RSS

Category Archives: Luật Hình Sự

Thông tin pháp luật hình sự

Thế nào là người già?

Sức khỏe cũng như tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng lên nên nếu xác định 60 tuổi là già sẽ không còn phù hợp?

Từ một vụ án đăng trên Pháp Luật TP.HCM về chuyện tòa xử sai khi cho một bị cáo 65 tuổi được hưởng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội là người già”, nhiều bạn đọc đã thắc mắc: Theo quan niệm chung của xã hội và theo quy định của pháp luật, người bao nhiêu tuổi là người già?

Chúng tôi đã trao đổi với nhiều chuyên gia để tìm câu trả lời về vấn đề này.

Dân gian: 60 tuổi đã là già?

Theo nhà nhân học PGS-TS Phan An (Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ), quan niệm của dân ta từ xưa đến nay vẫn cho rằng người già là người từ 60 tuổi trở lên. Sở dĩ ở độ tuổi đó được cho là già bởi nhiều yếu tố: Theo phong tục tập quán truyền thống, những người từ 60 tuổi đã hoàn thành một chu kỳ về mặt sinh học. Đồng thời, điều kiện sống trước đây thiếu thốn về mặt vật chất, chế độ dinh dưỡng, y tế… Vì vậy, những người sống được đến 60 tuổi đã được coi là sống lâu. Ngày nay, điều kiện kinh tế phát triển, đời sống được nâng cao hơn nên tuổi thọ con người cũng được tăng lên nhưng quan niệm về người già vẫn không hề thay đổi.

Đồng tình, một luật gia Hội Luật gia TP.HCM cho rằng với thể trạng của người Việt Nam ở độ tuổi 60 thì đa số sức khỏe thể chất đã giảm sút rất nhiều. Mặc dù chúng ta vẫn có thể thấy một số người trên 60 tuổi còn cường tráng nhưng đó chỉ là những trường hợp cá biệt mà thôi. Vì vậy, người ở tuổi 60 trở lên đã có thể coi là người già, được pháp luật bảo đảm các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe cũng như được tạo điều kiện tham gia hoạt động văn hóa, giáo dục, thể dục, thể thao…

Read the rest of this entry »

 
 

Nên thống nhất từ 60 là già

Khái niệm người già được dùng rộng rãi trong xã hội, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong các văn kiện của cơ quan, tổ chức… Tuy nhiên, tra Từ điển Tiếng Việt lại không thấy khái niệm này.

Trong xã hội, người già được hiểu là người cao tuổi, là người được xã hội kính trọng, quan tâm, chăm sóc, bảo vệ. Theo tài liệu về y sinh học quốc tế thì người từ 60 đến 74 tuổi là người có tuổi, từ 75 đến 89 tuổi là người già, từ 90 tuổi trở lên là người già sống lâu.

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, BLHS có đề cập đến người già nhưng lại không quy định người như thế nào được coi là người già. Tại tiểu mục 2.4 Mục 2 Nghị quyết số 01 ngày 12-5-2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao (hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS) thì người già được xác định là người từ 70 tuổi trở lên.

Trước đây, trong quá trình soạn thảo, thông qua Pháp lệnh Người cao tuổi năm 2000, nhiều ý kiến đề nghị lấy tên là Pháp lệnh về người già, Pháp lệnh về chăm sóc, bảo vệ người già… Tuy nhiên, các ý kiến này đều không đưa ra được khái niệm thế nào là người già, bao nhiêu tuổi là người già. Mặt khác, nếu chỉ căn cứ vào độ tuổi thì cũng không chính xác vì thực tế có người 70-75 tuổi vẫn còn khỏe mạnh, cường tráng, không ít người còn lấy vợ, sinh con… Cuối cùng tên gọi của pháp lệnh là Pháp lệnh Người cao tuổi (trong pháp lệnh tuyệt nhiên không nhắc đến khái niệm người già).

Read the rest of this entry »

 

Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Theo Điều 95 BLHS thì “Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Thực chất, trước đây tội danh này là tình tiết định khung hình phạt giảm nhẹ của tội giết người (khoản 3 Điều 101 BLHS 1985), nay được tách ra thành Điều 95 BLHS 1999.

Phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân. Vậy thế nào là trái pháp luật nghiêm trọng? Vấn đề này cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng trái pháp luật nghiêm trọng là việc nạn nhân đã thực hiện những hành vi mà những hành vi đó đã thỏa mãn các yếu tố để cấu thành một tội phạm hình sự. Chúng tôi đồng tình với quan điểm này và cho rằng, ngoài ra hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân không chỉ trong lĩnh vực pháp luật hình sự mà rộng hơn còn có thể trái pháp luật trong lĩnh vực pháp luật khác. Ví dụ như nợ nhưng cố tình dây dưa không trả, còn thách đố, các hành vi thường xuyên chèn ép, hành hạ, ngược đãi…

Tuy nhiên, theo điều luật thì hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân phải trực tiếp với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội. Người thân thích của người phạm tội là cha, mẹ, vợ, con, ông, bà, anh chị em ruột. Trong thực tiễn, cũng có những trường hợp mặc dù không phải là người thân thích, nhưng nếu người phạm tội thấy nạn nhân có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của người đó với người khác mà thực hiện hành vi phạm tội thì có được coi là trạng thái tinh thần bị kích động mạnh không?

Read the rest of this entry »

 

Về việc xác định hung khí nguy hiểm

Điểm 3.1 mục 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã hướng dẫn áp dụng tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm” để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điểm a, khoản 1 Điều 104 BLHS) là những trường hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Như vậy, hung khí nguy hiểm được hiểu theo nghĩa rộng hơn; hung khí nguy hiểm có thể là vũ khí hoặc phương tiện phạm tội.

Phương tiện nguy hiểm dùng để phạm tội là những dụng cụ, công cụ được chế tạo để phục vụ cuộc sống, cũng có thể là vật có sẵn trong tự nhiên hoặc do người phạm tội tự tạo ra để làm phương tiện phạm tội. Dù nguồn gốc nào chăng nữa, nếu người phạm tội sử dụng những phương tiện này thì có thể gây thương tích, tổn hại sức khỏe hoặc xâm phạm tính mạng của người khác.

Ví dụ: dùng xe máy, xe ô tô để giết người; mài thanh sắt nhọn để đâm người, dùng hòn đá, cành cây cứng để tấn công người khác…

Ví dụ: A dùng dao nhọn để tấn công B và gây thương tích cho B, hành vi phạm tội của A có tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 BLHS.

Bản thân hung khí nguy hiểm đã chứa đựng khả năng gây ra nguy hiểm. Tuy nhiên tính nguy hiểm của hung khí đó đến đâu còn phụ thuộc vào khả năng sử dụng của người sử dụng các hung khí nguy hiểm đó.

Ví dụ: Người sử dụng súng tiểu liên AK bắn từng viên đạn vào đám đông ít nguy hiểm hơn trường hợp họ để nấc liên thanh nhằm vào đám đông để bắn; Một người dùng Axít để gây thương tích cho người khác, nếu họ cho axít vào chai để vẩy thì khả năng gây thương tích hạn chế hơn so với việc họ cho vào bát để hắt vào người khác…

Read the rest of this entry »

 

Một số vấn đề áp dụng tình tiết “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” quy định tại điểm b khoản 1 điều 104 bộ luật hình sự

Theo điểm B khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự thì nhà làm luật chỉ quy định “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân”, còn các khoản 2, khoản 3 và khoản 4 của điều luật không quy định “gây cố tật, cố tật nặng, cố tật rất nặng và cố tật đặc biệt nặng”, mà chỉ quy định: “…nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”. Ví dụ: khoản 2 Điều 104 quy định: “Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”, tương tự như vậy, khoản 3 Điều 104 quy định: “Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người, hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này

Như vậy, nếu bị cáo gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% nhưng thuộc trường hợp quy định tại điểm B (gây cố tật nhẹ) thì bị áp dụng khoản 2 điều 104 Bộ luật hình sự; tương tự như vậy, nếu bị cáo gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm B (gây cố tật nhẹ) thì bị áp dụng khoản 3 điều 104 Bộ luật hình sự.

Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 104 Bộ luật hình sự có nêu: Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân là làm mất một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm mất chức năng một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm giảm chức năng hoạt động của một bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ của nạn nhân và đã lấy một số trường hợp trong. Bản quy định tiêu chuẩn thương tật (ban hành kèm theo Thông tư số 12/TTLB ngày 26-7-1995 của Liên Bộ Y tế, Lao động – Thương binh và Xã hội “quy định về tiêu chuẩn thương tật và tiêu chuẩn bệnh tật mới”) để làm ví dụ như: gây thương tích làm mất đốt ngoài (đốt 2) của ngón tay cái hoặc làm mất hai đốt ngoài (2+3) của ngón tay trỏ có tỷ lệ thương tật từ 8% đến 10%; gây thương tích làm cứng khớp các khớp liên đốt ngón tay giữa (III) ở tư thế bất lợi có tỷ lệ thương tật từ 7% đến 9%; gây thương tích làm một mắt giảm thị lực từ 4/10 đến 5/10, mắtkia bình thường có tỷ lệ thương tật từ 8% đến 10%; gây thương tích để lại sẹo to, xấu ở vùng trán, thái dương có tỷ lệ thương tật từ 6% đến 10%. Tất cả các ví dụ nêu trên nạn nhân đều có tỷ lệ thương tật dưới 10%.

Read the rest of this entry »

 

Điều 115 Bộ Luật hình sự và những cách hiểu khác nhau

Tại Điều 115 Bộ luật hình sự 1999 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam qui định “Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ … đến …”

          Theo câu chữ của Điều 115 BLHS thì có hai khái niệm cần lưu ý, mà khi áp dụng xử lý tội phạm này, bất cứ cơ quan pháp luật nào cũng phải tôn trọng, tuân thủ, đó là:

          – Người đã thành niên, là người phạm tội, là chủ thể của tội phạm phải từ 18 tuổi trở lên.

          – Người bị hại, là nạn nhân của tội phạm phải trong dạng tuổi từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi.

Vấn đề cần trao đổi, bàn luận là chủ thể của tội phạm này có loại trừ “giới tính nữ” hay không – Đang có nhiều cách hiểu, cụ thể:

* Một là, theo câu chữ ghi trong điều khoản cơ bản (khoản 1 Điều 115 BLHS) thì bất cứ đàn ông hay đàn bà, đã thành niên rồi, mà lại giao cấu với trẻ em khác giới, ở tuổi từ 13 đến dưới 16 đều là phạm tội.

* Hai là, cũng ở Điều 115 BLHS, tại điểm d khoản 2 lại ghi: “… làm nạn nhân có thai … “ ; phải chăng có ý nghĩa của qui định là người bị hại phải là nữ giới, để hiểu tinh thần của Điều 115 BLHS chỉ xử lý tội phạm đối với nam giới, khi có đủ điều kiện bắt buộc trên.

* Ba là, có ý kiến rằng, khi người phụ nữ là chủ thể của tội phạm này mà lại có thai, do phạm tội đó gây nên … thì không chuyển khung hình phạt tăng nặng, theo điểm d khoản 2 Điều 115 – Mà ngược lại, hãy coi đó là tình tiết giảm nhẹ cho họ, qui định tại điểm 1 khoản l Điều 46 BLHS (người phạm tội là phụ nữ có thai!)

Read the rest of this entry »

 

Những vướng mắc trong công tác thi hành án hình sự và một số kiến nghị nâng cao chất lượng công tác này

Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối trong hoạt động tố tụng của các cơ quan thực thi pháp luật, theo đó người bị xử phạt tù phải chấp hành hình phạt mà Toà án đã quyết định. Thực tế hiện nay có nhiều bản án, quyết định hình sự có hiệu lực pháp luật, nhưng chưa đưa ra thi hành, bởi nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân xuất phát từ phía người chấp hành án, có nguyên nhân xuất phát từ phía các cơ quan thi hành pháp luật và cũng có nguyên nhân bắt nguồn từ các quy định của pháp luật đã làm cho hiệu lực quản lý của Nhà nước bằng pháp luật chưa đạt hiệu quả cao. Trước thực trạng đó, đặt ra một câu hỏi làm gì để nâng cao chất lượng công tác thi hành án hình sự, làm gì để các bản án, quyết định hình sự của Toà án có hiệu lực pháp luật phải được đưa ra thi hành trên thực tế triệt để. Đó là vấn đề cần trao đổi của các cơ quan thực thi pháp luật nói riêng và là mối quan tâm của xã hội nói chung. Là một người trực tiếp làm công tác thi hành án hình sự, chúng tôi đề xuất một số giải pháp trao đổi cùng bạn đọc:

1/ Cần sửa đổi khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự theo hướng mở rộng diện cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục bị án bị xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo:

Ví dụ: Bản án của Tòa án nhân dân (TAND) thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông quyết định xử phạt bị cáo H (sinh năm 1990) 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, giao bị cáo H cho UBND xã Phong Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Theo lý lịch trong hồ sơ vụ án của H thì: H đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đại Phong, xã Phong Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình; chỗ ở hiện nay (tạm trú) tại số 35, kiệt 19, phường Nghĩa Trung, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông. Khi Bản án trên có hiệu lực pháp luật, TAND thị xã Gia Nghĩa ra quyết định uỷ thác thi hành án cho TAND huyện Lệ Thuỷ ra quyết định thi hành án. TAND huyện Lệ Thuỷ ra quyết định thi hành án và gửi cơ quan Công an cùng cấp tổ chức thi hành án. Nhưng qua xác minh tại xã Phong Thuỷ, huyện Lệ Thủy, bị án H không có mặt tại địa phương, nên cơ quan Công an không phối hợp cùng chính quyền địa phương tổ chức thi hành án được. Qua dẫn chứng trên cho thấy, việc TAND thị xã Gia Nghĩa giao cho UBND xã Phong Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ giám sát giáo dục bị án Thái Duy H trong thời gian thử thách là đúng quy định tại khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình “Trong thời gian thử thách, Toà án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục” . Theo qui định tại Điều Read the rest of this entry »

 
 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 58 other followers

%d bloggers like this: