RSS

Category Archives: Luật Tố Tụng Hình Sự

Thông tin pháp luật tố tụng hình sự

Một số vấn đề về giải quyết các vụ án hình sự

Vừa qua, Trường cán bộ Tòa án đã tổ chức tập huấn cho các Tòa án nhân dân địa phương về một số vấn đề về giải quyết các vụ án hình sự. Tại các lớp tập huấn này, rất nhiều ý kiến vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự đã được giảng viên và học viên trao đổi. Có những vấn đề đã được làm sáng rõ, thống nhất về nhận thức quy định của pháp luật hoặc hướng dẫn áp dụng của Tòa án nhân dân tối cao hoặc các cơ quan tư pháp trung ương, tuy nhiên cũng còn nhiều vấn đề chưa có sự thống nhất cao do chưa có hướng dẫn áp dụng hoặc đã có nhưng chưa thật rõ. Để góp phần nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các vụ án hình sự, chúng tôi mạnh dạn đưa ra các ý kiến giải đáp một số các vướng mắc để các đồng chí nghiên cứu, tham khảo.

1. Phân biệt tội giết người quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự (BLHS) với tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 3 Điều 104 BLHS.

- Khoản 2 Điều 93 quy định: “Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.”

Như vậy, nhà làm luật đã thiết kế Điều 93 BLHS tương đối đặc biệt hơn so với các Điều luật khác trong phần tội phạm, đó là cấu thành cơ bản của tội phạm ở khoản 1 điều này lại là cấu thành tăng nặng và khoản 2 của điều luật này lại là cấu thành giảm nhẹ. Theo đó nếu như không có 16 tình tiết tăng nặng tại các điểm từ a đến q của khoản 1. (Thực ra không phải chỉ có 16 tình tiết tăng nặng mà trong các điểm còn có thiết kế ghép các tình tiết tăng nặng khác nhau. Ví dụ, điểm d “giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân” hoặc điểm đ “giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình”), thì người phạm tội chỉ bị xử phạt theo khoản 2 Điều 93 BLHS, trong nghề Tòa án vẫn gọi là giết người thông thường.

- Khoản 3 Điều 104 BLHS quy định “Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm”.

Read the rest of this entry »

 

Khi nào được xem là hoạt động điều tra?

Có quan điểm cho rằng chỉ khi có quyết định khởi tố vụ án, còn quan điểm khác bảo bắt đầu từ khi có tố giác của công dân…

Mới đây, TAND tỉnh Khánh Hòa đã tuyên phạt Trần Bá Tuấn và Nguyễn Đình Quyết mỗi người chín tháng tù treo về tội dùng nhục hình. Tại phiên tòa, một vấn đề được hai bị cáo, luật sư bào chữa và vị công tố viên đặt ra tranh luận: Các hoạt động trước khi có quyết định khởi tố vụ án có phải là hoạt động điều tra hay không.

Đây là nội dung rất quan trọng, bởi nếu các hoạt động trước khi có quyết định khởi tố vụ án không được coi là hoạt động điều tra mà chỉ coi là công tác xác minh, kiểm tra giải quyết tin báo tội phạm thì việc truy tố, xét xử hai bị cáo về tội dùng nhục hình là chưa chính xác.

Đánh đập, chích điện

Theo hồ sơ, bà Trần Thị Lan là người giúp việc cho gia đình ông VHT. Do bị mất tiền và nghị ngờ bà Lan lấy nên ông T. báo công an. Tiếp nhận tin báo, lãnh đạo Công an TP Nha Trang (Khánh Hòa) đã phân công điều tra viên Trần Bá Tuấn và cán bộ trinh sát Nguyễn Đình Quyết đi xác minh.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, từ ngày 28 đến 29-11-2010, Tuấn và Quyết đã dùng công cụ hỗ trợ là gậy cao su, dùi cui điện đánh đập, chích điện nhiều lần vào tay, chân, vai bà Lan để ép bà Lan khai nhận hành vi trộm cắp. Đến ngày 30-11-2010, bà Lan bị ngất xỉu trong nhà tạm giữ nên được đưa đi cấp cứu và điều trị.

Người nhà bà Lan đã làm đơn tố giác đến một số cơ quan chức năng. Kết quả điều tra của VKSND Tối cao xác định có cơ sở cho thấy bà Lan bị hai điều tra viên trên đánh trong khi bị tạm giữ nên khởi tố vụ án…

Read the rest of this entry »

 

Cách viết bản án hình sự

 I. Mục đích, ý nghĩa của bản án hình sự

          Bản án hình sự là một văn bản tố tụng hình sự ghi nhận các kết luận và quyết định của Hội đồng xét xử, cao hơn nữa đó là sự đánh giá của Nhà nước đối với một hành vi, một con người cụ thể khi hành vi đó, con người đó bị truy tố trước Tòa án. Bản án hình sự đánh dấu sự kết thúc của quá trình điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, do vậy bản án phải phản ánh trung thực diễn biến của vụ án và phải xác định rõ sự thật khách quan, đó là: có sự việc phạm tội xảy ra không?, ai là người đã thực hiện các hành vi đó và hành vi đó có cấu thành tội phạm không?, nếu là tội phạm thì phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của Bộ luật hình sự?, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội, động cơ, mục đích, hoàn cảnh, điều kiện của tội phạm đó… Căn cứ vào các kết luận, các phân tích, đánh giá nêu trên để Hội đồng xét xử Quyết định hình phạt cho tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội. Nếu không có tội thì Hội đồng xét xử phải xác định những căn cứ để tuyên bố bị cáo không phạm tội và giải quyết việc phục hồi danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.

          Theo nguyên tắc “Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án” (Nguyên tắc suy đoán vô tội) – Điều 9 BLHS năm 2003.

          Do đó, bản án hình sự có hiệu lực pháp luật là sự thể hiện quyền lực của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Hoạt động xét xử mà kết quả là việc hội đồng xét xử ra bản án để xác định một người có tội hay không có tội, phải chịu hình phạt hay không phải chịu hình phạt có ý nghĩa chính trị, xã hội rất sâu sắc và trước hết trực tiếp ảnh hưởng tới người bị đưa ra xét xử. Bản án hình sự tuyên đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không chỉ có ý nghĩa về mặt đảm bảo pháp chế Xã hội chủ nghĩa được thực hiện nghiêm minh mà còn mang tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm trong xã hội, đồng thời tạo ra niềm tin của nhân dân vào công lý.

Read the rest of this entry »

 

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc xét hỏi của kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự

Xét hỏi tại phiên toà mà nhiều người quen gọi là “thẩm vấn”. Xét hỏi tại phiên toà là một phần (một giai đoạn) của quá trình xét xử một vụ án hình sự, trong đó Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự phải kiểm tra các chứng cứ, kết luận điều tra, bản cáo trạng một cách công khai về những tình tiết của vụ án. Trong giai đoạn xét hỏi tại phiên toà, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự phải trực tiếp xét hỏi bị cáo, người bị thiệt hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, nghe kết luận của người giám định, xem xét xác vật chứng, đọc biên bản, công bố lời khai, công bố các tài liệu, xem xét tại chỗ… áp dụng các biện pháp được Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xem xét, đánh giá các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, nhằm xác định sự thật của vụ án, đồng thời loại bỏ những tình tiết không liên quan đến vụ án.

Xét hỏi là giai đoạn trung tâm của hoạt động xét xử và cũng là giai đoạn quan trọng nhất để xác định sự thật vụ án, có thể những câu hỏi và những câu trả lời tại phiên toà không khác với những câu hỏi và câu trả lời ở giai đoạn điều tra, nhưng nó có một ý nghĩa vô cùng quan trọng ở chỗ: Việc hỏi và trả lời được diễn ra công khai, nó là hình thức kiểm nghiệm kết quả điều tra của Cơ quan điều tra. Ngoài việc xét hỏi, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự còn xem xét vật chứng, xem xét hiện trường xảy ra vụ án và những nơi khác, công bố các tại liệu v.v…Cũng chính vì Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự còn có những hoạt động khác ngoài việc xét hỏi nên nhiều ý kiến cho rằng chương XX Bộ luật tố tụng hình sự nên có tiêu đề là: “Thủ tục điều tra xét hỏi tại phiên toà”. ý kiến này theo chúng tôi là hợp lý và nó phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng hình sự về căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, đó là: “Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ”.

Như vậy, xét hỏi tại phiên toà là một hoạt động tố tụng rất quan trọng, nếu bỏ qua giai đoạn này là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Từ khi có Nghị quyết Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2-1-2002 Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp thì vấn đề xét hỏi tại phiên toà hình sự lại càng được quan tâm Read the rest of this entry »

 

Một số vấn đề về chuyển vụ án hình sự

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì sau khi thụ lý hồ sơ vụ án để chuẩn bị xét xử, nếu Toà án thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án mình thì chuyển vụ án cho Toà án có thẩm quyền xét xử vụ án đó. Việc chuyển vụ án trong giai đoạn điều tra là do Cơ quan điều tra đề nghị và Viện kiểm sát quyết định, nhưng việc chuyển vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử lại do Toà án tự quyết định, Toà án chỉ thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Trong khi đó có nhiều trường hợp việc chuyển vụ án của Toà án nếu Viện kiểm sát không đồng ý thì Toà án có thẩm quyền xét xử vụ án đó cũng không xét xử được. Ví dụ: Toà án nhân dân huyện H sau khi thụ lý vụ án hình sự thấy không thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án mình, đã quyết định chuyển vụ án cho Toà án nhân dân huyện M, Toà án nhân dân huyện M cũng thấy vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án mình, nhưng Viện kiểm sát nhân dân huyện M không thay đổi bản cáo trạng vì cho rằng vụ án vẫn thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện H.

Đây là vấn đề tuy không phổ biến nhưng thực tiễn xét xử đã xảy ra nhiều trường hợp do không có sự thống nhất giữa Toà án với Viện kiểm sát dẫn đến việc lẽ ra vụ án phải được chuyển cho Toà án có thẩm quyền xét xử nhưng không chuyển được hoặc Toà án “buộc phải” xét xử vụ án sai thẩm quyền để rồi bị Toà án cấp phúc thẩm hoặc Toà án cấp giám đốc thẩm huỷ bản án vì vi phạm về thẩm quyền xét xử. Ngay cả khi bản án đã bị huỷ vì xét xử không đúng thẩm quyền thì việc giải quyết vụ án đó theo thẩm quyền xét xử cũng gặp khó khăn, nếu như Viện kiểm sát và Toà án không thống nhất về thẩm quyền xét xử.

Việc chuyển vụ án gắn liền với việc xác định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, muốn chuyển vụ án đúng, trước hết phải xác định đúng thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử vụ án.

Về thẩm quyền liên quan đến chuyển vụ án bao gồm thẩm quyền theo việc và thẩm quyền theo lãnh thổ. Bộ luật tố tụng hình sự quy định thẩm quyền điều tra và thẩm quyền xét xử không có gì mâu thuẫn. Vì vậy, nếu Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát xác định đúng thẩm quyền điều tra thì Toà án cũng sẽ xác định đúng thẩm quyền xét xử. Vấn đề còn lại là giải quyết trường hợp tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với nhau, mà đây mới là vấn đề quan trọng.

Read the rest of this entry »

 

Một số vấn đề về giới hạn của việc xét xử

Ngày 26-11-2003, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XI đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự (Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003). So với Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, thì Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có nhiều quy định mới, hoặc sửa đổi, bổ sung, trong đó vấn đề giới hạn của việc xét xử cũng được sửa đổi, bổ sung.

Giới hạn là phạm vi, mức độ nhất định, không thể hoặc không được phép vượt qua.1

Nếu giới hạn là phạm vi, mức độ nhất định, không thể hoặc không được vượt qua thì giới hạn của việc xét xử cũng phải được hiểu là phạm vi, mức độ nhất định, mà Toà án không thể hoặc không được vượt qua.

Khi nói đến giới hạn của việc xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng thường nghĩ ngay đến quy định tại điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 (nay là điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) mà ít khi nghĩ đến phạm vi xét xử.

Theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì “Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử. Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố”. Đây là giới hạn của việc xét xử hiểu theo nghĩa hẹp và cũng chủ yếu đối với Toà án cấp sơ thẩm.

Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì giới hạn của việc xét xử  không chỉ bao gồm nội dung của Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự, mà còn bao gồm cả nội dung về phạm vi, thẩm quyền xét xử của Toà án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Ví dụ: Theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự, thì Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phạm phá hoại hoà bình, chống loài người và các tội phạm chiến tranh; các tội phạm quy định tại các Điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự. Theo quy định này thì Toà án cấp huyện không thể xét xử vượt quá phạm vi quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự.

Read the rest of this entry »

 

Đã đến lúc bỏ bào chữa viên nhân dân

Theo BLTTHS hiện hành, bào chữa viên nhân dân có thể là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Quy định này đang được các chuyên gia đề nghị sửa đổi vì không còn phù hợp với tình hình hiện nay.

Bào chữa viên nhân dân (BCVND) xuất hiện do hoàn cảnh lịch sử của nước ta, xuất phát từ quy định “người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mướn luật sư” tại Điều 67 Hiến pháp năm 1946. Thời ấy, nước ta đang có chiến tranh, nghề luật sư chưa phát triển được nên Bác Hồ mới quy định về BCVND trong Sắc lệnh số 69 ngày 18-6-1949 nhằm đảm bảo quyền bào chữa cho người bị đưa ra xét xử hình sự.

Hoàn cảnh lịch sử đã thay đổi

Theo Nghị định số 01 ngày 12-1-1950 của Bộ Tư pháp, điều kiện để trở thành BCVND bao gồm: có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt đàn ông hay đàn bà, ít nhất 21 tuổi, hạnh kiểm tốt và chưa can án…

Từ đó, đầu mỗi năm, ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, thành và chánh án lập ra một danh sách các người trong địa phương có đủ điều kiện và bằng lòng đứng ra bào chữa trong các phiên tòa (trừ tòa án binh tại mặt trận). Về phần mình, người bị xét xử có thể trình một danh sách ba người bênh vực và chánh án sẽ chọn một trong ba người này. Nếu người bị xét xử chọn một người có tên trong danh sách thì chánh án bắt buộc phải thừa nhận.

Sau ngày đất nước thống nhất, ở một số nơi như TP Hà Nội, TP.HCM, TP Đà Nẵng… tiếp tục thành lập đoàn BCVND. Tuy nhiên, đến khi Pháp lệnh Luật sư 1987 có hiệu lực thì các đoàn BCVND đã không còn tồn tại. Thay vào đó, đội ngũ luật sư được thành lập trên toàn quốc đảm nhiệm hoạt động tham gia tố tụng bào chữa cho bị can, bị cáo, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các đương sự.

Read the rest of this entry »

 

Cải cách tư pháp theo mô hình tố tụng nào?

Đề án mô hình tố tụng hình sự Việt Nam do VKSND Tối cao soạn thảo tiếp tục khẳng định nước ta sẽ đi theo mô hình tố tụng pha trộn giữa tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng.

Đặc biệt, đề án đã thể hiện nhiều điểm tiến bộ về vai trò, hoạt động của tòa, VKS, luật sư…

VKSND Tối cao đề nghị xây dựng mô hình tố tụng hình sự pha trộn theo hướng tiếp tục duy trì những ưu điểm của mô hình tố tụng thẩm vấn hiện hành, tiếp thu những hạt nhân hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Cụ thể là phân vai các chủ thể tố tụng gắn với sự phân chia các chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự. Theo đó, chủ thể gồm chủ thể buộc tội, chủ thể bào chữa, tòa án và những chủ thể tố tụng khác.

Tòa không có trách nhiệm chứng minh tội phạm

Đề án đề cao nguyên tắc tòa án chỉ thực hiện chức năng xét xử, không buộc tội bị cáo, không có trách nhiệm chứng minh tội phạm. Bất cứ thẩm quyền nào của tòa án mâu thuẫn với chức năng xét xử, ảnh hưởng đến tính khách quan của tòa đều phải bị loại bỏ. Chẳng hạn, loại bỏ những nhiệm vụ, thẩm quyền của tòa không thuộc chức năng xét xử như trách nhiệm chứng minh tội phạm, khởi tố vụ án, tiếp tục xử khi VKS đã rút quyết định truy tố, xử vượt quá giới hạn truy tố…

Đề án nhấn mạnh phải tạo lập cơ chế để bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa, đề cao vai trò của người bào chữa trong hoạt động tố tụng. Khi xét xử, nếu nhận thấy có đủ chứng cứ và các yếu tố cấu thành tội phạm thì tòa áp dụng trách nhiệm hình sự; nếu không đủ chứng cứ thì tòa tuyên bị cáo vô tội.

Cạnh đó, đề án đề cập tới việc đổi mới vai trò, trách nhiệm của các chủ thể tố tụng và trình tự xét xử tại phiên tòa theo hướng việc xét hỏi chính thuộc về kiểm sát viên và người bào chữa. Kiểm sát viên hỏi về các tình tiết chứng minh việc buộc tội, luật sư hỏi về các tình tiết gỡ tội. Trình tự xét hỏi theo thứ tự kiểm sát viên hỏi trước, tiếp đến là người bào chữa và hội đồng xét xử nếu thấy cần thiết để kiểm tra chứng cứ buộc tội, gỡ tội…

Read the rest of this entry »

 

Điều tra thân thiện đối với người chưa thành niên

Khái niệm điều tra thân thiện (điều tra nhạy cảm) – mô hình điều tra được tiến hành theo những nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế, cân nhắc nhu cầu và quyền lợi của trẻ em, cân nhắc sự cân bằng giữa quyền được bảo vệ của trẻ em với luật pháp quốc gia và nhu cầu của cộng đồng – là khái niệm ngày càng phổ biến trong đời sống pháp lý quốc tế và các quốc gia có hệ thống pháp luật phát triển, trở thành một chỉ số đánh giá mức độ thực hiện quyền con người và tiến bộ xã hội. Là quốc gia đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em, với những yêu cầu mà các văn kiện pháp lý quốc tế về điều tra, xử lý những vụ án trẻ em/người chưa thành niên (NCTN) phạm tội hoặc bị tổn thương bởi tội phạm, Việt Nam sẽ tiếp cận mô hình điều tra thân thiện (ĐTTT) như thế nào? Cần có các điều kiện gì để hoàn thiện mô hình ĐTTT?

1. Điều tra thân thiện đối với người chưa thành niên theo pháp luật quốc tế

Khái niệm ĐTTT được hình thành từ sự ra đời và thực hiện một loạt các văn bản pháp luật quốc tế về quyền của trẻ em trong thời gian gần đây như Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em (1989), Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hiệp quốc về tư pháp NCTN (1985), Hướng dẫn phòng, chống tội phạm ở NCTN (1990), Quy tắc về bảo vệ NCTN bị tước đoạt quyền tự do (1990), Hướng dẫn của Liên hiệp quốc về các vấn đề tư pháp liên quan tới nạn nhân và nhân chứng trẻ em (2005)…

Qua các văn kiện pháp luật quốc tế, thông lệ quốc tế và các quan điểm khoa học về ĐTTT với NCTN, chúng tôi nhận thấy khái niệm ĐTTT được tiếp cận ở các góc độ cơ bản sau: thứ nhất, ĐTTT được tiếp cận như một thiết chế tố tụng tiền xét xử với yếu tố bộ máy, nhân lực, cơ sở vật chất và phương thức làm việc với NCTN trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ; thứ hai, ĐTTT được tiếp cận như một phương thức tiến hành tố tụng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN tham gia tố tụng với sự ghi nhận quyền của NCTN và trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Read the rest of this entry »

 
 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 57 other followers

%d bloggers like this: