RSS

Category Archives: Luật Tố Tụng Hình Sự

Thông tin pháp luật tố tụng hình sự

Bàn về thẩm quyền giải quyết, xét xử vụ án hình sự có bị cáo là người nước ngoài

I.Đặt vấn đề

           Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, ngày càng có nhiều người nước ngoài đến Việt Nam để đầu tư, kinh doanh, du lịch, trường hợp họ thực hiện hành vi phạm tội và vi phạm pháp luật tại Việt Nam sẽ bị xử lý theo pháp luật Việt Nam. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin đề cập đến thẩm quyền của Tòa án  trong việc xét xử vụ án hình sự có người nước ngoài được quy định trong Bộ luật hình sự và bộ luật tố tụng hình sự.

          Thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết vụ án hình sự là quyền xem xét, giải quyết các vụ án và quyền hạn khi ban hành các quyết định, bản án khi xem xét giải quyết, xét xử các vụ án đó theo thủ tục tố tụng hình sự. Việc xác định chính xác, khoa học thẩm quyền của Tòa án tránh được sự chồng chéo khi thực hiện nhiệm vụ giữa các đơn vị Tòa án với nhau, đảm bảo giải quyết vụ án đúng chức năng nhiệm vụ được quy định trong luật.

          Như vậy, người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam được hiểu là người không có quốc tịch, người có nhiều quốc tịch nhưng không mang quốc tịch Việt Nam hoặc người không mang quốc tịch Việt Nam mà thời điểm phạm tội đang ở trên phạm vi lãnh thổ nước Việt Nam. Theo Điều 5 Bộ luật hình sự quy định : Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp người nước ngoài thuộc đối tượng hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ về lãnh sự, các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết.

2. Về quy định Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ theo Bộ luật tố tụng hình sự:

           Thẩm quyền theo lãnh thổ để giải quyết, xét xử vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài được quy định tại khoản 2 Điều 171 BLTTHS: “Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử. Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì do Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự trung ương“.

Read the rest of this entry »

 

Một số vấn đề về sử dụng chứng cứ trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam

Trong quá trình chứng minh, muốn giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, muốn xác định sự thật khách quan, có cơ sở để kết luận đúng về hành vi phạm tội đã xảy ra thì cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải có tài liệu, chứng cứ để chứng minh bản chất của người phạm tội. Chứng cứ là phương tiện của việc chứng minh, của việc xác định các sự kiện có ý nghĩa với việc giải quyết vụ án hình sự. Thông qua các tài liệu, chứng cứ các sự kiện thực tế được xác định, khẳng định và đồng thời cũng phủ định, loại trừ các sự kiện không xảy ra trong thực tế. Rõ ràng vai trò, giá trị của chứng cứ là rất quan trọng, là cơ sở duy nhất, là phương tiện duy nhất để chứng minh trong vụ án hình sự. Khi giải quyết vụ án hình sự, trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng, cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án cần xác minh những sự việc có liên quan đến tội phạm đang được tiến hành xem xét,  cần phải khẳng định được rằng tội phạm đã xảy ra, xác định được người cụ thể đã thực hiện tội phạm và họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện. Tất cả các sự kiện và tình tiết của vụ án phải phù hợp với hiện thực khách quan. Để làm được điều đó, cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa vào chứng cứ. Thông qua chứng cứ, kiểm sát viên thực hành quyền công tố trước toà án đưa ra lời buộc tội đối với bị cáo, còn người bào chữa và thân chủ của họ có thể bác bỏ lời buộc tội hoặc đưa ra những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Việc nghiên cứu, xác định các sự kiện, tình tiết của vụ án được tiến hành trên cơ sở của các chứng cứ và chỉ bằng cách dựa vào các chứng cứ mới làm sáng tỏ được những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự. Thông qua việc phát hiện chứng cứ, xem xét và ghi nhận chứng cứ về mặt tố tụng, kiểm tra tính xác thực của chứng cứ, đánh giá chứng cứ, cơ quan tiến hành tố tụng có thể nghiên cứu đầy đủ và toàn diện các tình tiết của vụ án, xác định sự phù hợp của chúng với hiện thực từ đó tìm ra chân lý khách quan. Như vậy, quá trình chứng minh thực chất và nói chung là quá trình giải quyết chứng cứ, mọi giai đoạn của tố tụng hình sự đều được mở ra và kết thúc từ vấn đề chứng cứ, xuất phát từ chứng cứ. Vì vậy, chứng cứ là một trong những vấn đề có vị trí đặc biệt quan trọng trong lý luận cũng như trong thực tiễn của hoạt động tố tụng hình sự. Việc nhận thức đúng vấn đề chứng cứ sẽ là cơ sở lý luận, định hướng đúng đắn cho quá trình thu thập, nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá chứng cứ.

Read the rest of this entry »

 

Trách nhiệm chứng minh tội phạm – Bài 2: Gỡ bỏ gánh nặng cho tòa

Tòa chỉ cần quan tâm là VKS có chứng minh được cáo trạng hay không. VKS không chứng minh được thì tòa tuyên vô tội và ngược lại.

Theo nhiều chuyên gia, việc gỡ bỏ trách nhiệm chứng minh tội phạm của tòa sẽ góp phần tăng cường tính tranh tụng tại phiên tòa hình sự, vốn là một mục tiêu quan trọng của cải cách tư pháp. Để làm được, cần phải sửa luật từ nguyên tắc đến các quy định cụ thể…

Từ vài năm trước, trong các đợt góp ý sửa đổi BLTTHS năm 2003, nhiều chuyên gia đã đề cập đến việc phải gỡ bỏ gánh nặng chứng minh tội phạm để tòa chỉ thực hiện đúng chức năng xét xử như Hiến pháp quy định. Đến nay, Đề án mô hình tố tụng hình sự Việt Nam do VKSND Tối cao soạn thảo đề cao nguyên tắc tòa chỉ thực hiện chức năng xét xử, không buộc tội bị cáo, không có trách nhiệm chứng minh tội phạm lại càng được nhiều người tán đồng.

Sửa nguyên tắc

Theo TS Nguyễn Thái Phúc (Giám đốc Học viện Tư pháp), trước hết cần phải sửa Điều 10 BLTTHS hiện hành theo hướng trách nhiệm chứng minh tội phạm chỉ thuộc về các cơ quan buộc tội là cơ quan điều tra, VKS.

Sửa nguyên tắc không thì chưa đủ mà còn phải sửa cả những quy định cụ thể. Theo TS Phúc, phải bỏ cả những thẩm quyền không phù hợp với chức năng xét xử của tòa như thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự (khoản 1 Điều 104), thẩm quyền được xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS truy tố trong cùng một điều luật theo hướng nặng hơn (khoản 2 Điều 196).

TS Phúc cũng đề nghị bỏ quy định về việc thẩm phán trả hồ sơ để điều tra bổ sung (Điều 179 và Điều 199). Chỉ nên quy định trường hợp duy nhất mà thẩm phán có quyền trả hồ sơ yêu cầu bổ sung là khi phát hiện có những vi phạm tố tụng nghiêm trọng cản trở việc xét xử của tòa như VKS chưa tống đạt cáo trạng cho bị cáo… Còn vấn đề chứng cứ đã đủ hay chưa, có thể xử được hay không, chứng cứ nào quan trọng không phải là sự quan tâm của tòa vì người phải quan tâm về việc này là VKS. Tòa chỉ cần quan tâm là VKS có chứng minh được cáo trạng hay không. VKS không chứng minh được thì tòa tuyên vô tội và ngược lại.

Read the rest of this entry »

 

Trách nhiệm chứng minh tội phạm – Bài 1: Gánh nặng từ quy định đến thực tiễn

Theo BLTTHS, các cơ quan tố tụng phải chứng minh tội phạm. Nhiều chuyên gia cho rằng với nguyên tắc này, tòa án đã trở thành “cơ quan công tố thứ hai”.

BLTTHS còn một loạt quy định khác cụ thể hóa nguyên tắc trên trong hoạt động xét xử của tòa án.

Hàng loạt quy định bắt buộc

Tòa chỉ xét xử!

Đề án mô hình tố tụng hình sự Việt Nam do VKSND Tối cao soạn thảo, được Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp trung ương tán đồng đề cao nguyên tắc tòa chỉ thực hiện chức năng xét xử, không buộc tội bị cáo, không có trách nhiệm chứng minh tội phạm. Bất cứ thẩm quyền nào của tòa mâu thuẫn với chức năng xét xử, ảnh hưởng đến tính khách quan của tòa đều phải bị loại bỏ.

Đề án nhấn mạnh phải tạo lập cơ chế để bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa, đề cao vai trò của người bào chữa trong hoạt động tố tụng. Khi xét xử, nếu nhận thấy có đủ chứng cứ và các yếu tố cấu thành tội phạm thì tòa áp dụng trách nhiệm hình sự; nếu không đủ chứng cứ thì tòa tuyên bị cáo vô tội. Cạnh đó, đề án đề cập tới việc đổi mới vai trò, trách nhiệm của các chủ thể tố tụng và trình tự xét xử tại phiên tòa theo hướng việc xét hỏi chính thuộc về kiểm sát viên và người bào chữa…

Read the rest of this entry »

 

Một số vấn đề về giải quyết các vụ án hình sự

Vừa qua, Trường cán bộ Tòa án đã tổ chức tập huấn cho các Tòa án nhân dân địa phương về một số vấn đề về giải quyết các vụ án hình sự. Tại các lớp tập huấn này, rất nhiều ý kiến vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự đã được giảng viên và học viên trao đổi. Có những vấn đề đã được làm sáng rõ, thống nhất về nhận thức quy định của pháp luật hoặc hướng dẫn áp dụng của Tòa án nhân dân tối cao hoặc các cơ quan tư pháp trung ương, tuy nhiên cũng còn nhiều vấn đề chưa có sự thống nhất cao do chưa có hướng dẫn áp dụng hoặc đã có nhưng chưa thật rõ. Để góp phần nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các vụ án hình sự, chúng tôi mạnh dạn đưa ra các ý kiến giải đáp một số các vướng mắc để các đồng chí nghiên cứu, tham khảo.

1. Phân biệt tội giết người quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự (BLHS) với tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 3 Điều 104 BLHS.

- Khoản 2 Điều 93 quy định: “Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.”

Như vậy, nhà làm luật đã thiết kế Điều 93 BLHS tương đối đặc biệt hơn so với các Điều luật khác trong phần tội phạm, đó là cấu thành cơ bản của tội phạm ở khoản 1 điều này lại là cấu thành tăng nặng và khoản 2 của điều luật này lại là cấu thành giảm nhẹ. Theo đó nếu như không có 16 tình tiết tăng nặng tại các điểm từ a đến q của khoản 1. (Thực ra không phải chỉ có 16 tình tiết tăng nặng mà trong các điểm còn có thiết kế ghép các tình tiết tăng nặng khác nhau. Ví dụ, điểm d “giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân” hoặc điểm đ “giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình”), thì người phạm tội chỉ bị xử phạt theo khoản 2 Điều 93 BLHS, trong nghề Tòa án vẫn gọi là giết người thông thường.

- Khoản 3 Điều 104 BLHS quy định “Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm”.

Read the rest of this entry »

 

Khi nào được xem là hoạt động điều tra?

Có quan điểm cho rằng chỉ khi có quyết định khởi tố vụ án, còn quan điểm khác bảo bắt đầu từ khi có tố giác của công dân…

Mới đây, TAND tỉnh Khánh Hòa đã tuyên phạt Trần Bá Tuấn và Nguyễn Đình Quyết mỗi người chín tháng tù treo về tội dùng nhục hình. Tại phiên tòa, một vấn đề được hai bị cáo, luật sư bào chữa và vị công tố viên đặt ra tranh luận: Các hoạt động trước khi có quyết định khởi tố vụ án có phải là hoạt động điều tra hay không.

Đây là nội dung rất quan trọng, bởi nếu các hoạt động trước khi có quyết định khởi tố vụ án không được coi là hoạt động điều tra mà chỉ coi là công tác xác minh, kiểm tra giải quyết tin báo tội phạm thì việc truy tố, xét xử hai bị cáo về tội dùng nhục hình là chưa chính xác.

Đánh đập, chích điện

Theo hồ sơ, bà Trần Thị Lan là người giúp việc cho gia đình ông VHT. Do bị mất tiền và nghị ngờ bà Lan lấy nên ông T. báo công an. Tiếp nhận tin báo, lãnh đạo Công an TP Nha Trang (Khánh Hòa) đã phân công điều tra viên Trần Bá Tuấn và cán bộ trinh sát Nguyễn Đình Quyết đi xác minh.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, từ ngày 28 đến 29-11-2010, Tuấn và Quyết đã dùng công cụ hỗ trợ là gậy cao su, dùi cui điện đánh đập, chích điện nhiều lần vào tay, chân, vai bà Lan để ép bà Lan khai nhận hành vi trộm cắp. Đến ngày 30-11-2010, bà Lan bị ngất xỉu trong nhà tạm giữ nên được đưa đi cấp cứu và điều trị.

Người nhà bà Lan đã làm đơn tố giác đến một số cơ quan chức năng. Kết quả điều tra của VKSND Tối cao xác định có cơ sở cho thấy bà Lan bị hai điều tra viên trên đánh trong khi bị tạm giữ nên khởi tố vụ án…

Read the rest of this entry »

 

Cách viết bản án hình sự

 I. Mục đích, ý nghĩa của bản án hình sự

          Bản án hình sự là một văn bản tố tụng hình sự ghi nhận các kết luận và quyết định của Hội đồng xét xử, cao hơn nữa đó là sự đánh giá của Nhà nước đối với một hành vi, một con người cụ thể khi hành vi đó, con người đó bị truy tố trước Tòa án. Bản án hình sự đánh dấu sự kết thúc của quá trình điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, do vậy bản án phải phản ánh trung thực diễn biến của vụ án và phải xác định rõ sự thật khách quan, đó là: có sự việc phạm tội xảy ra không?, ai là người đã thực hiện các hành vi đó và hành vi đó có cấu thành tội phạm không?, nếu là tội phạm thì phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của Bộ luật hình sự?, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội, động cơ, mục đích, hoàn cảnh, điều kiện của tội phạm đó… Căn cứ vào các kết luận, các phân tích, đánh giá nêu trên để Hội đồng xét xử Quyết định hình phạt cho tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội. Nếu không có tội thì Hội đồng xét xử phải xác định những căn cứ để tuyên bố bị cáo không phạm tội và giải quyết việc phục hồi danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.

          Theo nguyên tắc “Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án” (Nguyên tắc suy đoán vô tội) – Điều 9 BLHS năm 2003.

          Do đó, bản án hình sự có hiệu lực pháp luật là sự thể hiện quyền lực của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Hoạt động xét xử mà kết quả là việc hội đồng xét xử ra bản án để xác định một người có tội hay không có tội, phải chịu hình phạt hay không phải chịu hình phạt có ý nghĩa chính trị, xã hội rất sâu sắc và trước hết trực tiếp ảnh hưởng tới người bị đưa ra xét xử. Bản án hình sự tuyên đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không chỉ có ý nghĩa về mặt đảm bảo pháp chế Xã hội chủ nghĩa được thực hiện nghiêm minh mà còn mang tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm trong xã hội, đồng thời tạo ra niềm tin của nhân dân vào công lý.

Read the rest of this entry »

 
 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 64 other followers

%d bloggers like this: