩy thai vì bị tạm giam

Tháng 9-2010, Q. bị Công an TP N. bắt tạm giam về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Q. trình giấy khám tại bệnh viện xác nhận mình đang có thai sáu tuần. Dù không thuộc các trường hợp loại trừ nào như trên nhưng theo công an, hành vi của bị can thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng và có dấu hiệu bỏ trốn nên vẫn bắt về trại. Trước khi trình ký lệnh bắt, điều tra viên không báo cho VKSND cùng cấp biết Q. có giấy khám thai. Sau khi vào trại tạm giam mấy ngày, Q. có dấu hiệu đau đớn và kiệt sức. Bác sĩ tại trại giam thăm khám cho biết Q. bị mất con… Tiếp đó, bị can cũng phải đưa đi cấp cứu tại một bệnh viện ngoài trại giam.

Cuối năm 2011, nhóm của NQD (học sinh lớp 11) cùng một nhóm khác hẹn “giải quyết mâu thuẫn” ngay trước cổng trường. Trong lúc xô xát, D. dùng cây gỗ đánh gãy tay và gây nhiều thương thích khác cho một người thuộc nhóm kia. Ngay sau đó D. bị bắt tạm giam ba tháng, bị khởi tố về tội cố ý gây thương tích. Quá trình điều tra, luật sư của bị can và người giám hộ nhiều lần làm đơn xin cho D. được tại ngoại nhưng đều bị từ chối. Mãi đến khi hồ sơ vụ án được chuyển qua TAND huyện thì đề nghị của luật sư mới được chấp nhận.

Read the rest of this entry »

 
 

Hoàn thiện nguyên tắc xác định sự thật của vụ án

Điều 10 BLTTHS quy định nguyên tắc xác định sự thật của vụ án có hai nội dung quan trọng, một là cơ quan điều tra.

VKS, tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định không có tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Hai là trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải chứng minh là mình không có tội.

Quy định trên cơ bản thể hiện được trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định sự thật, bảo đảm giải quyết đúng đắn, khách quan vụ án, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Tuy nhiên, theo tôi, quy định của điều luật còn những hạn chế, chưa thể hiện hết các yêu cầu cải cách tư pháp, tăng cường tranh tụng trong tố tụng hình sự hiện nay ở nước ta. Cụ thể là:

Thứ nhất, điều luật quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm chung thuộc cơ quan điều tra, VKS, tòa án; chưa phân biệt được trách nhiệm chứng minh của mỗi cơ quan trên cơ sở chức năng tố tụng hình sự. Về bản chất, cơ quan điều tra, VKS có chức năng buộc tội; còn tòa án có chức năng xét xử trên cơ sở buộc tội của VKS và gỡ tội của bị cáo, người bào chữa…

Thứ hai, điều luật quy định trách nhiệm cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định không có tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Nếu xem qua thì điều luật đã xác định cụ thể các vấn đề thuộc sự thật của vụ án cần được chứng minh. Tuy nhiên, so sánh với Điều 63 BLTTHS về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự thì quy định của Điều 10 BLTTHS còn chưa đầy đủ. Sự thật của vụ án hình sự không chỉ gói gọn trong các chứng cứ có tội hay không có tội, chứng cứ về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà còn nhiều vấn đề khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án như các tình tiết thuộc nhân thân bị cáo, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, các tình tiết liên quan đến việc bồi thường…

Read the rest of this entry »

 
 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 72 other followers