RSS

Category Archives: Luật Hình Sự

Thông tin pháp luật hình sự

Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Theo Điều 95 BLHS thì “Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Thực chất, trước đây tội danh này là tình tiết định khung hình phạt giảm nhẹ của tội giết người (khoản 3 Điều 101 BLHS 1985), nay được tách ra thành Điều 95 BLHS 1999.

Phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân. Vậy thế nào là trái pháp luật nghiêm trọng? Vấn đề này cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng trái pháp luật nghiêm trọng là việc nạn nhân đã thực hiện những hành vi mà những hành vi đó đã thỏa mãn các yếu tố để cấu thành một tội phạm hình sự. Chúng tôi đồng tình với quan điểm này và cho rằng, ngoài ra hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân không chỉ trong lĩnh vực pháp luật hình sự mà rộng hơn còn có thể trái pháp luật trong lĩnh vực pháp luật khác. Ví dụ như nợ nhưng cố tình dây dưa không trả, còn thách đố, các hành vi thường xuyên chèn ép, hành hạ, ngược đãi…

Tuy nhiên, theo điều luật thì hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân phải trực tiếp với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội. Người thân thích của người phạm tội là cha, mẹ, vợ, con, ông, bà, anh chị em ruột. Trong thực tiễn, cũng có những trường hợp mặc dù không phải là người thân thích, nhưng nếu người phạm tội thấy nạn nhân có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của người đó với người khác mà thực hiện hành vi phạm tội thì có được coi là trạng thái tinh thần bị kích động mạnh không?

Read the rest of this entry »

 

Về việc xác định hung khí nguy hiểm

Điểm 3.1 mục 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã hướng dẫn áp dụng tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm” để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điểm a, khoản 1 Điều 104 BLHS) là những trường hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Như vậy, hung khí nguy hiểm được hiểu theo nghĩa rộng hơn; hung khí nguy hiểm có thể là vũ khí hoặc phương tiện phạm tội.

Phương tiện nguy hiểm dùng để phạm tội là những dụng cụ, công cụ được chế tạo để phục vụ cuộc sống, cũng có thể là vật có sẵn trong tự nhiên hoặc do người phạm tội tự tạo ra để làm phương tiện phạm tội. Dù nguồn gốc nào chăng nữa, nếu người phạm tội sử dụng những phương tiện này thì có thể gây thương tích, tổn hại sức khỏe hoặc xâm phạm tính mạng của người khác.

Ví dụ: dùng xe máy, xe ô tô để giết người; mài thanh sắt nhọn để đâm người, dùng hòn đá, cành cây cứng để tấn công người khác…

Ví dụ: A dùng dao nhọn để tấn công B và gây thương tích cho B, hành vi phạm tội của A có tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 BLHS.

Bản thân hung khí nguy hiểm đã chứa đựng khả năng gây ra nguy hiểm. Tuy nhiên tính nguy hiểm của hung khí đó đến đâu còn phụ thuộc vào khả năng sử dụng của người sử dụng các hung khí nguy hiểm đó.

Ví dụ: Người sử dụng súng tiểu liên AK bắn từng viên đạn vào đám đông ít nguy hiểm hơn trường hợp họ để nấc liên thanh nhằm vào đám đông để bắn; Một người dùng Axít để gây thương tích cho người khác, nếu họ cho axít vào chai để vẩy thì khả năng gây thương tích hạn chế hơn so với việc họ cho vào bát để hắt vào người khác…

Read the rest of this entry »

 

Một số vấn đề áp dụng tình tiết “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” quy định tại điểm b khoản 1 điều 104 bộ luật hình sự

Theo điểm B khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự thì nhà làm luật chỉ quy định “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân”, còn các khoản 2, khoản 3 và khoản 4 của điều luật không quy định “gây cố tật, cố tật nặng, cố tật rất nặng và cố tật đặc biệt nặng”, mà chỉ quy định: “…nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”. Ví dụ: khoản 2 Điều 104 quy định: “Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”, tương tự như vậy, khoản 3 Điều 104 quy định: “Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người, hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này

Như vậy, nếu bị cáo gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% nhưng thuộc trường hợp quy định tại điểm B (gây cố tật nhẹ) thì bị áp dụng khoản 2 điều 104 Bộ luật hình sự; tương tự như vậy, nếu bị cáo gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm B (gây cố tật nhẹ) thì bị áp dụng khoản 3 điều 104 Bộ luật hình sự.

Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 104 Bộ luật hình sự có nêu: Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân là làm mất một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm mất chức năng một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm giảm chức năng hoạt động của một bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ của nạn nhân và đã lấy một số trường hợp trong. Bản quy định tiêu chuẩn thương tật (ban hành kèm theo Thông tư số 12/TTLB ngày 26-7-1995 của Liên Bộ Y tế, Lao động – Thương binh và Xã hội “quy định về tiêu chuẩn thương tật và tiêu chuẩn bệnh tật mới”) để làm ví dụ như: gây thương tích làm mất đốt ngoài (đốt 2) của ngón tay cái hoặc làm mất hai đốt ngoài (2+3) của ngón tay trỏ có tỷ lệ thương tật từ 8% đến 10%; gây thương tích làm cứng khớp các khớp liên đốt ngón tay giữa (III) ở tư thế bất lợi có tỷ lệ thương tật từ 7% đến 9%; gây thương tích làm một mắt giảm thị lực từ 4/10 đến 5/10, mắtkia bình thường có tỷ lệ thương tật từ 8% đến 10%; gây thương tích để lại sẹo to, xấu ở vùng trán, thái dương có tỷ lệ thương tật từ 6% đến 10%. Tất cả các ví dụ nêu trên nạn nhân đều có tỷ lệ thương tật dưới 10%.

Read the rest of this entry »

 

Điều 115 Bộ Luật hình sự và những cách hiểu khác nhau

Tại Điều 115 Bộ luật hình sự 1999 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam qui định “Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ … đến …”

          Theo câu chữ của Điều 115 BLHS thì có hai khái niệm cần lưu ý, mà khi áp dụng xử lý tội phạm này, bất cứ cơ quan pháp luật nào cũng phải tôn trọng, tuân thủ, đó là:

          – Người đã thành niên, là người phạm tội, là chủ thể của tội phạm phải từ 18 tuổi trở lên.

          – Người bị hại, là nạn nhân của tội phạm phải trong dạng tuổi từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi.

Vấn đề cần trao đổi, bàn luận là chủ thể của tội phạm này có loại trừ “giới tính nữ” hay không – Đang có nhiều cách hiểu, cụ thể:

* Một là, theo câu chữ ghi trong điều khoản cơ bản (khoản 1 Điều 115 BLHS) thì bất cứ đàn ông hay đàn bà, đã thành niên rồi, mà lại giao cấu với trẻ em khác giới, ở tuổi từ 13 đến dưới 16 đều là phạm tội.

* Hai là, cũng ở Điều 115 BLHS, tại điểm d khoản 2 lại ghi: “… làm nạn nhân có thai … “ ; phải chăng có ý nghĩa của qui định là người bị hại phải là nữ giới, để hiểu tinh thần của Điều 115 BLHS chỉ xử lý tội phạm đối với nam giới, khi có đủ điều kiện bắt buộc trên.

* Ba là, có ý kiến rằng, khi người phụ nữ là chủ thể của tội phạm này mà lại có thai, do phạm tội đó gây nên … thì không chuyển khung hình phạt tăng nặng, theo điểm d khoản 2 Điều 115 – Mà ngược lại, hãy coi đó là tình tiết giảm nhẹ cho họ, qui định tại điểm 1 khoản l Điều 46 BLHS (người phạm tội là phụ nữ có thai!)

Read the rest of this entry »

 

Những vướng mắc trong công tác thi hành án hình sự và một số kiến nghị nâng cao chất lượng công tác này

Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối trong hoạt động tố tụng của các cơ quan thực thi pháp luật, theo đó người bị xử phạt tù phải chấp hành hình phạt mà Toà án đã quyết định. Thực tế hiện nay có nhiều bản án, quyết định hình sự có hiệu lực pháp luật, nhưng chưa đưa ra thi hành, bởi nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân xuất phát từ phía người chấp hành án, có nguyên nhân xuất phát từ phía các cơ quan thi hành pháp luật và cũng có nguyên nhân bắt nguồn từ các quy định của pháp luật đã làm cho hiệu lực quản lý của Nhà nước bằng pháp luật chưa đạt hiệu quả cao. Trước thực trạng đó, đặt ra một câu hỏi làm gì để nâng cao chất lượng công tác thi hành án hình sự, làm gì để các bản án, quyết định hình sự của Toà án có hiệu lực pháp luật phải được đưa ra thi hành trên thực tế triệt để. Đó là vấn đề cần trao đổi của các cơ quan thực thi pháp luật nói riêng và là mối quan tâm của xã hội nói chung. Là một người trực tiếp làm công tác thi hành án hình sự, chúng tôi đề xuất một số giải pháp trao đổi cùng bạn đọc:

1/ Cần sửa đổi khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự theo hướng mở rộng diện cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục bị án bị xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo:

Ví dụ: Bản án của Tòa án nhân dân (TAND) thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông quyết định xử phạt bị cáo H (sinh năm 1990) 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, giao bị cáo H cho UBND xã Phong Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Theo lý lịch trong hồ sơ vụ án của H thì: H đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đại Phong, xã Phong Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình; chỗ ở hiện nay (tạm trú) tại số 35, kiệt 19, phường Nghĩa Trung, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông. Khi Bản án trên có hiệu lực pháp luật, TAND thị xã Gia Nghĩa ra quyết định uỷ thác thi hành án cho TAND huyện Lệ Thuỷ ra quyết định thi hành án. TAND huyện Lệ Thuỷ ra quyết định thi hành án và gửi cơ quan Công an cùng cấp tổ chức thi hành án. Nhưng qua xác minh tại xã Phong Thuỷ, huyện Lệ Thủy, bị án H không có mặt tại địa phương, nên cơ quan Công an không phối hợp cùng chính quyền địa phương tổ chức thi hành án được. Qua dẫn chứng trên cho thấy, việc TAND thị xã Gia Nghĩa giao cho UBND xã Phong Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ giám sát giáo dục bị án Thái Duy H trong thời gian thử thách là đúng quy định tại khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình “Trong thời gian thử thách, Toà án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục” . Theo qui định tại Điều Read the rest of this entry »

 

Một số vấn đề về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 1999

          Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa X, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 32/1999/QH 10 về việc thi hành Bộ luật hình sự (BLHS) và Bộ luật này có hiệu lực từ ngày 01-7-2000. Gần 10 năm qua, Bộ luật hình sự đã đi vào cuộc sống, phát huy những hiệu quả tích cực trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, 10 năm qua cũng đã có những biến đổi trong một số quan hệ xã hội làm nẩy sinh nhu cầu tất yếu phải điều chỉnh. Xã hội là một thực thể sống, trong nội hàm của nó đã buộc phải có tính tổ chức, có sự điều chỉnh. Điều chỉnh xã hội là do bản thân nhu cầu xã hội để chấn chỉnh các góc độ xã hội, đó là một tất yếu, một quy luật, một thuộc tính của mọi xã hội nhằm đảm bảo sự ổn định xã hội. Pháp luật cũng là một trong những chuẩn mực xã hội được Nhà nước duy trì, có thái độ chính thức và đảm bảo. Để tồn tại được, mọi thiết chế của Nhà nước và của xã hội phải được tổ chức trên những nền tảng chuẩn mực và ổn định, thể hiện lợi ích, tiến bộ của xã hội, đó là pháp luật. Như vậy, pháp luật là hình thức tổ chức, là nền tảng tổ chức của xã hội; của Nhà nước. Nhà nước dựa vào pháp luật, sử dụng một loại phương tiện pháp lý đặc thù là quy phạm pháp luật, văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tác động đến các quan hệ đó theo phương hướng nhất định, đó là điều chỉnh pháp luật. Chính vì vậy, ngày   19-6-2009 Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 1999 nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo hướng bổ sung, sửa đổi một số mối quan hệ xã hội trong lĩnh vực hình sự. Theo đó, có 44 điều luật được sửa đổi về nội dung hoặc sửa về kỹ thuật và bổ sung thêm 13 điều luật mới. Cùng ngày, Quốc hội cũng đã ban hành Nghị quyết số 33/2009/QH 12 về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự (sau đây xin gọi chung là Nghị quyết số 33).

          Ngày 29-6-2009, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự và Luật này có hiệu lực thi hành từ 0 giờ ngày 01-01-2010.

          Để thi hành nghiêm túc và kịp thời các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự và thi hành khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 33 ngày 17-7-2009 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành công văn số 105/TANDTC-KHXX hướng dẫn thi hành khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 33/2009/QH12.

          Để tiện theo dõi, chúng tôi trình bày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự dưới góc độ hình sự hóa, phi hình sự hóa và tội phạm hóa và phi tội phạm hóa, đồng thời cũng trình bày một số suy nghĩ về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự.

Read the rest of this entry »

 
 

Người làm công lấy tài sản của chủ, tội gì mới đúng?

Được chủ tin tưởng giao tài sản nhưng người làm công lại chiếm đoạt. Có ý kiến cho rằng phải xử tội lạm dụng tín nhiệm nhưng cũng có ý kiến cho rằng phải xử tội trộm cắp do thực hiện hành vi một cách lén lút.

Vụ án liên quan đến Nguyễn Thị Kim Anh chiếm đoạt tài sản có giá trị 4,8 triệu đồng của người chủ, cho đến nay tòa và VKS một huyện ở tỉnh Quảng Bình đang tranh cãi về tội danh, chưa rõ Kim Anh phạm tội trộm cắp hay tội lạm dụng…

Ôsin lén lấy sữa

Theo hồ sơ, cuối năm 2011, Kim Anh xin làm công cho nhà chị H. Do nhà vừa để ở vừa làm cửa hàng mua bán hàng nên chị H. thuê rất nhiều người làm phụ giúp. Kim Anh được giao cùng với một người làm công khác trông coi việc mua bán hàng, chiều tối nấu ăn cho cả nhà. Làm được một thời gian, Kim Anh lợi dụng những lúc người làm công đi vệ sinh đã lấy thùng sữa tươi nhiều nhãn hiệu khác nhau đem ra ngoài. Ngày 19-1, khi Kim Anh đang lén đưa hai thùng sữa thì bị phát hiện. Tại cơ quan điều tra, Kim Anh khai nhận lấy 16 thùng sữa (giá trị gần 4,8 triệu đồng).

Xử tội lạm dụng tín nhiệm…

Mới đây TAND TP.HCM vừa tuyên y án chín tháng tù đối với Nguyễn Vân Anh về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vì xét không có tình tiết gì mới để giảm nhẹ cho bị cáo.

Theo hồ sơ, Vân Anh là nhân viên kiêm người giúp việc của một quán karaoke. Thấy Vân Anh tính tình hiền lành, chất phác nên bà chủ giao nhà cho Vân Anh trông coi và quản lý tài sản. Vì thiếu tiền tiêu xài, Vân Anh đã lấy chiếc xe tay ga, máy tính xách tay của chủ bỏ trốn…

Read the rest of this entry »

 
 

Giật hụt cũng là cướp

Cấp phúc thẩm cho rằng bị cáo giật tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát nên phạm vào tội cướp giật chứ không phải công nhiên chiếm đoạt…

Vừa qua, không đồng tình với bản án của tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Đặng Thanh Pháp về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, TAND TP.HCM tuyên hủy để điều tra, truy tố, xét xử lại theo hướng bị cáo phạm tội cướp giật tài sản.

Chỉ là công nhiên chiếm đoạt

Nội dung vụ án thể hiện, tối 10-6-2011, Pháp rủ một thanh niên chưa rõ lai lịch đi xem đua xe. Đến nơi, không có đua xe, cả hai quay về. Đang chạy, thấy một người đàn ông đứng bên lề đường nghe điện thoại, túi xách bỏ trên xe nên nhóm Pháp bàn bạc chiếm đoạt chiếc túi. Sau đó cả hai áp sát, giật túi nhưng do nạn nhân móc quai túi vào xe nên không lấy được. Cùng lúc, người đi đường phát hiện sự việc tri hô, rượt theo bắt được Pháp còn đồng phạm của Pháp thì chạy thoát.

Trong quá trình điều tra, công an xác định Pháp công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác. Mặc dù tài sản Pháp định chiếm đoạt chỉ có giá trị 280.000 đồng, chưa đủ định lượng để định tội công nhiên chiếm đoạt tài sản nhưng do Pháp đã từng bị kết án liên quan đến việc chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nên đã cấu thành tội danh trên. VKSND quận Tân Phú sau đó cũng đã ra cáo trạng truy tố Pháp theo khoản 1 của điều luật với khung hình phạt từ sáu tháng đến ba năm tù.

Xử sơ thẩm đầu tháng 11-2011, TAND quận Tân Phú nhận định Pháp lợi dụng lúc người bị hại vừa nghe điện thoại, vừa trông xe đã công khai lấy chiếc túi xách. Hành vi của Pháp đã phạm vào tội công nhiên chiếm đoạt tài sản như viện truy tố. Hành vi phạm tội táo bạo, liều lĩnh, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và quyết tâm phạm tội cao nên HĐXX quyết định tuyên phạt Pháp chín tháng tù.

Read the rest of this entry »

 

Một số vấn đề về giải quyết các vụ án hình sự

Vừa qua, Trường cán bộ Tòa án đã tổ chức tập huấn cho các Tòa án nhân dân địa phương về một số vấn đề về giải quyết các vụ án hình sự. Tại các lớp tập huấn này, rất nhiều ý kiến vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự đã được giảng viên và học viên trao đổi. Có những vấn đề đã được làm sáng rõ, thống nhất về nhận thức quy định của pháp luật hoặc hướng dẫn áp dụng của Tòa án nhân dân tối cao hoặc các cơ quan tư pháp trung ương, tuy nhiên cũng còn nhiều vấn đề chưa có sự thống nhất cao do chưa có hướng dẫn áp dụng hoặc đã có nhưng chưa thật rõ. Để góp phần nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các vụ án hình sự, chúng tôi mạnh dạn đưa ra các ý kiến giải đáp một số các vướng mắc để các đồng chí nghiên cứu, tham khảo.

1. Phân biệt tội giết người quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự (BLHS) với tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 3 Điều 104 BLHS.

- Khoản 2 Điều 93 quy định: “Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.”

Như vậy, nhà làm luật đã thiết kế Điều 93 BLHS tương đối đặc biệt hơn so với các Điều luật khác trong phần tội phạm, đó là cấu thành cơ bản của tội phạm ở khoản 1 điều này lại là cấu thành tăng nặng và khoản 2 của điều luật này lại là cấu thành giảm nhẹ. Theo đó nếu như không có 16 tình tiết tăng nặng tại các điểm từ a đến q của khoản 1. (Thực ra không phải chỉ có 16 tình tiết tăng nặng mà trong các điểm còn có thiết kế ghép các tình tiết tăng nặng khác nhau. Ví dụ, điểm d “giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân” hoặc điểm đ “giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình”), thì người phạm tội chỉ bị xử phạt theo khoản 2 Điều 93 BLHS, trong nghề Tòa án vẫn gọi là giết người thông thường.

- Khoản 3 Điều 104 BLHS quy định “Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm”.

Read the rest of this entry »

 
 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 52 other followers

%d bloggers like this: