<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	xmlns:georss="http://www.georss.org/georss" xmlns:geo="http://www.w3.org/2003/01/geo/wgs84_pos#" xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/"
	>

<channel>
	<title>Luật Hình Sự</title>
	<atom:link href="http://luathinhsu.wordpress.com/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://luathinhsu.wordpress.com</link>
	<description>Chuyên Trang Luật Hình Sự, Tố Tụng Hình Sự</description>
	<lastBuildDate>Sun, 15 Jan 2012 18:15:41 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.com/</generator>
<cloud domain='luathinhsu.wordpress.com' port='80' path='/?rsscloud=notify' registerProcedure='' protocol='http-post' />
<image>
		<url>http://1.gravatar.com/blavatar/7e9a730c466889a8a1b9ef6b27241957?s=96&#038;d=http%3A%2F%2Fs2.wp.com%2Fi%2Fbuttonw-com.png</url>
		<title>Luật Hình Sự</title>
		<link>http://luathinhsu.wordpress.com</link>
	</image>
	<atom:link rel="search" type="application/opensearchdescription+xml" href="http://luathinhsu.wordpress.com/osd.xml" title="Luật Hình Sự" />
	<atom:link rel='hub' href='http://luathinhsu.wordpress.com/?pushpress=hub'/>
		<item>
		<title>Quan điểm về tội phạm của một số nước trong bối cảnh toàn cầu hóa</title>
		<link>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/13/quan-diem-ve-toi-pham-cua-mot-so-nuoc-trong-boi-canh-toan-cau-hoa/</link>
		<comments>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/13/quan-diem-ve-toi-pham-cua-mot-so-nuoc-trong-boi-canh-toan-cau-hoa/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 13 Jan 2012 13:59:46 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Luật Hình Sự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tội Phạm Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://luathinhsu.wordpress.com/?p=3641</guid>
		<description><![CDATA[Các quốc gia đều xác định tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực, các hoạt động tội phạm luôn đi ngược lại với lợi ích xã hội, gây ra thiệt hại cho xã hội. Trong mỗi thời kỳ khác nhau và trong mỗi giai đoạn khác nhau, tội phạm trong xã hội [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&amp;blog=9224016&amp;post=3641&amp;subd=luathinhsu&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;" align="justify"><em><strong>Các quốc gia đều xác định tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực, các hoạt động tội phạm luôn đi ngược lại với lợi ích xã hội, gây ra thiệt hại cho xã hội. Trong mỗi thời kỳ khác nhau và trong mỗi giai đoạn khác nhau, tội phạm trong xã hội luôn có sự biến đổi cả về nội dung lẫn hình thức. Thế kỷ 21 đã xuất hiện những hình thức biến tướng mới của tội phạm. Vì vậy, nhận thức đầy đủ về phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm và có giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm luôn được các quốc gia ưu tiên quan tâm, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Bài viết tổng hợp một số quan điểm mới về tội phạm và giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay của một số nước. </strong></em></p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><strong>1. Các quan điểm về tội phạm và giải pháp phòng, chống tội phạm ở Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa</strong></p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>a) Quan điểm về tội phạm</em></p>
<p style="text-align:justify;" align="justify">Phân tích các quan điểm về tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa của các quốc gia thuộc nhóm này, có thể rút ra một số kết luận:</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Thứ nhất</em>, tất cả các quốc gia này trong bối cảnh toàn cầu hóa đều không đề cập về bản chất giai cấp của tội phạm. Họ cho rằng, tội phạm chỉ là một hiện tượng xã hội tiêu cực, có quá trình phát sinh, tồn tại, phát triển và diệt vong. Vì nó mang bản chất tiêu cực luôn đe dọa và gây ra những thiệt hại cho xã hội, do vậy cần được quy định cấm trong luật hình sự để làm cơ sở đấu tranh loại trừ.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Thứ hai</em>, các quốc gia này đều xác định, một người khi thực hiện một trong các hành vi nguy hiểm đã được ghi nhận trong Luật Hình sự thì mới bị coi là tội phạm. Điều này có nghĩa, tội phạm được xác định trên nguyên tắc: không có luật thì không có tội và “trong luật không có tội phạm thì không có hình phạt”.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em><span id="more-3641"></span>Thứ ba</em>, đa số đều thừa nhận trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhiều loại tội phạm phát triển quá nhanh, có lúc ngoài tầm kiểm soát của nhà nước, cho nên, không thể tránh khỏi những hậu quả nhất định mà tội phạm gây ra. Đồng thời, các quốc gia nói trên đều xác định một số loại tội phạm như: tội phạm ma túy; tội phạm rửa tiền; tội phạm xâm phạm sở hữu sử dụng công nghệ cao; tội phạm khủng bố; tội phạm có tổ chức; tội phạm buôn bán người hiện nay là những tội phạm nguy hiểm nhất cần tập trung đấu tranh và xác định, những tội phạm này trong bối cảnh toàn cầu hóa rất dễ trở thành tội phạm “không biên giới”.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Thứ tư</em>, cùng chung quan điểm mới về tội phạm là phải chịu hình phạt, nhưng không ghi nhận biện pháp trừng trị và phòng ngừa triệt để &#8211; đó là áp dụng hình phạt tử hình, nên đã cố gắng loại bỏ hình phạt tử hình ra khỏi hệ thống hình phạt. Đồng thời, tư nhân hóa nhà tù nhằm xã hội hóa hình thức cải tạo người phạm tội. Công tác thống kê tội phạm vẫn trung thành với lý thuyết thống kê theo hành vi phạm tội chứ không theo số vụ án hình sự, nghĩa là, trong mỗi vụ án hình sự, có bao nhiêu hành vi nguy hiểm do chủ thể tội phạm gây ra mà tương ứng với mỗi tội phạm được quy định trong Luật Hình sự thì được coi đó là một tội phạm đã xảy ra. Cơ quan bảo vệ pháp luật xác nhận đó là hành vi phạm tội, đăng ký vào sổ báo cáo, ghi nhận một tội phạm đã xảy ra. Vì vậy, thống kê hàng năm của mỗi quốc gia nói trên thường lên đến hàng triệu tội phạm/năm.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>b) Quan điểm về giải pháp phòng ngừa</em></p>
<p style="text-align:justify;" align="justify">Xuất phát từ những quan điểm trên về tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa, hầu hết các quốc gia nói trên đều có chung quan điểm là:</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Một là</em>, các cơ quan bảo vệ pháp luật của mỗi quốc gia phải thường xuyên bám sát thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, kịp thời phát hiện những phương thức, thủ đoạn phạm tội mới, đề xuất kịp thời sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện pháp luật hình sự, hoàn thiện hệ thống pháp luật đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trong trường hợp chưa kịp ban hành quy phạm pháp luật thì có thể cho phép các cơ quan tư pháp áp dụng nguyên tắc tương tự,  xác định sự tương đồng giữa hoàn cảnh thực tế cuộc sống và những quy phạm phạm pháp luật tương tự. Linh hoạt thực hiện hai phương pháp khắc phục những lỗ hổng trong pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng, đó là áp dụng luật và pháp luật tương tự.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Hai là,</em> do tính chất phức tạp của nhiều loại tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức và tội phạm xuyên quốc gia, nên các quốc gia này luôn chú ý việc tăng cường cơ sở vật chất cho lực lượng chuyên trách bảo vệ pháp luật với những trang thiết bị hiện đại, đầu tư ngân sách cho các lực lượng đấu tranh phòng, chống tội phạm là ưu tiên số một, trong đó có cả vấn đề lương bổng và chế độ ưu đãi, tinh nhuệ lực lượng bảo vệ pháp luật từ cơ sở đến trung ương và cả các bộ phận phục vụ, các đơn vị nghiên cứu, đào tạo.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Ba là,</em> tăng cường hợp tác quốc tế song phương và đa phương trên cơ sở các hiệp ước và điều ước quốc tế về đấu tranh, phòng chống tội phạm, thường xuyên trao đổi thông tin và chia sẻ kinh nghiệm giữa các quốc gia với nhau trong khu vực và trên thế giới về đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify">
<p style="text-align:justify;" align="justify"><strong>2. Các quan điểm về tội phạm và giải pháp phòng, chống một số loại tội phạm ở Liên bang Nga, Trung Quốc trong tình hình hiện nay</strong></p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>a) Các quan điểm về tội phạm và giải pháp phòng, chống một số loại tội phạm ở Liên bang Nga</em></p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Quan điểm về tội phạm</em>: Quan điểm thứ nhất cho rằng, những hiện tượng tiêu cực mới nổi lên như khiêu dâm, lạm dụng tình dục trẻ em, sử dụng ma túy, mại dâm nam… và những hành vi phạm tội mới du nhập vào Nga như sử dụng công nghệ cao để phạm tội, mua bán người và bộ phận cơ thể người, tội phạm rửa tiền, mua bán ma túy tổng hợp và tổ chức sử dụng ma túy, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia… đó là những “tội phạm mới” hoặc đó là “tội phạm không mang tính truyền thống”. Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng, những dạng hành vi nêu trên, trước đây trong lòng xã hội Xô viết không có mà chỉ xuất hiện khi nước Nga chuyển sang chế độ mới với nền kinh tế thị trường. Chính những “tội phạm không mang tính truyền thống” như vậy xuất hiện đã làm cho các cơ quan bảo vệ pháp luật không kịp thích nghi để kiểm soát chúng, đồng nghĩa với việc các nhà lập pháp cũng không kịp nhận diện để bổ sung vào trong luật, và đương nhiên, hệ thống luật của Liên bang Nga về đấu tranh chống tội phạm trở nên lạc hậu, có nhiều lỗ hổng<sup>1</sup>.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify">Quan điểm thứ hai cho rằng, tất cả những hiện tượng tiêu cực, dù có nguy hiểm đến đâu cho xã hội, nếu không được quy định trong luật hình sự Liên bang Nga thì không thể coi đó là “tội phạm mới”, bởi tội phạm phải được quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS) Liên bang và chỉ một người phạm một tội được quy định trong BLHS Liên bang thì mới bị coi là tội phạm (Điều 5 BLHS Liên bang Nga 1996). Đồng thời, quan điểm này cho rằng, những tội phạm đang có xu hướng gia tăng ở nước Nga hiện nay với những thủ đoạn tinh vi xảo quyệt nhờ sử dụng công nghệ cao hoặc mới có sự biến tướng du nhập từ nước ngoài vào như lừa đảo qua mạng internet, qua sàn chứng khoán, buôn bán người, mua bán ma túy, tham nhũng, trốn thuế dưới nhiều hình thức khác nhau… là hình thức “phạm tội mới” mà không thừa nhận đó là “tội phạm không mang tính truyền thống”<sup>2</sup>. Bởi “tội phạm không mang tính truyền thống” là loại tội phạm đã được quy định trong luật hình sự nhưng thực tế ít xảy ra, thậm chí nhiều năm không xảy ra vụ án nào. Còn tội phạm nào mà thực tế xảy ra nhiều, kể cả với những phương thức thủ đoạn mới tinh vi thì được coi là “tội phạm mang tính truyền thống”<sup>3</sup>.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Quan điểm về giải pháp đấu tranh phòng, chống với tội phạm hình sự trong bối cảnh toàn cầu hóa của Nhà nước Liên bang Nga</em>: Trên cơ sở biện giải và tổng hợp hai quan điểm về tội phạm nói trên, Quốc hội Liên bang đã thống nhất với quan điểm thứ hai rằng: những hiện tượng tiêu cực mà không được quy định trong BLHS thì không thể coi là “tội phạm mới” hoặc những hành vi biến tướng mới của tội phạm mà tội phạm đó đã được quy định trong BLHS thì coi là “hành vi phạm tội mới” hoặc là “hành vi phạm tội không mang tính truyền thống”<sup>4</sup>. Ngày 13/5/2008, Quốc hội Liên bang Nga đã họp và quyết định sửa đổi bổ sung BLHS 1996 nhằm giải quyết những vấn đề đấu tranh chống tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Trên cơ sở Nghị quyết số 63 của Quốc hội Liên bang Nga về sửa đổi BLHS 1996 và một số văn bản chỉ đạo của các cơ bảo vệ pháp luật Nga, có thể tổng hợp một số quan điểm cơ bản mang tính chính sách hình sự quốc gia của Nhà nước Nga trong đấu tranh phòng, chống tội phạm hình sự hiện nay trên một số phương diện sau:</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Thứ nhất</em>, tội phạm là một hiện tượng xã hội mang tính chất hình sự &#8211; pháp lý, bởi thế nó chịu sự tác động sâu sắc của ý thức pháp quyền. Ý thức pháp quyền thể hiện ý chí của giai cấp thống trị xã hội, được thể hiện bằng pháp luật, nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong cộng đồng xã hội nhất định. Sự điều chỉnh đó luôn mang tính cưỡng chế thông qua hệ thống pháp luật của Nhà nước. Trong một xã hội nếu có hệ thống pháp luật đầy đủ, pháp luật được thực hiện nghiêm minh, mọi công dân đều có ý thức tuân thủ pháp luật thì sẽ hạn chế được các hành vi phạm tội. Ngược lại, pháp luật không đầy đủ, thiếu đồng bộ, không được tôn trọng và thực hiện không nghiêm minh sẽ có nguy cơ làm tăng tình hình tội phạm. Chính vì vậy, các cơ quan bảo vệ pháp luật Liên bang Nga cần thường xuyên cải tổ, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về phòng, chống tội phạm; thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ  phòng chống tội phạm trên toàn lãnh thổ Liên bang Nga.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Thứ hai</em>, để ngăn chặn tình trạng tội phạm, cần thiết phải có sức mạnh của Nhà nước. Vì vậy, phải nâng cao vai trò của Nhà nước trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhà nước cần phải cải cách kinh tế và xã hội, bắt đầu từ việc bảo đảm thi hành những tuyên bố trong Hiến pháp Liên bang Nga năm 1992 về bảo đảm các giá trị của con người, quyền và sự tự do của công dân. Đóng vai trò quan trọng của việc thi hành các yêu cầu này có thể chính là cơ quan tự quản địa phương theo mô hình cơ quan tự quản địa phương ở Liên bang Nga hiện nay.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Thứ ba</em>, các cơ quan bảo vệ pháp luật Liên bang Nga cần phải xác định rõ ràng con đường và phương pháp tương xứng giữa pháp luật hình sự với nguyên tắc phòng ngừa xã hội của khoa học tội phạm học; hoàn thiện tính hiện thực cơ bản, cân nhắc (tính toán) sự đánh giá chính xác tình hình, khả năng, quy luật và khuynh hướng phát triển xã hội, các biện pháp mang tính cụ thể, chiến lược về việc kiềm chế tội phạm. Xã hội cần phải được tiếp nhận những bảo đảm giúp đỡ có cơ sở của những văn bản chính sách hình sự và phải được xác định phù hợp với quan điểm bảo đảm an ninh quốc gia của Liên bang Nga đối với chiến lược đấu tranh chống tội phạm hình sự.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Thứ tư</em>, các cơ quan bảo vệ pháp luật Liên bang cần thiết phải có mức độ quản lý mới, có sức mạnh và hiệu lực trên mặt trận chống tội phạm hình sự; củng cố tăng cường mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước và cấu trúc xã hội công dân, hoạt động phối hợp với tất cả các nhánh quyền lực, sự phối hợp không chỉ trong phạm vi hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật mà còn cả trong các cơ quan chính quyền &#8211; hành chính ở mức độ trong các chủ thể liên bang, khu vực liên bang, cũng như trên phạm vi cả nước.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Thứ năm</em>, Quốc hội Liên bang và Chính phủ Nga khi ban hành các văn bản luật hay văn bản về chính sách pháp luật hình sự phải xác định những nguyên tắc (cơ sở) chính sách nhà nước trong phạm vi đấu tranh với tội phạm; trong trường hợp văn bản được ban hành ở mức độ cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cần phải trở thành văn bản có hiệu lực dài hạn, ổn định mà khi thi hành sẽ bảo đảm (tạo điều kiện) thống nhất nỗ lực của chính quyền và sức mạnh xã hội đối với các phương hướng, mục tiêu đối phó với cả những hiện tượng xã hội tiêu cực nảy sinh và cuối cùng là khắc phục tình hình tội phạm hình sự trầm trọng hiện nay ở Liên bang Nga<sup>5</sup>.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Thứ sáu</em>, các biện pháp đấu tranh của Liên bang Nga với mafia: trước tình hình hoạt động của tội phạm có tổ chức kiểu mafia, Bộ Nội vụ Liên bang Nga đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức và các lực lượng đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức, thành lập bộ phận thường trực, chỉ đạo về nghiệp vụ, rà soát lại hệ thống tổ chức các lực lượng này. Bộ Nội vụ Liên bang đã thống nhất tổ chức các bộ phận đấu tranh chống tội phạm có tổ chức. Theo quyết định này, cơ cấu tổ chức của lực lượng đấu tranh chống tội phạm có tổ chức bao gồm: Tổng cục đấu tranh chống tội phạm có tổ chức thuộc Bộ Nội vụ Liên bang; các Cục Liên vùng đấu tranh chống tội phạm có tổ chức thuộc Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ thành phố, tỉnh thuộc Liên bang. Trên toàn lãnh thổ Liên bang Nga đã có 10 Cục liên vùng và 67 phòng ở các địa phương làm các công tác đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức<sup>6</sup>.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Thứ bảy</em>, tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm, bằng việc ban hành chính sách cho phù hợp với pháp luật quốc tế và pháp luật Liên bang Nga. Trong số đó, kế hoạch mang tính quốc tế rất quan trọng là phải thể hiện được Nhà nước Nga trực tiếp và tuyên bố rõ ràng cho cộng đồng quốc tế về sự không khoan nhượng của mình đối với tội phạm, trong đó có tội phạm xuyên quốc gia, về quyết tâm sẵn sàng đấu tranh đến cùng với các loại tội phạm nói chung, tội phạm tham nhũng, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và mafia nói riêng ở Liên bang Nga và trên thế giới<sup>7</sup>.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>b) Quan điểm về tội phạm của Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế</em></p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Quan điểm về tội phạm</em>: Điều 14 của BLHS Trung Quốc (1997) đã định nghĩa tội phạm như sau: Tất cả các hành vi gây nguy hiểm đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của quốc gia, chia rẽ quốc gia, phá hoại quyền lực chính trị của chuyên chính dân chủ nhân dân và lật đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa, phá hoại trật tự kinh tế và xã hội; xâm phạm tài sản sở hữu của Nhà nước hoặc của tập thể quần chúng lao động, xâm phạm tài sản của công dân; xâm phạm quyền cá nhân, quyền dân chủ và các quyền khác của công dân; và các hành vi khác gây nguy hiểm cho xã hội đều là tội phạm nếu theo luật những hành vi này cần phải xử lý bằng hình sự. Tuy nhiên, nếu trong những hoàn cảnh rõ ràng là nhỏ và thiệt hại của các hành vi gây ra là không lớn, thì những hành vì này không bị coi là tội phạm.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify">Hiện nay, Trung Quốc cũng như hầu hết các nước trên thế giới không đưa ra khái niệm tội phạm truyền thống và tội phạm phi truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa. Trái lại, các nước này đã đưa khái niệm về các vấn đề an ninh truyền thống và vấn đề an ninh phi truyền thống trên cơ sở xem xét đánh giá về lợi ích quốc gia, sự nguy hại đối với xã hội và quyền con người trong bối cảnh các quốc gia, dân tộc trên thế giới có mục tiêu và các bước phát triển chung về hiện đại hóa nền kinh tế; có chung động cơ thúc đẩy hội nhập quốc tế và khu vực; và những yêu cầu về giải quyết các mối đe dọa về an ninh phi truyền thống nói chung hay an ninh xã hội, an ninh môi trường, an ninh con người nói riêng.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify">Đây chính là cơ sở nền tảng để xác định hành vi nào là hành vi phạm tội, đồng thời cũng là điều kiện để mở rộng phạm vi xác định của hành vi phạm tội đối với các hành vi nguy hiểm cho xã hội ở bên ngoài Trung Quốc hoặc có liên quan đến những vấn đề toàn cầu khác (ví dụ như việc điều chỉnh của luật đối với những người Trung Quốc ở nước ngoài khác với người gốc Trung Quốc ở nước ngoài như thế nào). Trung Quốc đã nêu ra hàng loạt các vấn đề an ninh phi truyền thống đã và đang bộc lộ ra các diện mạo mới. Những vấn đề này bao gồm các hiện tượng như: sự gia tăng của tội phạm buôn bán ma túy và cướp biển, nguy cơ về ô nhiễm hạt nhân, sự gia tăng của hạt nhân và chuyển giao công nghệ về vũ khí hủy diệt hàng loạt, sự thiếu hụt và yếu kém của hệ thống tài chính tiền tệ, các bệnh truyền nhiễm như AIDS, cúm gà và bệnh suy giảm đường hô hấp (SARC), cũng như sự chuyên quyền và tham nhũng của các quan chức chính phủ trong quá trình đổi mới nền kinh tế xã hội&#8230;</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify">Theo đó, Trung Quốc đã đưa ra quan niệm về sự biến đổi đa dạng và phức tạp của tội phạm cũng như là cơ sở để xác định sự xuất hiện những loại tội phạm mới. Một số loại tội phạm trước đây xuất hiện với những hình thức mới nghiêm trọng hơn, trong khi một số loại tội phạm khác lại giảm đi hoặc trở nên ít nghiêm trọng hơn, nhường chỗ cho một số loại tội phạm mới ra đời như tội phạm rửa tiền, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, tội phạm lừa đảo kinh tế tài chính quốc tế&#8230; Trong vấn đề này, một số nghiên cứu cho thấy, ở Trung Quốc, thời gian qua tội phạm có động cơ kinh tế gia tăng ở tỉ lệ cao hơn tội phạm bạo lực trên đường phố. Những tội phạm lừa đảo và tiền giả hoặc tội phạm gây thiệt hại tài chính lớn thì có tốc độ phát triển tăng nhanh hơn các tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm bạo  lực&#8230; Về mặt thực tiễn, mặc dù Trung Quốc vẫn là một trong số nước trên thế giới có tỷ lệ tội phạm thấp, nhưng thời gian qua, tình hình tội phạm vẫn liên tục tăng. Hiện nay, Chính phủ Trung Quốc đang đề ra nhiều biện pháp phòng chống những tội phạm cụ thể trong chiến lược tổng thể giải quyết hàng loạt các vấn đề như tội phạm, khủng bố, bệnh dịch, thiên tai&#8230; trong bối cảnh toàn cầu hóa.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Quan điểm về giải pháp phòng ngừa</em>: Trước tình trạng tội phạm có tổ chức phát triển, Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng những biện pháp hữu hiệu để đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức:</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify">- Đấu tranh mạnh mẽ chống loại tội phạm này và tập trung vào việc phòng ngừa. Công an các cấp đã đặc biệt quan tâm tới hậu quả nghiêm trọng của tội phạm có tổ chức đối với an ninh xã hội; tập trung nghiên cứu luật pháp, các đặc điểm và xu hướng của tội phạm có tổ chức, kiên quyết tuân theo những phương châm “sớm còn hơn muộn”, “tấn công tốt hơn là bảo vệ”, “nghiêm khắc tốt hơn và bóp chết từ trong trứng”. Ở những khu vực tội phạm có tổ chức chiếm ưu thế, cảnh sát tập trung thời gian và lực lượng để đấu tranh triệt để. Ngăn cản sự phát triển của loại tội phạm này.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify">- Hoàn thiện hệ thống pháp luật và nghiêm khắc trừng phạt những tên tội phạm có tổ chức. Ngành lập pháp Trung Quốc đã bổ sung các điều khoản về chống tội phạm có tổ chức trong BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa mới được sửa đổi. Các điều khoản này nhấn mạnh việc trừng phạt nghiêm minh những tên cầm đầu các nhóm tội phạm có tổ chức. Ngoài ra, một số địa phương đã có những quy định của mình về phòng chống tội phạm có tổ chức. Sự tham gia của nhân dân trong việc đấu tranh chống tội phạm có tổ chức có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công việc. Vì vậy, lực lượng Công an Trung Quốc tăng cường việc tuyên truyền để làm cho công chúng nhận biết bộ mặt thực và các thủ đoạn thường xuyên của tội phạm có tổ chức và tăng cường khả năng chống lại chúng. Ngoài ra, các cơ quan công an còn tăng cường bảo vệ nạn nhân và người làm chứng để mở rộng thu thập dấu vết và bằng chứng của loại tội phạm này.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify">- Thành lập các cơ quan chuyên trách chống tội phạm có tổ chức và nhấn mạnh việc đào tạo chuyên môn. Qua đó, các điều tra viên phải hiểu rõ đặc điểm và phương thức hoạt động của tội phạm có tổ chức. Họ cũng phải hiểu và vận dụng luật pháp để điều tra các vụ án có hiệu quả và trừng phạt những tên tội phạm, đặc biệt là những tên cầm đầu một cách nghiêm khắc. Vì vậy, việc thành lập các cơ quan đặc biệt chống tội phạm có tổ chức, huấn luyện các biện pháp phát hiện đấu tranh và nâng cao hiểu biết về luật pháp cho điều tra viên là rất cần thiết.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify">- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và đề phòng việc xâm nhập vào lục địa của các “tổ chức xã hội đen” nước ngoài. Đấu tranh chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia là một công việc quan trọng trong hợp tác giữa cảnh sát Trung Quốc và nước ngoài, trong đó có hợp tác với ngành Công an Việt Nam.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify">Chính phủ Trung Quốc đã có các chính sách rõ ràng về đấu tranh chống sự xâm nhập của các tổ chức tội phạm nước ngoài và tuân theo ba nguyên tắc: thứ nhất, không cho phép phát triển các tổ chức bất hợp pháp ở lục địa, một khi đã phát hiện ra thì phải ngăn chặn triệt để; thứ hai, không cho phép tồn tại ở lục địa như là một “bến cảng an toàn” để bọn tội phạm nước ngoài trốn tránh; thứ ba, bất cứ hoạt động tội phạm nào xảy ra ở lục địa sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc theo BLHS Trung Quốc. Trong những năm qua, Công an Trung Quốc đã thường xuyên hợp tác rộng rãi với công an, cảnh sát các nước và khu vực hợp tác đấu tranh chống các tổ chức tội phạm nước ngoài xâm nhập vào Trung Quốc và tội phạm có tổ chức Trung Quốc hoạt động ở nước ngoài. Sự hợp tác này bao gồm trao đổi thông tin về tội phạm, tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ tội phạm, cùng phối hợp điều tra các vụ tội phạm có tổ chức. Thông qua việc trao đổi thông tin tội phạm có thể tìm ra xu hướng của tội phạm có tổ chức trong nước và nước ngoài, sau đó kiểm soát các hoạt động có tổ chức tội phạm. Nhờ sự phối hợp và tương trợ tư pháp, Trung Quốc đã bắt gọn nhiều thành viên của các tổ chức tội phạm đang bị các cơ quan nước ngoài truy nã và đưa chúng ra xét xử. Công an Trung Quốc cũng đã cử các điều tra viên tới một số nước theo lời mời của họ để cùng phối hợp đấu tranh chống tội phạm có tổ chức, đồng thời tham gia các hội nghị quốc tế về tội phạm có tổ chức để tăng cường trao đổi thông tin và kinh nghiệm đấu tranh.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify">
<p style="text-align:justify;" align="justify"><strong>3. Kiến nghị hoàn thiện chính sách hình sự ở Việt Nam</strong></p>
<p style="text-align:justify;" align="justify">Qua nghiên cứu các quan điểm mới về tội phạm và các quan điểm về phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm của một số nước trên thế giới nói trên, chúng ta cần thiết phải nghiên cứu và học tập một số kinh nghiệm sau:</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Thứ nhất</em>, trong cả lý luận và thực tiễn, chúng ta luôn thừa nhận tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực và luôn mang bản chất giai cấp. Đồng thời, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, với xu thế hoạt động của một số tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, đã vượt ra tầm kiểm soát của biên giới quốc gia, chúng ta phải xác định và dự báo chính xác về các phương thức thủ đoạn hoạt động của các loại tội phạm và các tổ chức tội phạm du nhập vào Việt Nam, để chủ động xây dựng hệ thống biện pháp phòng ngừa đấu tranh.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Thứ hai,</em> tiếp tục và cần thiết phải giữ hình phạt chung thân và hình phạt tử hình trong BLHS. Xét về mọi phương diện kinh tế, văn hóa, xã hội ở nước ta chưa cho phép loại bỏ hai loại hình phạt này. Đối với hình phạt tử hình, từng loại tội phạm nên đưa hình phạt này vào hay không là do yêu cầu và hiệu quả đấu tranh. Có thể tham khảo kinh nghiệm một số nước: (1) BLHS Trung Quốc chỉ có 7 tội danh có hình phạt tử hình, thậm chí, nhiều tội xâm phạm an ninh quốc gia và một số tội phạm tham nhũng không có hình phạt tử hình, nhưng nhiều đối tượng phạm một trong các tội phạm ở nhóm này vẫn bị tử hình. Bởi vì, cuối mỗi chương tội phạm đều có điều luật quy định hình phạt bổ sung và cho phép các thẩm phán áp dụng “nguyên tắc tương tự” trong xử lý tội phạm hình sự. Cho nên, về hình thức BLHS Trung Quốc rất ít tội danh có án tử hình &#8211; đây là một nghệ thuật xây dựng luật và có tác dụng phòng ngừa rất cao; (2) BLHS Liên bang Nga, trong hệ thống hình phạt vẫn có tử hình, nhưng 10 năm nay Nga không áp dụng hình phạt này. Tuy nhiên, họ không loại bỏ hình phạt này mà vẫn để trong BLHS, mặc dù từ 1999 đến nay đã sửa đổi 4 lần. Thay vào đó, Quốc hội ra nghị quyết hoãn áp dụng hình phạt tử hình. Việc duy trì nhưng không áp dụng hình phạt này có tính chất phòng ngừa rất cao. Chúng ta cần nghiên cứu và có thể nên học kinh nghiệm trong vấn đề xây dựng và áp dụng hình thức hình phạt này trong BLHS. Cần tiếp tục duy trì hình phạt tử hình đối với một số tội phạm nguy hiểm theo tinh thần sửa đổi của BLHS năm 2009. Tuy nhiên, hạn chế tới mức thấp nhất việc áp dụng hình phạt này trong một số trường hợp và để làm được điều này, chúng ta cần cân nhắc và hoàn thiện chế định tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) trong BLHS làm căn cứ quyết định hình phạt chính xác.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Thứ ba</em>, thay đổi hình thức hoàn thiện pháp luật hình sự, bằng việc hàng năm Quốc hội nên đưa chương trình hoàn thiện pháp luật hình sự vào một kỳ họp của Quốc hội. Tại kỳ họp đó, Quốc hội sẽ xem xét, thảo luận nên sửa hay không sửa, bổ sung hay không nên bổ sung vào BLHS những hành vi nguy hiểm đang tồn tại, phát triển là tội phạm hay không phải là tội phạm, để có chế tài xử lý nghiêm khắc; đồng thời loại bỏ hay không loại bỏ những quy định không cần thiết cũng như những hành vi không còn tính chất nguy hiểm cho xã hội ra khỏi BLHS, thay vào đó sẽ được điều chỉnh bằng chế tài hành chính.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify"><em>Thứ tư,</em> nên xem xét và nâng mức tuổi chịu TNHS, cũng như đưa vào trong BLHS vấn đề TNHS đối với pháp nhân.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify">- Trong những năm gần đây, tội phạm do người chưa thành niên gây ra ngày một gia tăng, thậm chí có nơi có lúc ở mức báo động. Nhiều vụ phạm tội do đối tượng này gây ra đặc biệt nghiêm trọng. Mức độ đáng lo ngại ở đây là nhiều đối tượng phạm tội ở lứa tuổi dưới 14 (tuổi chịu TNHS theo quy định của BLHS hiện hành). Qua khảo sát cho thấy, các vụ vi phạm pháp luật hình sự chiếm tới 62% các em ở lứa tuổi từ 12 đến dưới 14 tuổi, trong đó có nhiều vụ giết người, hiếp dâm, cướp tài sản. Nhiều em khi được hỏi về động cơ và nhận thức hành vi của mình đã trả lời: pháp luật không xử lý người dưới 14 tuổi phạm các tội này nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Vấn đề đặt ra, cần thiết phải sửa đổi BLHS quy định lại mức độ tuổi chịu TNHS để phòng ngừa và xử lý đối với loại chủ thể này.</p>
<p style="text-align:justify;" align="justify">- Khẩn trương quy định thiết chế TNHS đối với pháp nhân vào BLHS, bởi nhiều năm qua, hai loại tội phạm đang lợi dụng lỗ hổng này trong pháp luật hình sự  là (1) tội phạm trốn thuế, theo thống kê của Tổng cục Thuế, hầu hết (85%) các doanh nghiệp nhà nước luôn ở trong tình trạng “nợ đọng thuế” nhiều năm; (2) tội phạm môi trường, theo báo cáo của Cục C36 &#8211; Bộ Công an và Bộ Tài nguyên Môi trường, ở nước ta có 97% các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, dịch vụ vi phạm về môi trường. Nhưng cả hai tội phạm trên hầu như không xử lý được vì lý do “cả tập thể vi phạm”, không quy kết TNHS cho cá nhân người đứng đầu, do vậy tập thể phải gánh chịu, nhưng pháp luật hình sự không quy định TNHS đối với tập thể (pháp nhân), do đó, các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực này đã lợi dụng triệt để kẽ hở này vi phạm. Kinh nghiệm sau một thời gian thực hiện nền kinh tế thị trường, Trung Quốc và Liên bang Nga đã sửa đổi và bổ sung vào BLHS vấn đề TNHS đối với pháp nhân bằng những hình phạt như: phạt tiền, cấm kinh doanh một số lĩnh vực và giải thể doanh nghiệp.</p>
<p style="text-align:justify;">
<blockquote>
<p style="text-align:justify;"><strong>Chú thích:</strong></p>
<p style="text-align:justify;"><em>(1) L.K. Saviuk. Bàn về quan niệm chính sách hình sự của Nhà nước. Báo Nước Nga 17/2/2000.</em></p>
<p style="text-align:justify;"><em>(2) GS.TSKH Luật Kozotrkin. I.D. Luật hình sự so sánh: Luật hình sự các nước trên thế giới. Mátxcơva, 2004, tr. 5.</em></p>
<p style="text-align:justify;"><em>(3) GS.TSKH Luật Ruvalev M.R. Về khái niệm chính sách nhà nước đấu tranh với tội phạm ở Nga. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 12/2006 (tiếng Nga).</em></p>
<p style="text-align:justify;"><em>(4) Nghị quyết số 63 của Quốc hội Liên bang Nga về sửa đổi BLHS 1996 ngày 13/52008. Báo Nước Nga ngày 14/5/2008.</em></p>
<p style="text-align:justify;"><em>(5) Báo cáo của Viện trưởng Viện Kiểm sát Liên bang Nga Traika Youri Iakovlevich trước Hội đồng Liên bang &#8211; Quốc hội Liên bang Nga ngày 20/5/2008.</em></p>
<p style="text-align:justify;"><em>(6) Xem. Saviuk L.K. Các cơ quan bảo vệ pháp luật và các cơ quan xét xử Liên bang Nga. M., 2004. tr.257.</em></p>
<p style="text-align:justify;"><em>(7) Kế hoạch đấu tranh chống tham nhũng của Tổng thống Liên bang Nga Dmitri Medvedev có hiệu lực ngày 1/10/2008. Báo Nước Nga ngày 19/8/2008.</em></p>
</blockquote>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:right;"><strong><em>TS. Nguyễn Minh Đức, PGĐ Trung tâm N.cứu Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm &#8211; Học viện CSND</em></strong></p>
<p style="text-align:right;"><strong><em>Theo: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử (http: nclp.org.vn)</em></strong></p>
<br />Filed under: <a href='http://luathinhsu.wordpress.com/category/t%e1%bb%99i-ph%e1%ba%a1m-h%e1%bb%8dc/'>Tội Phạm Học</a>  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/luathinhsu.wordpress.com/3641/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/luathinhsu.wordpress.com/3641/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/luathinhsu.wordpress.com/3641/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/luathinhsu.wordpress.com/3641/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/luathinhsu.wordpress.com/3641/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/luathinhsu.wordpress.com/3641/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/luathinhsu.wordpress.com/3641/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/luathinhsu.wordpress.com/3641/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/luathinhsu.wordpress.com/3641/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/luathinhsu.wordpress.com/3641/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/luathinhsu.wordpress.com/3641/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/luathinhsu.wordpress.com/3641/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/luathinhsu.wordpress.com/3641/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/luathinhsu.wordpress.com/3641/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&amp;blog=9224016&amp;post=3641&amp;subd=luathinhsu&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/13/quan-diem-ve-toi-pham-cua-mot-so-nuoc-trong-boi-canh-toan-cau-hoa/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/ced4978d5e994e9a06bccb29b1a4230e?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">luathinhsu</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Làm giả bột ngọt, tội gì?</title>
		<link>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/12/lam-gia-bot-ngot-toi-gi/</link>
		<comments>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/12/lam-gia-bot-ngot-toi-gi/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 12 Jan 2012 15:53:22 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Luật Hình Sự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Câu Chuyện Pháp Luật]]></category>
		<category><![CDATA[Luật Hình Sự]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://luathinhsu.wordpress.com/?p=3639</guid>
		<description><![CDATA[Cùng một hành vi làm giả bột ngọt nhưng có nơi xử lý hình sự về tội sản xuất hàng giả, có nơi lại xử lý về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh. Theo quy định, xử tội nào mới đúng? Ngày 5-1 [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&amp;blog=9224016&amp;post=3639&amp;subd=luathinhsu&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em><strong>Cùng một hành vi làm giả bột ngọt nhưng có nơi xử lý hình sự về tội sản xuất hàng giả, có nơi lại xử lý về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh. Theo quy định, xử tội nào mới đúng?</strong></em></p>
<p>Ngày 5-1 vừa qua, TAND quận Bình Tân (TP.HCM) đã tuyên phạt Dương Thị Yến Xuân hai năm sáu tháng tù treo, Đặng Hữu Tài và Lê Thái Hiền mỗi người hai năm tù treo về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh.</p>
<div>
<div id="contentdetail">
<p align="justify"><strong>Mỗi nơi áp một tội</strong></p>
<p align="justify">Theo hồ sơ, Hiền và Tài được Xuân thuê sản xuất bột ngọt và bột giặt giả. Các bị cáo đổ một bao bột ngọt Trung Quốc loại 25 kg trộn đều với 1 kg muối, 1 kg bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto rồi chia ra thành từng bịch nhỏ. Cạnh đó, các bị cáo lấy một bao bột giặt nhãn hiệu Yes pha trộn với một xô bột giặt Omo thật và 1 kg chất tạo bọt để làm bột giặt Omo giả.</p>
<p align="justify">Tổng giá trị bột ngọt giả nhãn hiệu Ajinomoto là gần 27 triệu đồng, còn bột giặt giả nhãn hiệu Omo là hơn 1 triệu đồng. Số hàng giả này được các bị cáo đem đi tiêu thụ ở chợ Bình Tây.</p>
<p align="justify">Các cơ quan tố tụng ở Bình Tân kết luận hành vi pha chế bột ngọt giả của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về sản xuất buôn bán các loại hàng hóa là lương thực, thực phẩm. Hành vi này không những làm mất ổn định thị trường mà còn đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người tiêu dùng, đã phạm vào tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157 BLHS). Riêng hành vi sản xuất bột giặt giả của các bị cáo chỉ có tổng giá trị hơn 1 triệu đồng nên chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự.</p>
<p align="justify"><span id="more-3639"></span>Trái ngược với vụ án trên, cũng có hành vi làm giả bột ngọt tương tự nhưng Nguyễn Thanh Hùng, Phạm Thanh Dũng lại chỉ bị xử lý về một tội nhẹ hơn là tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156 BLHS).</p>
<p align="justify">Cụ thể, sáng 31-5-2011, Công an quận 11 (TP.HCM) đã bắt quả tang Hùng và Dũng đang đóng gói bột ngọt giả hiệu Ajinomoto, thu giữ 30 kg bột ngọt giả thành phẩm, 750 kg bột ngọt nguyên liệu chưa qua tinh luyện và hàng trăm ký nguyên phụ liệu, bao bì, dụng cụ sản xuất. Tại cơ quan điều tra, Hùng và Dũng khai đã làm giả bột ngọt bằng cách trộn bột ngọt chưa tinh luyện với đường cát rồi đóng gói đem tiêu thụ tại các chợ ở TP.HCM và Long An…</p>
<p align="justify">Ban đầu, Công an quận 11 khởi tố Hùng và Dũng về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh. Tuy nhiên, sau khi xem xét, VKS quận này đã yêu cầu cơ quan điều tra thay đổi tội danh, chuyển thành tội sản xuất, buôn bán hàng giả vì theo quyết định của Bộ Y tế thì bột ngọt không phải thực phẩm. Cơ quan điều tra đã thống nhất với ý kiến của VKS và vụ án hiện đang trong quá trình điều tra.</p>
<p align="justify"><strong>Tội nào mới đúng?</strong></p>
<p align="justify">Luật sư Huỳnh Văn Nông (Đoàn Luật sư TP.HCM) khẳng định theo Quyết định số 3742 ngày 31-8-2001 của Bộ Y tế (về việc ban hành Quy định Danh mục các chất phụ gia được phép sử dụng trong thực phẩm) thì bột ngọt không phải là lương thực, thực phẩm hay thuốc chữa bệnh, phòng bệnh.</p>
<p align="justify">Cụ thể, quyết định này quy định bột ngọt là chất phụ gia thực phẩm, là chất điều vị có tên khoa học là Monosodium Glutamate. Quyết định cũng quy định rõ phụ gia thực phẩm (food additive) là những chất không được coi là thực phẩm hoặc một thành phần của thực phẩm. Như vậy, theo luật sư Nông, hành vi làm giả bột ngọt không thể bị xử lý về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh.</p>
<p align="justify">Đồng tình, luật sư Huỳnh Phước Hiệp (Đoàn Luật sư TP.HCM) bổ sung thêm: Luật An toàn thực phẩm quy định thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm. Ngoài ra, luật còn phân biệt thực phẩm với phụ gia thực phẩm là chất được chủ định đưa vào thực phẩm trong quá trình sản xuất, có hoặc không có giá trị dinh dưỡng nhằm giữ hoặc cải thiện đặc tính của thực phẩm. Như vậy, bột ngọt là phụ gia thực phẩm chứ không phải thực phẩm.</p>
<p align="justify">Vậy nếu việc làm giả bột ngọt không phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh thì phạm tội gì? Theo luật sư Trần Ngọc Quý (Đoàn Luật sư TP.HCM), phải xử lý hành vi này về tội sản xuất, buôn bán hàng giả mới chính xác nếu thỏa mãn cấu thành tội phạm của tội này.</p>
<div align="center">
<table cellspacing="5" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td>
<p align="justify"><strong>Không cẩn trọng sẽ làm oan!</strong></p>
<p align="justify">Với hành vi sản xuất bột ngọt giả, người vi phạm có thể bị xử lý về tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156 BLHS). Khoản 1 điều luật quy định người nào sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ 30 triệu đồng đến dưới 150 triệu đồng hoặc dưới 30 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại điều này hoặc tại một trong các điều 153, 154, 155, 157, 158, 159, 161 BLHS hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm&#8230;</p>
<p align="justify">Trở lại vụ án ở TAND quận Bình Tân, tổng giá trị hàng giả mà ba bị cáo sản xuất chỉ là 28 triệu đồng (27 triệu đồng bột ngọt giả + 1 triệu đồng bột giặt giả). Cáo trạng của VKS cũng không nêu hành vi làm hàng giả của họ gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (gây tỉ lệ thương tật 31% trở lên) hay làm chết người, tức không gây hậu quả nghiêm trọng. Mặt khác, họ cũng chưa từng bị xử phạt hành chính hay bị kết án về hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả hay các hành vi quy định tại các điều 153, 154, 155, 157, 158, 159, 161 BLHS. Như vậy, hành vi làm giả bột ngọt của họ chưa thỏa mãn cấu thành tội sản xuất, buôn bán hàng giả.</p>
<p align="justify">Trong vụ án trên, đúng ra các bị cáo chỉ bị xử phạt hành chính theo quy định pháp luật (Nghị định 112 ngày 1-12-2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 06 ngày 16-1-2008 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại).</p>
<p align="right">Thẩm phán HOÀNG VĂN TRUNG,<br />
<em>Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM</em></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</div>
<p align="right">
<p align="right"><strong><em>P.Loan &#8211; N.Nga</em></strong></p>
<p align="right"><strong><em>Theo: Tạp chí Pháp luật TP.HCM online</em></strong></p>
</div>
</div>
<br />Filed under: <a href='http://luathinhsu.wordpress.com/category/cau-chuy%e1%bb%87n-phap-lu%e1%ba%adt/'>Câu Chuyện Pháp Luật</a>, <a href='http://luathinhsu.wordpress.com/category/lu%e1%ba%adt-hinh-s%e1%bb%b1/'>Luật Hình Sự</a>  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/luathinhsu.wordpress.com/3639/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/luathinhsu.wordpress.com/3639/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/luathinhsu.wordpress.com/3639/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/luathinhsu.wordpress.com/3639/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/luathinhsu.wordpress.com/3639/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/luathinhsu.wordpress.com/3639/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/luathinhsu.wordpress.com/3639/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/luathinhsu.wordpress.com/3639/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/luathinhsu.wordpress.com/3639/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/luathinhsu.wordpress.com/3639/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/luathinhsu.wordpress.com/3639/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/luathinhsu.wordpress.com/3639/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/luathinhsu.wordpress.com/3639/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/luathinhsu.wordpress.com/3639/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&amp;blog=9224016&amp;post=3639&amp;subd=luathinhsu&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/12/lam-gia-bot-ngot-toi-gi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/ced4978d5e994e9a06bccb29b1a4230e?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">luathinhsu</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Những vướng mắc khi áp dụng Điều 105 BLTTHS vào thực tiễn</title>
		<link>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/11/nhung-vuong-mac-khi-ap-dung-dieu-105-bltths-vao-thuc-tien/</link>
		<comments>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/11/nhung-vuong-mac-khi-ap-dung-dieu-105-bltths-vao-thuc-tien/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 11 Jan 2012 16:50:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Luật Hình Sự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Luật Tố Tụng Hình Sự]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://luathinhsu.wordpress.com/?p=3637</guid>
		<description><![CDATA[&#160; Trước tiên chúng tôi hoàn toàn đồng tình với tác giả về quy định tại Điều 105 BLTTHS năm 2003 còn có nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau trong thực tiễn do chưa có các văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể chi tiết. Tuy nhiên, đối với trường hợp cụ thể [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&amp;blog=9224016&amp;post=3637&amp;subd=luathinhsu&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;">Trước tiên chúng tôi hoàn toàn đồng tình với tác giả về quy định tại Điều 105 BLTTHS năm 2003<strong> </strong>còn có nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau trong thực tiễn do chưa có các văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể chi tiết.</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;">Tuy nhiên, đối với trường hợp cụ thể ở ví dụ 2 mà tác giải đã nêu ra, chúng tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm thứ hai, bởi lẽ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất <span style="text-decoration:underline;">(sau đây gọi chung là người bị hại</span>) chỉ có quyền yêu cầu khởi tố vụ án trong một số tội phạm cụ thể đã được liệt kê và tội phạm đó cũng phải bị truy cứu TNHS ở khoản 1 (khoản có khung hình phạt nhẹ nhất) của điều luật chứ luật không quy định người bị hại có quyền yêu cầu khởi tố một bị can (bất kỳ nào đó) cụ thể:</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><em>“1. <span style="text-decoration:underline;">Những vụ án</span> về các tội phạm được quy định tại Khoản 1 các Điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của BLHS chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.” </em>(Khoản 1 Điều 105 BLTTHS).</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;">Còn quyền và cũng là trách nhiệm khởi tố bị can là của cơ quan điều tra (Khoản 1 Điều 126 BLTTHS: “<em>Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan Điểu tra ra quyết định khởi tố bị can</em>”). Mặt khác, tại Khoản 2 Điều 105 BLTTHS nhà làm luật cũng đã quy định:<em>“2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ…”.</em></p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;">Do đó, khi người bị hại xin rút yêu cầu (là yêu cầu khởi tố vụ án theo quy định tại Khoản 1 điều này) trước ngày mở phiên toà sơ thẩm thì vụ án <strong><span style="text-decoration:underline;">phải được đình chỉ</span></strong> (không phân biệt vụ án đó có một bị can hay nhiều bị can). Hiểu theo cách khác, trong một vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì khi người đã yêu cầu khởi tố đó rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa thì vụ án đó bị đình chỉ và đương nhiên tất cả các bị can đồng phạm trong vụ án đó cũng phải bị đình chỉ điều tra bị can, tức luật không cho phép người bị hại có sự lựa chọn chỉ xử lý TNHS với một (hay nhiều) bị can này mà không yêu cầu xử lý đối với một hay những bị can còn lại.</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><span id="more-3637"></span>Trong vụ án cụ thể mà tác giả nêu ra (ở ví dụ 2) thì yêu cầu của người bị hại xin không xử lý B chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại Khoản 2 Điều 46 BLHS (đã được hướng dẫn tại tiểu mục c mục 5 Nghị quyết số 01/2000 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của BLHS năm 1999). Nếu B có nhiều tình tiết giảm nhẹ khác, lập công lớn hoặc do chuyển biến của tình hình tội phạm mà hành vi của người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa… thì sẽ được các cơ quan tiến hành tố tụng trong từng giai đoạn cụ thể, tương ứng với thẩm quyền xem xét và quyết định việc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại các Điều 25, 54, 57 BLHS.</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;">Mặt khác chúng tôi cũng đồng tình với quan điểm thứ hai cho rằng, việc khởi tố bị can không phụ thuộc vào ý chí của người bị hại sẽ đảm bảo được tính công bằng, bình đẳng trước pháp luật, tránh được sự bất công giữa những người cùng thực hiện một tội phạm với một chủ thể nhất định.</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="text-decoration:underline;">Ví dụ:</span></strong> <em>A và B cùng gây thương tích cho C 11%. Sau đó, A có điều kiện kinh tế khá giả nên đã bồi thường một số tiền lớn cho C và đã mua chuộc được C “bỏ qua” cho mình. Trong khi đó, B vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên chưa có điều kiện để bồi thường hoặc bồi thường không đúng theo yêu cầu của C. Lúc này, C vì lóa mắt trước đồng tiền nên chỉ yêu cầu khởi tố B (có thể có mục đích là ép buộc B cũng phải bồi thường một khoản tiền thì sẽ rút đơn), trong khi đó lại không yêu cầu khởi tố A. Như vậy sẽ tạo ra sự bất bình đẳng trước pháp luật.</em></p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;">Như vậy, theo chúng tôi dựa trên các câu từ được dùng ở Khoản 1 Điều 105 BLTTHS và các quy định khác có liên quan trong pháp luật hình sự Việt Nam thì quyền của người bị hại đã được quy định rất rõ ràng là: có quyền quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ án (thông qua việc có hay không có yêu cầu khởi tố vụ án), còn quyền khởi tố hay không khởi tố bị can cụ thể là quyền và trách nhiệm của cơ quan điều tra dựa trên các quy định của pháp luật. Do đó, không cần thiết phải có thêm văn bản dưới luật hướng dẫn quy định này.</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><strong>* </strong>Tuy nhiên theo chúng tôi thì Điều 105 BLTTHS có một điểm chưa được hợp lý đó là quy định về thời hạn dành cho người bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án được quy định tại Khoản 2 điều luật:  <em> </em></p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><em>“2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.</em></p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><em>Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.</em></p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><em>Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”</em></p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;">Theo quy định của Điều luật này thì người bị hại có quyền và cũng chỉ có quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án kể từ thời điểm xảy ra vụ án cho đến trước ngày mở phiên toà sơ thẩm, khi đó thì vụ án mới được (hoặc phải) đình chỉ. Theo quan điểm của chúng tôi, việc nhà làm luật quy định như vậy là hạn chế quyền tự định đoạt, thỏa thuận giữa bị can (bị cáo) với người bị hại. Bởi lẽ: trong thực tế vì nhiều lý do khác nhau (bị cáo khó khăn, ăn năn hối cải, người bị hại thay đổi suy nghĩ của mình…) nên có nhiều trường hợp đến tận ngày mở phiên toà (nhưng trước thời điểm khai mạc phiên toà) hoặc khi phiên toà đang diễn ra thì người bị hại mới quyết định rút yêu cầu khởi tố vụ án. Khi đó, theo quy định tại Khoản 2 Điều 105 BLTTHS thì quyền rút yêu cầu của người bị hại đã không còn, do đó phiên tòa sơ thẩm vẫn phải mở hoặc tiếp tục xét xử. Như vậy là bất lợi cho bị cáo và cũng không thỏa mãn ý chí của người bị hại (không muốn xử lý hình sự bị cáo nữa).</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;">* Để điều luật được hiểu, áp dụng thống nhất và mang tính nhân văn cao, theo quan điểm của chúng tôi các cơ quan tố tụng liên ngành ở trung ương cần kiến nghị sửa đổi Điều 150 BLTTHS về thời hạn rút yêu cầu khởi tố của người bị hại theo hướng phân tích ở trên. Điều đó sẽ mở rộng hơn quyền của người có quyền yêu cầu khởi tố vụ án trong pháp luật hình sự và cũng là quyền lợi của người bị khởi tố trong vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Tuy nhiên, cũng phải giới hạn thời hạn chấm dứt quyền yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại để tránh tình trạng “tự do thái quá” sẽ làm “nhờn” pháp luật; gây mất thời gian, làm tốn công sức, tiền bạc của các cơ quan hay những người tiến hành tố tụng. Do đó, nhà làm luật nên quy định thời hạn thực hiện quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án của người có quyền yêu cầu khởi tố vụ án là <strong>“đến trước khi chủ toạ phiên toà đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử”</strong> theo quy định tại Điều 201 BLTTHS.</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;">Trên đây là quan điểm của chúng tôi, rất mong nhận được sự góp ý tranh luận của các đồng chí và bạn đọc.</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:right;"><strong><em>Đoàn Ngọc Thảo</em></strong></p>
<p style="text-align:right;"><strong><em>Theo: Cổng thông tin điện tử TANDTC (http: toaan.gov.vn)</em></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:xx-small;"><span style="line-height:14px;"><br />
</span></span></p>
<br />Filed under: <a href='http://luathinhsu.wordpress.com/category/lu%e1%ba%adt-t%e1%bb%91-t%e1%bb%a5ng-hinh-s%e1%bb%b1/'>Luật Tố Tụng Hình Sự</a>  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/luathinhsu.wordpress.com/3637/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/luathinhsu.wordpress.com/3637/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/luathinhsu.wordpress.com/3637/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/luathinhsu.wordpress.com/3637/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/luathinhsu.wordpress.com/3637/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/luathinhsu.wordpress.com/3637/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/luathinhsu.wordpress.com/3637/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/luathinhsu.wordpress.com/3637/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/luathinhsu.wordpress.com/3637/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/luathinhsu.wordpress.com/3637/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/luathinhsu.wordpress.com/3637/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/luathinhsu.wordpress.com/3637/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/luathinhsu.wordpress.com/3637/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/luathinhsu.wordpress.com/3637/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&amp;blog=9224016&amp;post=3637&amp;subd=luathinhsu&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/11/nhung-vuong-mac-khi-ap-dung-dieu-105-bltths-vao-thuc-tien/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/ced4978d5e994e9a06bccb29b1a4230e?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">luathinhsu</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Những vướng mắc trong thực hiện Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12  ngày 19/6/2009 của Quốc hội</title>
		<link>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/10/nhung-vuong-mac-trong-thuc-hien-nghi-quyet-so-33-2009-nq-qh-12-ngay-19-6-2009-cua-quoc-hoi/</link>
		<comments>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/10/nhung-vuong-mac-trong-thuc-hien-nghi-quyet-so-33-2009-nq-qh-12-ngay-19-6-2009-cua-quoc-hoi/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 10 Jan 2012 16:39:39 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Luật Hình Sự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Luật Hình Sự]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://luathinhsu.wordpress.com/?p=3634</guid>
		<description><![CDATA[Theo qui định tại điểm c.1 khoản c Điều 2 Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội quy định không xử lý đối với người trộm cắp tài sản có giá trị dưới 02 triệu đồng, trừ trường hợp có yếu tố định tội khác. Song, do Nghị quyết không quy định cách [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&amp;blog=9224016&amp;post=3634&amp;subd=luathinhsu&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;">Theo qui định tại điểm c.1 khoản c Điều 2 Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội quy định không xử lý đối với người trộm cắp tài sản có giá trị dưới 02 triệu đồng, trừ trường hợp có yếu tố định tội khác. Song, do Nghị quyết không quy định cách giải quyết cụ thể đối với những trường hợp bị cáo trộm cắp dưới 02 triệu đồng nhưng có nhiều tiền án, nên trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự còn gặp nhiều vướng mắc, nhiều quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn về định tội, định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị can có nhiều tiền án trộm cắp dưới 02 triệu đồng. Dưới đây là một số trường hợp để các đồng chí cùng trao đổi, tháo gỡ:</p>
<p style="text-align:justify;"><em><strong>Trường hợp 1</strong></em><strong>:</strong></p>
<p style="text-align:justify;">Năm 2005, Nguyễn Văn A trộm cắp 25 triệu đồng bị xử theo khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự (viết tắt BLHS), mức án 09 tháng tù giam.</p>
<p style="text-align:justify;">Năm 2006 A lại trộm cắp tài sản có giá trị 600.000đ, bị xét xử theo khoản 1, Điều 138 BLHS với tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo Điều 48 BLHS, mức án là 12 tháng tù giam.</p>
<p style="text-align:justify;">(Cả hai bản án trên A đều đã thi hành án xong cả phần hình sự lẫn dân sự).</p>
<p style="text-align:justify;">Năm 2007, A trộm cắp tài sản có giá trị 50.000đ, bị xét xử theo khoản 1, Điều 138 BLHS với tình tiết tăng nặng là “tái phạm” và phạt tiền 05 triệu đồng (thuộc trường hợp yếu tố định tội khác). Bản án này A chưa thi hành khoản tiền phạt 05 triệu đồng.</p>
<p style="text-align:justify;">Tháng 3/2011, A trộm cắp tài sản có giá trị trên 02 triệu đồng.</p>
<p style="text-align:justify;"><em><strong><span id="more-3634"></span>Trường hợp 2:</strong></em></p>
<p style="text-align:justify;"> Năm 1991, Nguyễn Văn B trộm cắp một số vật dụng gia đình (Cơ quan điều tra không định giá tài sản), bị xét xử theo khoản 1 Điều 155 BLHS (năm 1985), với mức án 06 tháng tù giam.</p>
<p style="text-align:justify;">Năm 1993, B trộm cắp số tiền 1.100.000đ bị xét xử theo khoản 1, Điều 155 BLHS với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là  “tái phạm”, mức án 18 tháng tù giam.</p>
<p style="text-align:justify;">Năm 1996, B trộm cắp một số vật dụng gia đình (không định giá tài sản) và bị xét xử với tình tiết định khung tăng nặng là “tái phạm nguy hiểm” theo điểm d, khoản 2, Điều 155 BLHS, mức án 04 năm tù.</p>
<p style="text-align:justify;">Năm 2000, B trộm cắp một số vật dụng gia đình (không định giá tài sản), bị xét xử theo điểm c, khoản 2, Điều 138 BLHS (tình tiết định khung tăng nặng là “tái phạm nguy hiểm”), mức án 05 năm tù.</p>
<p style="text-align:justify;">Năm 2004, B  cưỡng đoạt tài sản và bị xét xử theo điểm c, khoản 2, điều 135 BLHS (tình tiết định khung tăng nặng là “tái phạm nguy hiểm”, mức án 06 năm tù, mới chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/02/2010).</p>
<p style="text-align:justify;">Năm 2011, B trộm cắp tài sản có giá trị trên 02 triệu đồng.</p>
<p style="text-align:justify;">Cả hai trường hợp trên, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát khởi tố, truy tố theo khoản 1, Điều 138 BLHS và phạm tội lần này (năm 2011) thuộc trường hợp tái phạm vì bản án gần lần phạm tội này nhất chưa được xoá án tích, còn đối với các bản án trước đó của các bị can đều đã được xoá án tích theo Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội.</p>
<p style="text-align:justify;">        Tuy nhiên, Toà án lại cho rằng lần phạm tội này (năm 2011) của các bị can phải xét xử theo điểm c, khoản 2, Điều 138 BLHS (với tình tiết định khung tăng nặng là “tái phạm nguy hiểm” vì những bản án trước có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” và tình tiết định khung tăng nặng là ‘tái phạm nguy hiểm” đều chưa được xoá án tích theo Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội.</p>
<p style="text-align:justify;">Hiện tại, ở đơn vị có rất nhiều vụ án tương tự như trên và có nhiều quan điểm khác nhau trong nhận thức và áp dụng Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội. Rất mong các ý kiến trao đổi, đóng góp, tháo gỡ vướng mắc kịp thời của các đồng chí, đồng nghiệp để đơn vị có hướng giải quyết đúng đắn và đảm bảo thời hạn đối với những vụ án như trên.</p>
<p style="text-align:right;"><strong><em>Nguyễn Thùy Dương, VKSND thị xã Bắc Kạn</em></strong></p>
<p style="text-align:right;"><strong><em>Theo: Cổng thông tin điện tử TANDTC (http:toaan.gov.vn)</em></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:xx-small;"><span style="line-height:14px;"><br />
</span></span></p>
<br />Filed under: <a href='http://luathinhsu.wordpress.com/category/lu%e1%ba%adt-hinh-s%e1%bb%b1/'>Luật Hình Sự</a>  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/luathinhsu.wordpress.com/3634/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/luathinhsu.wordpress.com/3634/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/luathinhsu.wordpress.com/3634/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/luathinhsu.wordpress.com/3634/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/luathinhsu.wordpress.com/3634/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/luathinhsu.wordpress.com/3634/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/luathinhsu.wordpress.com/3634/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/luathinhsu.wordpress.com/3634/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/luathinhsu.wordpress.com/3634/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/luathinhsu.wordpress.com/3634/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/luathinhsu.wordpress.com/3634/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/luathinhsu.wordpress.com/3634/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/luathinhsu.wordpress.com/3634/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/luathinhsu.wordpress.com/3634/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&amp;blog=9224016&amp;post=3634&amp;subd=luathinhsu&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/10/nhung-vuong-mac-trong-thuc-hien-nghi-quyet-so-33-2009-nq-qh-12-ngay-19-6-2009-cua-quoc-hoi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/ced4978d5e994e9a06bccb29b1a4230e?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">luathinhsu</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>“Nguyên đơn dân sự có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS theo Khoản 2 Điều 46 BLHS hay không?”</title>
		<link>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/09/nguyen-don-dan-su-co-don-xin-giam-nhe-hinh-phat-cho-bi-cao-co-duoc-coi-la-tinh-tiet-giam-nhe-tnhs-theo-khoan-2-dieu-46-blhs-hay-khong/</link>
		<comments>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/09/nguyen-don-dan-su-co-don-xin-giam-nhe-hinh-phat-cho-bi-cao-co-duoc-coi-la-tinh-tiet-giam-nhe-tnhs-theo-khoan-2-dieu-46-blhs-hay-khong/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 09 Jan 2012 16:32:58 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Luật Hình Sự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Luật Hình Sự]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://luathinhsu.wordpress.com/?p=3631</guid>
		<description><![CDATA[&#160; * Khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 có quy định về các tình tiết giảm nhẹ: “2.Khi quyết định hình phạt, Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án”. Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của HĐTP TANDTC hướng dẫn [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&amp;blog=9224016&amp;post=3631&amp;subd=luathinhsu&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><strong>*</strong> Khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 có quy định về các tình tiết giảm nhẹ:</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><em>“2.Khi quyết định hình phạt, Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án”.</em></p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;">Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của BLHS năm 1999 cũng đã có hướng dẫn chi tiết quy định này tại tiểu mục c Mục 5. Theo đó, các tình tiết sau đây được coi là các tình tiết giảm nhẹ khác:</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><em>“- Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sỹ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước.</em></p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><em>- Bị cáo là thương binh hoặc có người thân thích như vợ, chồng, cha, mẹ, con (con đẻ hoặc con nuôi), anh, chị em ruột là liệt sỹ;</em></p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><em>- Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên;</em></p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><em>- Người bị hại cũng có lỗi;</em></p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><em>- Thiệt hại do lỗi của người thứ ba;</em></p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><em>- Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo;</em></p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><em><span id="more-3631"></span>- Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khỏe của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản;</em></p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><em>- Phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu.</em></p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><em>Ngoài ra, khi xét xử, tùy theo từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi rõ trong bản án”.</em></p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;">Như vậy, ngoài các tình tiết giảm nhẹ TNHS đã được liệt kê tại Khoản 1 Điều 46 BLHS và tiểu mục c Mục 5 Nghị quyết 01/2000 nói trên (được quy định là tình tiết giảm nhẹ ở Khoản 2 Điều 46 BLHS) thì pháp luật cũng đã có quy định “mở” là: khi xét xử, tùy theo từng trường hợp và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội thì <span style="text-decoration:underline;">còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ</span> nhưng phải ghi rõ trong bản án.</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;">Vận dụng quy định này, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, tùy theo từng trường hợp cụ thể mà nhiều Tòa cũng đã coi các tình tiết mà các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hình sự chưa liệt kê ra là tình tiết giảm nhẹ TNHS cho người phạm tội như: bị cáo là lao động chính trong gia đình; bị cáo có con nhỏ; hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo nộp lại tiền thu lợi bất chính cho Nhà nước (không phải tiền bồi thường, sửa chữa, khắc phục hậu quả); bị cáo là người dân tộc; bị cáo không biết chữ; bị cáo còn đi học hay bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt (hoặc xin hưởng án treo) của tập thể nhân dân địa phương hoặc tổ chức nơi cư trú, học tập hoặc nơi công tác…</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;">Tuy nhiên, do là quy định mang tính chất tùy nghi chứ không bắt buộc chung. Do đó, tùy theo từng địa phương, thậm chí là tùy theo từng vụ án mà từng Tòa hay từng HĐXX có thể áp dụng là tình tiết giảm nhẹ TNHS cho bị cáo này nhưng lại không áp dụng cho bị cáo khác.</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><strong>* </strong>Đối chiếu lại với hai trường hợp mà tác giả nêu ra, theo quan điểm của chúng tôi thì HĐXX có thể coi hoặc không coi việc “Nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” là một tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 46 BLHS cũng đều không sai với hướng dẫn tại tiểu mục c Mục 5 của Nghị quyết 01/2000.</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;">Mặt khác, chủ thể xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hoặc được xem xét để áp dụng là tình tiết giảm nhẹ TNHS cho bị cáo cũng không nhất thiết phải là người có quyền kháng cáo đến phần hình phạt đối với bị cáo, thậm chí họ còn không có tư cách tham gia tố tụng trong vụ án chứ chưa nói đến có quyền gì trong tố tụng như: cha, mẹ, anh, chị, em ruột… của bị cáo đã thành niên; nhân dân địa phương, cơ quan đơn vị nơi bị cáo công tác, học tập (trừ trường hợp bị cáo phạm tội vì lí do công vụ liên quan đến cơ quan, đơn vị…).</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;">Như vậy, nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hoàn tòan có cơ sở để xem xét, áp dụng là một tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại Khoản 2 Điều 46 BLHS.</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;"><strong>* </strong>Tuy nhiên, để pháp luật được áp dụng thống nhất theo chúng tôi các cơ quan tố tụng ở trung ương cũng cần tiến hành tổng kết những kinh nghiệm chung trong những năm qua, có văn bản liên ngành liệt kê cụ thể và đầy đủ hơn những tình tiết nào có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ TNHS theo Khoản 2 Điều 46 BLHS để tránh sự tùy tiện trong việc vận dụng trong thực tế.</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;">Trên đây là quan điểm của chúng tôi, rất mong nhận được sự góp ý tranh luận của các đồng chí và bạn đọc.</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:right;"><strong><em>Hoàng Thị Thu Hằng</em></strong></p>
<p style="text-align:right;"><strong><em>Theo: Cổng thông tin điện tử TANDTC (http://toaan.gov.vn)</em></strong></p>
<br />Filed under: <a href='http://luathinhsu.wordpress.com/category/lu%e1%ba%adt-hinh-s%e1%bb%b1/'>Luật Hình Sự</a>  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/luathinhsu.wordpress.com/3631/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/luathinhsu.wordpress.com/3631/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/luathinhsu.wordpress.com/3631/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/luathinhsu.wordpress.com/3631/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/luathinhsu.wordpress.com/3631/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/luathinhsu.wordpress.com/3631/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/luathinhsu.wordpress.com/3631/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/luathinhsu.wordpress.com/3631/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/luathinhsu.wordpress.com/3631/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/luathinhsu.wordpress.com/3631/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/luathinhsu.wordpress.com/3631/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/luathinhsu.wordpress.com/3631/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/luathinhsu.wordpress.com/3631/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/luathinhsu.wordpress.com/3631/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&amp;blog=9224016&amp;post=3631&amp;subd=luathinhsu&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/09/nguyen-don-dan-su-co-don-xin-giam-nhe-hinh-phat-cho-bi-cao-co-duoc-coi-la-tinh-tiet-giam-nhe-tnhs-theo-khoan-2-dieu-46-blhs-hay-khong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/ced4978d5e994e9a06bccb29b1a4230e?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">luathinhsu</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Thực trạng và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp</title>
		<link>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/06/thuc-trang-va-mot-so-kien-nghi-nham-nang-cao-chat-luong-tranh-tung-tai-phien-toa-hinh-su-theo-tinh-than-cai-cach-tu-phap/</link>
		<comments>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/06/thuc-trang-va-mot-so-kien-nghi-nham-nang-cao-chat-luong-tranh-tung-tai-phien-toa-hinh-su-theo-tinh-than-cai-cach-tu-phap/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 06 Jan 2012 15:10:34 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Luật Hình Sự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Luật Tố Tụng Hình Sự]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://luathinhsu.wordpress.com/?p=3629</guid>
		<description><![CDATA[Tranh tụng tại phiên tòa là một trong những nội dung có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự, là vấn đề có tính thời sự được xã hội quan tâm. Tranh tụng tại phiên tòa hình sự không chỉ là yêu cầu của việc bảo đảm tính dân chủ, [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&amp;blog=9224016&amp;post=3629&amp;subd=luathinhsu&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;">Tranh tụng tại phiên tòa là một trong những nội dung có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự, là vấn đề có tính thời sự được xã hội quan tâm. Tranh tụng tại phiên tòa hình sự không chỉ là yêu cầu của việc bảo đảm tính dân chủ, công bằng giữa những người tham gia tố tụng với Viện kiểm sát, mà kết qủa tranh tụng tại phiên tòa là căn cứ để Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự xác định sự thật vụ án. Thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS) và Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” (gọi tắt là Nghị quyết 08) trong đó xác định: <em>“Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác</em></p>
<p style="text-align:justify;"><em>Khi xét xử, các Tòa án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết qủa tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, người làm chứng, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn luật định. Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để Luật sư tham gia vào qúa trình tố tụng, tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa…”</em></p>
<p style="text-align:justify;">Thời gian gần đây nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng BLTTHS của cơ quan có thẩm quyền được ban hành và sửa đổi kịp thời cho phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08 nhằm đề cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật của HĐXX về các phán quyết của mình. Hầu hết các Thẩm phán có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, đội ngũ Thẩm phán và Thư ký Tòa án đều có trình độ cử nhân luật trở lên; đa số các Thẩm phán mới được bổ nhiệm đã được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ xét xử. Cơ sở vật chất, kinh phí đảm bảo cho hoạt động xét xử của các Tòa án ngày càng được Nhà nước quan tâm và tăng cường.</p>
<p style="text-align:justify;">Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, hoạt động xét xử của Tòa án theo quy định của BLTTHS và tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW cũng có những khó khăn nhất định, cụ thể là :</p>
<p style="text-align:justify;"><span id="more-3629"></span>Tranh tụng nói chung và tranh tụng tại phiên tòa hình sự nói riêng là một vấn đề mới mẻ đối với lĩnh vực tư pháp ở nước ta. Về mặt lý luận, đang còn có những quan điểm nhận thức rất khác nhau giữa các nhà khoa học cũng như cán bộ làm công tác thực tiễn về khái niệm tranh tụng; thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của tranh tụng tại phiên tòa; về phạm vi, phương pháp và nội dung tranh tụng mà các chủ thể cần thực hiện…</p>
<p style="text-align:justify;">Các nhà nghiên cứu lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới chứng minh rằng tư tưởng về tranh tụng bắt nguồn từ ý tưởng của nhà triết học cổ đại nổi tiếng người Hy Lạp Plato. Ông cho rằng “bằng cách nói chuyện (đối thoại) về một điều gì đó trong một thời gian dài, một vài dấu hiệu hoặc hiểu biết sẽ xuất hiện và cả hai bên sẽ cùng nhìn ra sự thật”<a title="" href="http://toaan.gov.vn/portal/pls/portal/#_ftn1"><sup>[1]</sup></a>. Ý tưởng này của Plato được các Luật gia Hy Lạp cổ đại phát triển và xây dựng thành là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS ở Nhà nước Hy Lạp cổ đại. Sau đó, nguyên tắc này được đưa vào áp dụng ở La Mã và các quốc gia cổ đại khác ở Châu Âu với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục”<sup>2</sup>. Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi tranh tụng là một trong các nguyên tắc cơ bản của tư pháp hình sự.</p>
<p style="text-align:justify;">Trước đây, với quan niệm cho rằng tranh tụng là nguyên tắc đặc trưng của TTHS tư sản nên vấn đề này không được khoa học pháp lý quan tâm nghiên cứu. Vì vậy, về mặt lý luận, tranh tụng không được thừa nhận và thuật ngữ “tranh tụng” cũng chưa bao giờ được dùng trong các văn bản pháp luật của nước ta. Những năm gần đây, tranh tụng được đề cập đến trong một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành. Trong qúa trình xây dựng BLTTHS sửa đổi, đặc biệt là sau khi có Nghị quyết số 08 thì vấn đề tranh tụng  được đưa ra tranh luận sôi nổi.</p>
<p style="text-align:justify;">Theo từ điển Tiếng việt, thì “tranh tụng” có nghĩa là “sự kiện cáo nhau”<sup>3</sup>. Theo nghĩa Hán Việt thì thuật ngữ “tranh tụng” được ghép từ hai từ “tranh luận” và “tố tụng” có nghĩa là “tranh luận trong tố tụng”. Đó là cuộc tranh luận giữa hai bên: “bên nguyên đơn và bên bên bị đơn có lập trường tương phản với nhau, yêu cầu Tòa án làm trọng tài phân xử”<a title="" href="http://toaan.gov.vn/portal/pls/portal/#_ftn2"><sup>4</sup></a></p>
<p style="text-align:justify;">Hiện nay, trên thực tế đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau giữa những người làm công tác thực tiễn và  nghiên cứu khoa học về tranh tụng trong TTHS. Sự khác nhau giữa các quan điểm này là ở chỗ xác định tranh tụng có phải là một nguyên tắc cơ bản của TTHS Việt Nam không? Tranh tụng tại phiên tòa có đồng nhất hay không đồng nhất với tranh luận tại phiên tòa? Phạm vi và nội dung tranh tụng như thế nào?&#8230;Có thể phân các quan điểm này thành hai nhóm chính sau đây:</p>
<p style="text-align:justify;">Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng về cơ bản, các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa trong BLTTHS 2003 là phù hợp và trong thực tiễn áp dụng không có gì vướng mắc lớn. Nghị quyết số 08 nhấn mạnh đến vấn đề tranh tụng chỉ là nhằm khắc phục tình trạng ở một số phiên tòa hiện nay, Kiểm sát viên qúa thụ động, ỷ lại vào Hội đồng xét xử (HĐXX) nên không tích cực tham gia xét hỏi cũng như tranh luận với người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.Về phía HĐXX lại qúa phụ thuộc vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án…nên không quan tâm xem xét các chứng cứ, các yêu cầu và quan điểm bào chữa mà Luật sư và bị cáo đưa ra tại phiên tòa. Vì vậy, vấn đề quan trọng là không phải là sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về thủ tục tại phiên tòa mà chỉ cần chủ tọa phiên tòa tăng thời gian để Luật sư và bị cáo được trình bày  các ý kiến của mình tại phiên tòa, không được ngắt lời hay hạn chế thời gian phát biểu của họ, bảo đảm sự tranh luận dân chủ giữa Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác là đủ. Về mặt thuật ngữ “tranh tụng” được hiểu là tranh luận trong TTHS. Nâng cao tính tranh tụng trong qúa trình xét xử có nghĩa là nâng cao hơn nữa hoạt động tranh luận tại phiên tòa. Vì vậy, không nên quy định trong BLTTHS tranh tụng là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS.</p>
<p style="text-align:justify;">Nhóm quan điểm thứ hai thì cho rằng: Tư pháp hình sự ở một số nước dù được tổ chức theo mô hình tố tụng nào đi nữa (tố tụng xét hỏi hay tố tụng tranh tụng), thì trong TTHS cũng đều tồn tại ba chức năng với ba nhóm chủ thể: bên buộc tội, bên bào chữa và Tòa án. Do đó, “tranh tụng là nguyên tắc quan trọng, nguyên tắc đặc trưng của hoạt động tư pháp và là đặc trưng nổi bật nhất của tư pháp hình sự”<sup>.</sup> Tùy thuộc vào sự thừa nhận và sự thể hiện nội dung của nguyên tắc này (theo hướng mở rộng hay thu hẹp) trong các giai đoạn tố tụng mà người ta phân biệt mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng xét hỏi…Còn tranh luận chỉ là một phần (một thủ tục) của phiên tòa hình sự, mà trong đó các bên buộc tội và bên bào chữa đánh giá kết qủa xét hỏi trên cơ sở phân tích và đánh giá pháp lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị HĐXX về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án…Tranh luận chỉ là sự thể hiện đậm nét nhất, tập trung nhất nội dung nguyên tắc tranh tụng…Vì vậy, khái niệm “tranh luận” có nội hàm hẹp hơn khái niệm “tranh tụng”</p>
<p style="text-align:justify;">Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai và cho rằng trong BLTTHS nước ta cần ghi nhận tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản của TTHS để phân định rõ chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử giữa các bên và Tòa án. Mặt khác, trong BLTTHS cũng cần quy định đầy đủ và cụ thể các điều kiện pháp lý cần thiết để đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên tham gia tố tụng. Việc ghi nhận nguyên tắc tranh tụng trong BLTTHS không đồng nhất với việc xây dựng hệ thống tố tụng ở nước ta theo mô hình tố tụng tranh tụng.</p>
<p style="text-align:justify;">Như vậy, trong khoa học luật TTHS, khái niệm “tranh tụng”có thể được sử dụng theo các nghĩa khác nhau như sau:</p>
<p style="text-align:justify;">-Tranh tụng là một nguyên tắc của TTHS;</p>
<p style="text-align:justify;">-Tranh tụng là một mô hình (kiểu, hệ) tố tụng của các nước theo hệ thống luật án lệ (Anh-Mỹ);</p>
<p style="text-align:justify;">Về mặt thực tiễn, đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Luật sư và các cán bộ tư pháp khác chưa được chuẩn bị đầy đủ về kỹ năng nghề nghiệp theo yêu cầu cải cách tư pháp; kinh nghiệm thực tiễn về tranh tụng còn hạn chế nên không tránh khỏi khó khăn, lúng túng trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật.</p>
<p style="text-align:justify;">Chính vì lý do đó mà trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ nêu lên khái quát thực trạng tranh tụng tại phiên tòa hình sự Việt Nam và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa hình sự hiện nay theo tinh thần cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 08 đã đề ra.</p>
<p style="text-align:justify;"><strong>  1. Thực trạng tranh tụng tại các phiên tòa hình sự ở Việt Nam</strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong>  1.1. Thực trạng tranh tụng của chủ thể thực hiện chức năng buộc tội tại phiên tòa</strong></p>
<p style="text-align:justify;"><em> <strong> Đối với hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên</strong></em></p>
<p style="text-align:justify;">  Để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, VKSNDTC đã chỉ đạo tăng cường cán bộ công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự; thực hiện thông khâu kiểm sát điều tra – kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, theo đó Kiểm sát viên làm nhiệm vụ kiểm sát điều tra, đồng thời tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm để nắm chắc hồ sơ, chủ động hơn trong việc xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa. Sau khi thực hiện cơ chế này, công tác thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhìn chung, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đều tích cực và chủ động hơn vào việc xét hỏi, tranh luận để cùng với HĐXX tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Thông qua công tác kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, VKS các cấp đã tập hợp các dạng vi phạm để kiến nghị yêu cầu Tòa án rút kinh nghiệm trong công tác xét xử và thông báo rút kinh nghiệm về công tác kiểm sát xét xử; lựa chọn những bản luận tội, đề cương tranh luận có chất lượng tại phiên tòa rút kinh nghiệm chung.</p>
<p style="text-align:justify;">  Hầu hết các Kiểm sát viên khi được phân công thực hành quyền công tố đã nắm chắc chứng cứ của vụ án, chuẩn bị đề cương xét hỏi, phát biểu luận tội, quan điểm đối đáp tại phiên tòa chặt chẽ, sắc bén, công khai dân chủ hơn. Nhìn chung những nội dung phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa được HĐXX chấp nhận và những người tham gia phiên tòa đồng tình.</p>
<p style="text-align:justify;">Chất lượng công tố tại phiên tòa được nâng lên rõ rệt, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã chủ động tham gia xét hỏi và thẩm tra tài liệu, chứng cứ để buộc tội và bảo vệ cáo trạng, tham gia tranh luận và đối đáp với Luật sư, với các thành phần tham gia tố tụng khác nhằm làm sáng tỏ nội dung vụ án. Vì vậy, đã góp phần nâng cao chất lượng xét xử, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng.</p>
<p style="text-align:justify;">Tuy nhiên, một số Kiểm sát viên chưa thường xuyên bám sát hoạt động điều tra để chủ động đề ra yêu cầu điều tra nhằm đẩy nhanh tiến độ giải quyết án; việc nắm diễn biến điều tra và xử lý chưa đầy đủ, chặt chẽ; chưa phát hiện sớm được những sai sót trong tố tụng điều tra và tố tụng xét xử; việc đưa ra chứng cứ, lập luận bảo vệ quan điểm truy tố ở một số vụ án chưa thật thuyết phục, xét hỏi còn trùng lặp với nội dung của HĐXX; luận tội và đối đáp trong tranh luận chưa chặt chẽ và còn lúng túng trước các tình huống phát sinh tại phiên tòa; đề xuất mức án chưa sát với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm.</p>
<p style="text-align:justify;"> Trong hoạt động thực tiễn, do trình độ, năng lực của một số Kiểm sát viên còn hạn chế; việc nghiên cứu hồ sơ, chứng cứ một số vụ án chưa kỹ, chưa toàn diện, còn có biểu hiện chủ quan, đơn giản trong nghiên cứu. Cá biệt có vụ án không nắm chắc, nghiên cứu không sâu, không bảo vệ được quan điểm của VKS; còn lúng túng khi xử lý các tình huống phát sinh hoặc những nội dung có sự thay đổi. Việc xét hỏi và tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa hiện nay vẫn là khâu yếu ở cấp sơ thẩm (nhất là ở cấp huyện). Tại các phiên tòa phúc thẩm cũng có không ít trường hợp chất lượng, hiệu quả xét hỏi và tranh luận của Kiểm sát viên chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là đối với các vụ án có tính chất phức tạp hoặc đông bị cáo.</p>
<p style="text-align:justify;">  Một số Kiểm sát viên còn thiếu kinh nghiệm nên khi dự kiến, chuẩn bị nội dung xét hỏi, tranh luận chưa sát, khi tranh luận thiếu sắc bén, tính thuyết phục không cao, có lúc còn bị động khi phát biểu quan điểm tại phiên tòa dẫn đến chất lượng thực hành quyền công tố tại phiên tòa bị hạn chế.</p>
<p style="text-align:justify;">  Hoạt động tiến hành xét hỏi tại phiên tòa của một số Kiểm sát viên còn hạn chế. Do ảnh hưởng bởi quan niệm không đúng cho rằng việc xét hỏi tại phiên tòa là trách nhiệm của HĐXX, còn Kiểm sát viên chỉ có nhiệm vụ bảo vệ cáo trạng và kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chỉ thể hiện vai trò của mình ở giai đoạn tranh luận. Do vậy, việc xét hỏi để xác định tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội chủ yếu vẫn do HĐXX (chủ yếu là Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa) tiến hành; việc xét hỏi để làm sáng tỏ các chứng cứ buộc tội, các tình tiết gỡ tội của Kiểm sát viên còn hạn chế.</p>
<p style="text-align:justify;">Một số Kiểm sát viên còn có tâm lý ngại tranh luận với Luật sư (nhất là trong các vụ án có nhiều Luật sư tham gia bào chữa cho các bị cáo), thái độ thiếu bình tĩnh, tự tin, xử lý tình huống phát sinh tại phiên tòa lúng túng hoặc né tránh các vấn đề, các tình tiết của vụ án cần tranh luận làm sáng tỏ tại phiên tòa. Tình trạng Kiểm sát viên không tập trung theo dõi quá trình xét hỏi tại phiên tòa, không ghi chép các quan điểm khác nhau về từng vấn đề cần tranh luận, đối đáp với người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nên không đối đáp hoặc đáp lại không hết (thậm chí né tránh) các vấn đề về vụ án mà quan điểm của họ khác với quan điểm của Kiểm sát viên buộc Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa phải yêu cầu Kiểm sát viên tranh luận bổ sung. Thái độ khi tranh luận của một số Kiểm sát viên còn nóng nảy, thiếu kiềm chế thể hiện sự phê phán, công kích nhau làm không khí phiên tòa thiếu nghiêm trang, căng thẳng, không phù hợp với văn hóa ứng xử tại phiên tòa.</p>
<p style="text-align:justify;"><strong><em>Đối với hoạt động tranh tụng của người bị hại và nguyên đơn dân sự</em></strong></p>
<p style="text-align:justify;">Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì hoạt động tranh tụng của người bị hại và nguyên đơn dân sự là đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường, trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (Điều 51, 52 và 217); trình bày ý kiến về luận tội của KSV và đưa ra đề nghị của mình, đáp lại ý kiến của người khác (Điều 218). Người bị hại có quyền trình bày lời buộc tội trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại (Điều 51 BLTTHS).</p>
<p style="text-align:justify;">Thực tiễn xét xử thấy rằng, vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì HĐXX thường không có sự phân biệt với những vụ án bình thường khác. KSV cũng bao biện làm hết tất cả việc buộc tội, còn người bị hại tham gia với vai trò rất thụ động. Theo Điều 105 BLTTHS, “…Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ…”. Tại sao quy định này không được áp dụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm? Bản chất người bị hại rút yêu cầu tại phiên tòa cũng giống như trước phiên tòa nhưng rút tại phiên tòa là khách quan hơn. Qua xét hỏi, tranh luận công khai, người bị hại có cơ hội thực hiện quyền của mình dân chủ và toàn diện hơn, lúc này họ không bị ép buộc, cưỡng bức hay vì một áp lực lực nào. Không thể tước đoạt mất quyền của người bị hại vì một lý do duy nhất là thời gian chứ không dựa trên cơ sở lý luận hay thực tiễn nào. Ở góc độ nhân đạo, sự thỏa thuận giữa người bị hại và bị cáo trong một số trường hợp là cần thiết. Chú ý rằng, nguyên tắc tranh tụng có một nội dung rất quan trọng là sự mặc cả thú tội giữa bên buộc tội và bào chữa. BLTTHS Việt Nam chưa quy định vấn đề này. Để cải cách tư pháp theo tinh thần tranh tụng thì đối với những vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, BLTTHS cần bổ sung theo hướng quy định thủ tục tố tụng riêng cho người bị hại tại phiên tòa và HĐXX phải đình chỉ vụ án khi người bị hại rút yêu cầu khởi tố trước khi nghị án tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là hoàn toàn phù hợp với lý luận và thực tiễn.</p>
<p style="text-align:justify;">Cũng như người bị hại, pháp luật quy định nguyên đơn dân sự được tham gia phát biểu tranh luận sau người bào chữa và bị cáo là không phù hợp với sự vận hành các chức năng cơ bản của TTHS và nguyên tắc tranh tụng. Chức năng buộc tội làm xuất hiện chức năng bào chữa. Nguyên đơn dân sự là chủ thể của chức năng buộc tội. Về nguyên tắc thì bên buộc tội phát biểu quan điểm tranh luận trước bên bào chữa và trên cơ sở đó, bên bào chữa mới biết được bên buộc tội đã buộc tội mình như thế nào rồi đưa ra lời bào chữa của mình mới phù hợp với quy luật khách quan. Mặc dù KSV đã phát biểu quan điểm luận tội nhưng người bị hại và nguyên đơn dân sự là chủ thể của chức năng buộc tội, cũng sẽ phát biểu quan điểm liên quan đến việc buộc tội, sau đó bên bào chhữa phát biểu lời bào chữa sẽ lôgic hơn. Sự thiết kế trình tự phát biểu khi tranh luận tại Điều 217 BLTTHS năm 2003 là không theo một cơ sở lý luận hay thực tiễn nào. Sẽ hợp lý hơn nếu trình tự phát biểu khi tranh luận trước tiên là KSV rồi đến người bị hại, nguyên đơn dân sự và sau đó là bên bào chữa phát biểu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.<strong> </strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong>1.2. Thực trạng tranh tụng của chủ thể thực hiện chức năng bào chữa (gỡ tội)</strong></p>
<p style="text-align:justify;">Theo chúng tôi, các chủ thể thực hiện chức năng bào chữa bao gồm: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; người bào chữa, bị đơn dân sự; người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của họ</p>
<p style="text-align:justify;">  Là một chủ thể của bên tranh tụng, theo BLTTHS năm 2003, người bào chữa bao gồm: Luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và bào chữa viên nhân dân (Điều 56). Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề theo Luật Luật sư năm 2006. Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể là bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, anh chị em ruột và người giám hộ theo quy định của pháp luật đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần. Bào chữa viên nhân dân là những người được các tổ chức, đoàn thể xã hội cử ra để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.</p>
<p style="text-align:justify;">Bị cáo là chủ thể của một bên tranh tụng (bên bào chữa), bị buộc tội trực tiếp, họ có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội (Điều 10 BLTTHS). Bị cáo tham gia phiên tòa để bào chữa cho sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình, đồng thời là nguồn chứng cứ quan trọng về vụ án. Chỉ có bị cáo – người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội mới hiểu đầy đủ, rõ ràng các tình tiết của vụ án nên hơn ai hết, chính họ mới thực hiện quyền bào chữa một cách khách quan và toàn diện nhất trước sự buộc tội. Do đó, sự tham gia của bị cáo tại phiên tòa là bắt buộc, đây vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của họ.</p>
<p style="text-align:justify;">Người bào chữa tham gia phiên tòa là chủ thể của một bên tranh tụng – bên bị buộc tội để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo – người bị buộc tội. Người bào chữa tham gia phiên tòa theo hai hình thức, do bị cáo hay gia đình của bị cáo mời hoặc theo yêu cầu của Tòa án trong trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa</p>
<p style="text-align:justify;">Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị cáo không phạm tội; làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chủ yếu đề cập đến vai trò của Luật sư trong việc thực hiện chức năng bào chữa.</p>
<p style="text-align:justify;">  Trong những năm qua, đặc biệt là kể từ khi Đảng và Nhà nước phát động công cuộc cải cách tư pháp, vị trí vai trò của người bào chữa ngày càng được khẳng định. Có được điều này là đội ngũ những người làm công tác bào chữa mà chủ yếu là Luật sư đã từng bước trưởng thành về chất và lượng. Theo thống kê, hiện nay trong cả nước đã thành lập 61 Đoàn Luật sư trên tổng số 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với khoảng trên 7.000 Luật sư và 2.000 người tập sự hành nghề Luật sư hoạt động trong gần 1.500 tổ chức hành nghề Luật sư. Tỷ lệ số vụ án do công dân mời đang có chiều hướng tăng. Về cơ bản, sự tham gia tố tụng hình sự của Luật sư đã khắc phục được tính hình thức. Hoạt động tố tụng của Luật sư trong nhiều vụ án không những đảm bảo tốt hơn quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, mà còn giúp cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa những thiếu sót, làm rõ sự thật khách quan, góp phần đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ pháp chế XHCN</p>
<p style="text-align:justify;">Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy rằng, chất lượng bào chữa tại phiên tòa nhìn chung chưa cao, rất ít Luật sư đưa ra những tài liệu, chứng cứ có tính thuyết phục để bảo vệ có hiệu quả cho thân chủ của mình. Hầu hết các Luật sư mới chỉ dựa vào hồ sơ vụ án và tìm ra trong đó những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Còn không ít trường hợp Luật sư không nhất quán trong quan điểm bào chữa, viện dẫn những điều luật đã lạc hậu, những văn bản đã bị bãi bỏ hoặc bổ sung, sửa đổi. Có trường hợp Luật sư tranh luận gay gắt, tạo ra không khí căng thẳng, thiếu văn hóa pháp lý nơi công đường. Luật sư thường tập trung vào việc phê phán các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thu thập các tài liệu, chứng cứ như: chỉ ra những mâu thuẫn không đáng kể trong hồ sơ, những vi phạm thủ tục nhỏ. Đối với các vụ án kinh tế  hoặc có yếu tố chiếm đoạt, Luật sư thường viện dẫn các quy định của pháp luật về dân sự, kinh tế để “lái” vụ án theo hướng vi phạm về dân sự, là quan hệ vay nợ và cho rằng các cơ quan pháp luật đã hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế. Một số Luật sư khi thấy bị cáo rõ ràng là có tội, tất yếu không tránh khỏi hình phạt nhưng để tìm cách gỡ tội cho bị cáo, họ đã “đạo diễn” hoặc tạo cớ cho rằng bị cáo có dấu hiệu của một người không bình thường rồi đề nghị trưng cầu giám định tâm thần nhằm trì hoãn xét xử đã dẫn đến việc giải quyết vụ án bị kéo dài.</p>
<p style="text-align:justify;">Phần lớn Luật sư bào chữa cho bị cáo chưa được tham gia từ giai đoạn khởi tố điều tra vụ án, thường họ chỉ được tham gia từ giai đoạn xét xử nên có nhiều trường hợp không bảo vệ được kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và đương sự trong giai đoạn điều tra vụ án. Do vậy, việc bào chữa hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị cáo và đương sự tại phiên tòa có nhiều khó khăn. Không ít trường hợp Luật sư do Tòa án chỉ định theo quy định của pháp luật họ thường thực hiện vai trò bào chữa chỉ là nghĩa vụ mà chưa phát huy hết khả năng và trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được bào chữa.</p>
<p style="text-align:justify;">Một số Luật sư chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của người bào chữa theo quy định của BLTTHS, chỉ tập trung vào chứng cứ chứng minh theo hướng nhẹ tội cho bị cáo, thậm chí theo hướng bị cáo không có tội, nên việc đưa ra các chứng cứ, lập luận không khách quan, không có căn cứ pháp luật, cách đặt câu hỏi thường mớm cho bị cáo khai.</p>
<p style="text-align:justify;">Sự phối hợp giữa công tác quản lý Nhà nước về Luật sư và công tác quản lý các Đoàn Luật sư chưa thực sự có hiệu quả. Tuy nhiên, việc phát hiện, xử lý còn hạn chế, ảnh hưởng tới uy tín chung của giới Luật sư và sự tôn nghiêm của pháp luật.</p>
<p style="text-align:justify;"> <strong>2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp</strong></p>
<p style="text-align:justify;">Thứ nhất : cần phải quy định trong BLTTHS tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử : Hiện nay đã có nhiều quy định về tranh tụng nằm rải rác ở một số điều trong BLTTHS, như các điều 5,11,19,50,51,52,53,54,58… nhưng chưa được ghi nhận với tính chất như một nguyên tắc cơ bản, độc lập của TTHS Việt Nam. Do đó, để nâng cao chất lượng tranh tụng dân chủ tại phiên tòa hình sự, một yêu cầu trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới ở nước ta như các Nghị quyết 08-NQ/TW, số 48-NQ/TW và số 49-NQ/TW đã nêu và làm cơ sở cho việc xây dựng các quy định cụ thể vấn đề tranh tụng tại phiên tòa, cần phải đưa vấn đề tranh tụng lên thành một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xét xử.</p>
<p style="text-align:justify;">Thứ hai, cần sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS về vấn đề tranh tụng, cụ thể :</p>
<p style="text-align:justify;">Điều 10 của BLTTHS quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có Tòa án, trách nhiệm chứng minh bị cáo có tội hay không có tội tại phiên tòa đó là của HĐXX. Do vậy, hiện nay tại phiên tòa, HĐXX cũng tiến hành một số hoạt động tố tụng để chứng minh tội phạm. Ví dụ: HĐXX sẽ nhắc hoặc công bố lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra nếu lời khai của họ tại phiên tòa có mâu thuẫn với lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không khai, vắng mặt hoặc đã chết ( Điều 208 ). Như vậy, phải chăng Tòa án cũng là một cơ quan có chức năng buộc tội ? Do việc quy định không rõ ràng về trách nhiệm chứng minh tội phạm của các chủ thể tại phiên tòa nên có quan điểm cho rằng TTHS Việt Nam thuộc hệ tố tụng xét hỏi, các giai đoạn từ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đều là các tầng nấc liên tiếp khác nhau của quá trình buộc tội. Để Tòa án đúng là “cơ quan xét xử, cầm cân nảy mực” và đảm bảo cho việc tranh tụng tại phiên tòa diễn ra dân chủ, bình đẳng, khách quan thì cần phải xác định rõ vai trò của HĐXX tại phiên  tòa là người trọng tài giữa bên buộc tội và bên bào chữa để phán quyết về vụ án.</p>
<p style="text-align:justify;">Mặt khác, do BLTTHS chưa quy định tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của TTHS nên các quy định của Bộ luật chưa cụ thể hóa đầy đủ tính chất tranh tụng tại phiên tòa. Một số quy định của Bộ LTTHS đặt gánh nặng trách nhiệm chứng minh tội phạm lên vai HĐXX (ví dụ Điều 207 quy định : “khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa …”). Vì vậy, chính các chủ thể tham gia tranh tụng (Kiểm sát viên, Luật sư …) cũng chưa ý thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình trong tranh tụng. Việc xét hỏi tại phiên tòa là một giai đoạn của quá trình tranh tụng tại phiên tòa, cho nên cần phải để các bên tranh tụng thực hiện trách nhiệm chứng minh (VKS, người bào chữa…) tiến hành xét hỏi là chủ yếu, còn HĐXX thực hiện việc giám sát, duy trì trình tự xét hỏi và có quyền tham gia vào quá trình xét hỏi ở bất kỳ thời điểm nào khi thấy cần thiết phải làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án chưa được các bên làm rõ trong quá trình xét hỏi. BLTTHS cần xác định rõ tại phiên tòa vai trò của HĐXX chỉ là người “trọng tài” giữa bên buộc tội và bào chữa để ra phán quyết về vụ án, còn việc xét hỏi theo hướng buộc tội là trách nhiệm của Kiểm sát viên, việc xét hỏi gỡ tội hoặc giảm nhẹ TNHS cho bị cáo là trách nhiệm của người bào chữa. Vì vậy, đề nghị sửa đổi các quy định về xét hỏi theo hướng : khi xét hỏi, Kiểm sát viên hỏi trước, sau đó đến người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, các thành viên HĐXX có thể hỏi bất kỳ ở thời điểm nào nếu xét thấy cần thiết nhằm làm sáng tỏ các tình tiết về vụ án hoặc mang tính chất nêu vấn đề để các bên tập trung xét hỏi làm rõ, còn việc hỏi để buộc tội và gỡ tội dành cho Kiểm sát viên và người bào chữa.</p>
<p style="text-align:justify;">Thực tiễn cho thấy trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, nhiều khi những câu hỏi, đáp của các bên tranh tụng không đi thẳng vào vấn đề, không giải quyết thỏa đáng những mâu thuẫn, khúc mắc còn tồn tại nên cần có những quy định cụ thể và chi tiết hơn nữa về quyền và nghĩa vụ của Kiểm sát viên và người bào chữa trong quá trình tranh tụng, thúc đẩy sự chủ động tranh tụng của Kiểm sát viên và Luật sư. Để tạo ra một cơ chế  thực sự dân chủ và bình đẳng tại phiên tòa, tạo điều kiện để thực hiện một cách có hiệu quả nhất quyền buộc tội và gỡ tội, những quy định này phải được quy định trong văn bản tố tụng có giá trị pháp lý cao nhất là BLTTHS.</p>
<p style="text-align:justify;">BLTTHS không quy định bắt buộc tất cả các vụ án hình sự đều phải có sự tham gia của người bào chữa nên trong thực tiễn phần lớn các vụ án hình sự không có người bào chữa tham gia. Các điều 49, 50 của Bộ luật không quy định quyền thu thập chứng cứ của bị can, bị cáo trong trường hợp họ không có người bào chữa. Để bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình và đảm bảo việc chứng minh của các cơ quan tiến hành tố tụng được khách quan, toàn diện, cần bổ sung quyền thu thập chứng cứ của bị can, bị cáo trong trường hợp họ không thể thu thập được thì có thể yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ. Cũng cần bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của bị can, bị cáo, nếu chứng cứ đó có lợi cho họ trong việc bào chữa.</p>
<p style="text-align:justify;">Ngoài ra, trong thực tiễn xét xử những trường hợp bị cáo có những lý lẽ (có thể là chưa phù hợp với thực tế khách quan) nhằm bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, thì thường bị coi là có thái độ không thành khẩn nhận tội và nhiều trường hợp đã được nhận định trong bản án để đánh giá nhân thân của bị cáo…Để thực sự đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giữa Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa trong BLTTHS cần quy định: “Bị cáo có quyền sử dụng những biện pháp và cách thức mà pháp luật không cấm để bào chữa trước tòa, không bị coi là những tình tiết đánh giá về nhân thân cũng như về ý thức của họ.</p>
<p style="text-align:justify;">Chức năng của Tòa án trong TTHS là xét xử, có ý nghĩa là vai trò Tòa án là người trọng tài đứng giữa bên buộc tội và bên bào chữa để giải quyết vụ án. Bởi vậy, Tòa án chỉ có thể thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý thuộc về chức năng xét xử. Khởi tố vụ án hình sự tuy chưa phải là buộc tội đối với một người cụ thể nhưng đó là nhiệm vụ thuộc về chức năng buộc tội. Điều 13, Điều 104 của BLTTHS quy định Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự là chưa phù hợp. Nếu nhằm mục đích không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm thì chỉ nên quy định Tòa án được quyền yêu cầu VKS khởi tố vụ án nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới là đủ.</p>
<p style="text-align:justify;">Để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động tranh tụng tại các phiên tòa hình sự, theo chúng tôi cần tiến hành đồng bộ các giải pháp khác nhau, đó là: các giải pháp pháp lý; các giải pháp về tổ chức; các giải pháp về con người, các giải pháp vật chất – kỹ thuật và có chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ thỏa đáng phù hợp với hoạt động đặc thù của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán…Các giải pháp này liên quan chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, giải pháp này là tiền đề và điều kiện để tiến hành các giải pháp kia và ngược lại.</p>
<p style="text-align:justify;">Các giải pháp về hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS hiện hành liên quan đến hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự có ý nghĩa quan trọng, góp phần thiết thực vào quá trình tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật; giải quyết các vấn đề vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự và cải cách hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng các cấp; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự ở nước ta.</p>
<blockquote>
<p style="text-align:justify;"><strong>Chú thích:</strong></p>
<p style="text-align:justify;">1. Khoa Luật Trường Đại học Cannor Mỹ (2001), cải cách Tòa án, Thông tin khoa học xét xử số 1/2003, tr.10.</p>
<p style="text-align:justify;">2. Elisabeth Pelsez, Tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi, Thông tin khoa học xét xử số 1/2003, tr.3.</p>
<p style="text-align:justify;">3. Từ điển Tiếng việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1991, tr.1238.</p>
<p style="text-align:justify;">4. Nguyễn Thúc Linh, Từ điển Luật học diễn giải, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn 1972.</p>
</blockquote>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:right;"><strong><em>ThS. Trần Duy Bình</em></strong></p>
<p style="text-align:right;"><strong><em>Theo: Cổng thông tin điện tử TANDTC (http: toaan.gov.vn)</em></strong></p>
<br />Filed under: <a href='http://luathinhsu.wordpress.com/category/lu%e1%ba%adt-t%e1%bb%91-t%e1%bb%a5ng-hinh-s%e1%bb%b1/'>Luật Tố Tụng Hình Sự</a>  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/luathinhsu.wordpress.com/3629/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/luathinhsu.wordpress.com/3629/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/luathinhsu.wordpress.com/3629/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/luathinhsu.wordpress.com/3629/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/luathinhsu.wordpress.com/3629/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/luathinhsu.wordpress.com/3629/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/luathinhsu.wordpress.com/3629/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/luathinhsu.wordpress.com/3629/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/luathinhsu.wordpress.com/3629/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/luathinhsu.wordpress.com/3629/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/luathinhsu.wordpress.com/3629/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/luathinhsu.wordpress.com/3629/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/luathinhsu.wordpress.com/3629/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/luathinhsu.wordpress.com/3629/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&amp;blog=9224016&amp;post=3629&amp;subd=luathinhsu&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/06/thuc-trang-va-mot-so-kien-nghi-nham-nang-cao-chat-luong-tranh-tung-tai-phien-toa-hinh-su-theo-tinh-than-cai-cach-tu-phap/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/ced4978d5e994e9a06bccb29b1a4230e?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">luathinhsu</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Nguyên tắc việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội Thẩm nhân dân tham gia, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán: Thực tiễn và những bất cập</title>
		<link>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/05/nguyen-tac-viec-xet-xu-cua-toa-an-nhan-dan-co-hoi-tham-nhan-dan-tham-gia-hoi-tham-ngang-quyen-voi-tham-phan-thuc-tien-va-nhung-bat-cap/</link>
		<comments>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/05/nguyen-tac-viec-xet-xu-cua-toa-an-nhan-dan-co-hoi-tham-nhan-dan-tham-gia-hoi-tham-ngang-quyen-voi-tham-phan-thuc-tien-va-nhung-bat-cap/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 05 Jan 2012 14:59:07 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Luật Hình Sự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Luật Tố Tụng Hình Sự]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://luathinhsu.wordpress.com/?p=3627</guid>
		<description><![CDATA[Một trong những đặc trưng của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Bản thân chế định Hội thẩm là sự thể hiện tư tưởng &#8221; lấy dân làm gốc&#8221;, bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&amp;blog=9224016&amp;post=3627&amp;subd=luathinhsu&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;" align="center">Một trong những đặc trưng của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Bản thân chế định Hội thẩm là sự thể hiện tư tưởng &#8221; lấy dân làm gốc&#8221;, bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án. Tòa án là cơ quan quyền lực của Nhà nước, Nhà nước thông qua Tòa án để thực hiện quyền lực tư pháp của mình. Chính bằng hoạt động xét xử, Tòa án giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của nhân dân. Hội thẩm bằng sự tham gia của mình vào Hội đồng xét xử mà thực hiện quyền lực tư pháp và thông qua đó để nhân dân tham gia một cách có hiệu quả vào công tác quản lý Nhà nước nói chung, hoạt động của Tòa án nói riêng. Tại Điều 129 Hiến pháp 1992 quy định: &#8221; Việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Tòa án Quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật. Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán&#8221;. Như vậy, nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán là một nguyên tắc Hiến định, nhưng tham gia cụ thể như thế nào lại do Luật tố tụng Hình sự, Dân sự… quy định. Vì là một nguyên tắc Hiến định nên nếu việc xét xử của Tòa án nhân dân mà không có Hội thẩm nhân dân  tham gia thì sẽ không chỉ là vi phạm Luật tố tụng mà còn là vi phạm Hiến pháp. Nguyên tắc này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong xét xử, bởi việc tham gia của Hội thẩm giúp cho Tòa án xét xử không chỉ đúng Pháp luật mà còn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Hội thẩm có đời sống chung trong cộng đồng, trong tập thể lao động, nên Hội thẩm hiểu sâu hơn tâm tư nguyện vọng của quần chúng, nắm bắt được dư luận quần chúng nhân dân. Khi được cử hoặc bầu làm Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm không tách khỏi hoạt động lao động sản xuất của cơ quan, đơn vị, cơ sở của mình. Với vốn hiểu biết thực tế, kinh nghiệm trong cuộc sống, với sự am hiểu về phong tục tập quán ở địa phương, Hội thẩm sẽ bổ sung cho Thẩm phán những kiến thức xã hội cần thiết trong quá trình xét xử để có được một phán quyết đúng pháp luật, được xã hội đồng tình ủng hộ. Tại Hội nghị học tập của ngành cán bộ Tư pháp năm 1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: &#8220;Trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch. Như thế cũng chưa đủ. Không chỉ giới hạn hoạt động của mình trong khung Tòa án mà phải gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân…&#8221;. Muốn đưa ra phán quyết đúng, giải quyết các tranh chấp đúng pháp luật, hợp với lẽ công bằng, xử phạt đúng người, đúng tội, hiển nhiên đòi hỏi những người làm công tác xét xử phải có đạo đức trong sáng, có bản lĩnh, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ vững vàng. Ngoài ra, để Hội đồng xét xủ có phán quyết đúng đắn, <span id="more-3627"></span>đòi hỏi họ cũng phải có kiến thức và vốn hiểu biết cuộc sống, có kinh nghiệm hoạt động xã hội. Vì thế pháp luật quy định khi xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia là sự bổ sung cần thiết cho những lĩnh vực đó. Hơn nữa, Hội thẩm là đại diện của các giới, các ngành, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, hội thẩm có thể phản ánh một cách khách quan cách nhìn nhận về sự kiện, vụ việc từ suy nghĩ, tâm tư của quần chúng nhân dân, chứ không phải từ góc độ của một luật gia thuần túy.</p>
<p style="text-align:justify;">Thực tế cho thấy những người được bầu làm Hội thẩm là những người có uy tín trong xã hội, được quần chúng tín nhiệm và có ảnh hưởng nhất định trong xã hội, họ thường là những người có lối sống gương mẫu, có phẩm chất tốt, là tấm gương trong lao động, công tác, nhân dân tin cậy vào sự công minh và vô tư của họ. Qua sự tham gia xét xử của Hội thẩm, uy tín của cơ quan xét xử ngày càng được nâng cao và được nhân dân tin cậy ủng hộ, đồng thời Hội thẩm còn đóng vai trò to lớn trong công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật. Bằng vai trò cá nhân, Hội thẩm đóng góp nhất định trong việc giữ gìn &#8221; tình làng nghĩa xóm&#8221; ổn định xã hội, phòng chống tội phạm.</p>
<p style="text-align:justify;">Pháp luật không chỉ quy định khi xét xử Hội đồng xét xử phải có Hội thẩm nhân dân tham gia mà còn quy định khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán, tức là Hội thẩm nhân dân cùng Thẩm phán quyết định giải quyết mọi vấn đề của vụ án không kể về nội dung hay thủ tục tố tụng. Mặc dù Hội thẩm không phải là cán bộ trong biên chế Tòa án mà là người của cơ quan, tổ chức được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bầu hoặc cử làm đại diện cho nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án, nhưng khi tham gia xét xử Hội thẩm lại ngang quyền với Thẩm phán, từ việc đọc hồ sơ vụ án, nghiên cứu chứng cứ, cho đến việc ra quyết định giải quyết vụ án. Đây là điều quan trọng để Hội thẩm nhân dân thực sự pháp huy được vai trò là đại diện cho quần chúng nhân dân của mình.</p>
<p style="text-align:justify;">Tuy Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán, nhưng Hội thẩm chỉ chính thức bắt đầu tham gia tố tụng và trở thành thành viên của Hội đồng xét xử khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Là một trong những người tiến hành tố tụng Hội thẩm nhân dân có một vị trí pháp lý khá quan trọng, số lượng Hội thẩm nhân dân chiếm 2/3 trong thành phần Hội đông xét xử sơ thẩm; đối với những vụ án phức tạp, tính chất nghiêm trọng, số lượng Hội thẩm nhân dân có thể lên đến 3 người trong tổng số 5 thành viên của Hội đồng xét xử. Như vậy, trong thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm, số lượng Hội thẩm nhân dân bao giờ cũng chiếm tỷ lệ cao hơn so với Thẩm phán. Đây là một lợi thế để các Hội thẩm nhân dân thể hiện &#8220;ngang quyền&#8221; trên tinh thần dân chủ.Tuy nhiên, thực tế phải thẳng thắn nhìn nhận, khi trình độ, điều kiện giữa Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán có một khoảng cách quá xa thì việc thực hiện nguyên tắc &#8221; ngang quyền&#8221; của Hội thẩm khi tham gia xét xử cũng chỉ mang tính tượng trưng, hình thức.Trên thực tế một Thẩm phán phải có trình độ thấp nhất là cử nhân Luật, phải qua lớp đào tạo nghiệp vụ xét xử tại Học viện tư pháp, có thời gian công tác Pháp luật từ 4 năm trở lên ( đối với cấp huyện), từ 6 năm trở lên (đối với cấp tỉnh).Thẩm phán hoạt động xét xử lâu dài,tích lũy được nhiều kinh nghiệm, Thẩm phán có nhiệm vụ thụ lý hồ sơ vụ án, có quyền tiến hành các hoạt động theo tố tụng như: ghi lời khai, thu thập chứng cứ và tiếp xúc với các đương sự trong thời gian khá dài….Đó là điều kiện đưa ra những quyết định đúng đắn về vụ án. còn đối với Hội thẩm nhân dân chưa được đào tạo bài bản, không được trang bị kiến thức cơ bản về pháp luật mà chỉ sau khi được bầu họ mới được tham dự một số buổi tập huấn ngắn hạn về kiến thức Pháp luật và nghiệp vụ xét xử, nên việc xem xét các vấn đề đặt ra đối với họ chủ yếu bằng kinh nghiệm sống chứ không hoàn toàn dựa trên cơ sở pháp luật. Sự tham gia xét xử của Hội thẩm nhân dân là cần thiết nhưng phần lớn Hội thẩm nhân dân không có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, hiểu biết Pháp luật không sâu thì làm sao họ có thể &#8221; ngang quyền&#8221; với Thẩm phán khi xét xử được. Hơn nữa,  quy định về chế độ nghiên cứu hồ sơ của Hội thẩm nhân dân cũng còn nhiều bất cập, trong thời gian quá ngắn (kể từ khi Tòa án ra Quyết định xét xử thì Hội thẩm nhân dân mới chính thức tham gia nghiên cứu, xét xử vụ án đó), hơn nữa đã là Hội thẩm nhân dân thì sẽ được tham gia xét xử tất cả các loại án từ hình sự, dân sự, đến hành chính, kinh tế, lao động… Với trình độ. kiến thức Pháp luật của Hội thẩm nhân dân như hiện nay, trong thời gian nghiên cứu hồ sơ ít hơn Thẩm phán, thì Hội thẩm nhân dân không có đủ điều kiện để đánh giá hết các chứng cứ trong hồ sơ để có quyết định đúng đắn về vụ án, nhất là đối với những vụ án có nhiều tình tiết phức tạp như án dân sự về tranh chấp đất đai, thừa kế, những vụ án hình sự có nhiều bị cáo tham gia, hồ sơ dày đến hàng trăm bút lục… Phải khẳng định rằng, việc xét xử các vụ án là hết sức phức tạp. đòi hỏi các thành viên Hội đồng xét xử phải tinh thông nghiệp vụ, nắm chắc pháp luật, am hiểu xã hội. Đòi hỏi đặt ra là như vậy, nhưng theo các quy định hiện hành về tiêu chuẩn để được bầu làm Hội thẩm nhân dân thì nêu rất chung chung là “có kiến thức pháp lý”, vậy căn cứ vào đâu để đánh giá một người là có kiến thức pháp lý? Với quy định chưa rõ ràng này việc tham gia xét xử của Hội thẩm nhân dân còn mang tính cơ cấu và hình thức. Số Hội thẩm nhân dân có bằng cấp về pháp luật chiếm tỷ lệ rất thấp. Hơn nữa theo quy định của pháp luật hiện hành thì Hội thẩm nhân dân cũng như thẩm phán khi có tỷ lệ vụ việc do mình tham gia xét xử, giải quyết bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Hội đồng xét xử thì ngoài việc không được xét thưởng, còn bị xem xét mức độ để có thể đề nghị miễn hoặc bãi nhiệm, nhưng trên thực tế, nếu trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân được xác định một cách rõ ràng đối với các bản án bị hủy, cải, sửa thì e rằng không ai dám chấp nhận làm Hội thẩm nhân dân trong một điều kiện với tiêu chuẩn, chế độ như hiện nay.</p>
<p style="text-align:justify;">Để nguyên tắc này có tính khả thi, không tượng trưng, hình thức, hơn nữa để nâng cao chất lượng xét xử, tôi cho rằng  trong thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, số lượng thành viên Hội thẩm nhân dân nên ít hơn Thẩm phán. Đặc biệt để Hội thẩm nhân dân đảm đương được chức trách, nhiệm vụ của mình cần tiêu chuẩn hóa đội ngũ Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm nhân dân phải có trình độ cử nhân Luật hoặc đã qua công tác pháp luật từ 3 &#8211; 5 năm, phải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ xét xử; cần quy định về mặt tổ chức, cụ thể: Đoàn Hội thẩm nhân dân là một tổ chức chính trị xã hội không chịu sự quản lý của Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp, có kinh phí hoạt động riêng. Đoàn Hội thẩm có Trưởng đoàn và Phó trưởng đoàn làm việc theo chế độ chuyên trách là người trực tiếp quản lý, phân công việc tham gia xét xử của Hội thẩm nhân dân. Theo đó, cơ chế phối hợp với Tòa án sẽ là: sau khi lên lịch xét xử, Tòa án gửi cho Trưởng đoàn Hội thẩm để sắp xếp, phân công Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử và gửi văn bản phân công cho Tòa án để ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Làm như vậy, một mặt giảm bớt công việc cho Tòa án, mặt khác việc lựa chọn Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử các vụ án cụ thể trở nên khách quan hơn. Đặc biệt trong thời gian chuẩn bị xét xử Hội thẩm nhân dân phải hết sức nỗ lực trong việc nghiên cứu hồ sơ, xem xét những tình tiết, tài liệu liên quan đến vụ án, nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh vụ án, trên cơ sở đó Hội thẩm nhân dân phải chuẩn bị cho mình một kế hoạch thẩm vấn tại phiên tòa, có như vậy mới chủ động khi tham gia xét xử và thể hiện sự &#8220;ngang quyền&#8221; với Thẩm phán được. Đi đôi với việc tiêu chuẩn hóa đội ngũ Hội thẩm nhân dân, cần phải có một chính sách đãi ngộ, chế độ bồi dưỡng thỏa đáng, thích hợp đối với Hội thẩm nhân dân, để tương tầm với trọng trách mà pháp luật quy định.</p>
<p style="text-align:justify;">Pháp luật hiện hành trao cho Hội thẩm nhân dân quyền năng pháp lý khá lớn, song chưa có cơ chế để Hội thẩm nhân dân phát huy vai trò, nhiệm vụ của mình, do vậy hoạt động còn mang tính hình thức. Muốn giải quyết vấn đề này, đòi hỏi phải có các phương án và giải pháp đồng bộ cùng với sự tham gia tích cực, trách nhiệm từ nhiều phía.</p>
<p style="text-align:justify;">Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, chế định về Hội thẩm nhân dân cần phải được nghiên cứu, sửa đổi để bảo đảm yếu tố khoa học và tính pháp lý trong hoạt đông xét xử của Tòa án.</p>
<p style="text-align:right;">
<p style="text-align:right;"><strong><em>Trần Kỳ</em></strong></p>
<p style="text-align:right;"><strong><em>Theo: Cổng thông tin điện tử TANDTC (http:toaan.gov.vn)</em></strong></p>
<p style="text-align:justify;">
<br />Filed under: <a href='http://luathinhsu.wordpress.com/category/lu%e1%ba%adt-t%e1%bb%91-t%e1%bb%a5ng-hinh-s%e1%bb%b1/'>Luật Tố Tụng Hình Sự</a>  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/luathinhsu.wordpress.com/3627/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/luathinhsu.wordpress.com/3627/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/luathinhsu.wordpress.com/3627/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/luathinhsu.wordpress.com/3627/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/luathinhsu.wordpress.com/3627/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/luathinhsu.wordpress.com/3627/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/luathinhsu.wordpress.com/3627/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/luathinhsu.wordpress.com/3627/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/luathinhsu.wordpress.com/3627/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/luathinhsu.wordpress.com/3627/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/luathinhsu.wordpress.com/3627/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/luathinhsu.wordpress.com/3627/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/luathinhsu.wordpress.com/3627/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/luathinhsu.wordpress.com/3627/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&amp;blog=9224016&amp;post=3627&amp;subd=luathinhsu&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/05/nguyen-tac-viec-xet-xu-cua-toa-an-nhan-dan-co-hoi-tham-nhan-dan-tham-gia-hoi-tham-ngang-quyen-voi-tham-phan-thuc-tien-va-nhung-bat-cap/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/ced4978d5e994e9a06bccb29b1a4230e?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">luathinhsu</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Xử án hình sự: Còn sai sót</title>
		<link>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/04/xu-an-hinh-su-con-sai-sot/</link>
		<comments>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/04/xu-an-hinh-su-con-sai-sot/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 03 Jan 2012 17:13:42 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Luật Hình Sự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Câu Chuyện Pháp Luật]]></category>
		<category><![CDATA[Luật Hình Sự]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://luathinhsu.wordpress.com/?p=3624</guid>
		<description><![CDATA[Trong các vấn đề nổi lên tại hội nghị triển khai công tác năm 2012 do TAND Tối cao tổ chức tại TP.HCM ngày 3-1, đáng lưu ý hơn cả là việc xét xử án hình sự của các tòa địa phương vẫn còn nhiều lúng túng, sai sót&#8230; Tòa Hình sự TAND Tối cao [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&amp;blog=9224016&amp;post=3624&amp;subd=luathinhsu&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;"><strong><em>Trong các vấn đề nổi lên tại hội nghị triển khai công tác năm 2012 do TAND Tối cao tổ chức tại TP.HCM ngày 3-1, đáng lưu ý hơn cả là việc xét xử án hình sự của các tòa địa phương vẫn còn nhiều lúng túng, sai sót&#8230;</em></strong></p>
<p align="justify">Tòa Hình sự TAND Tối cao cho biết trong số 26 quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thì có đến 12 quyết định hủy án phúc thẩm, sơ thẩm để xét xử lại vì cho hưởng án treo không đúng.</p>
<p align="justify"><strong>Cho hưởng án treo sai</strong></p>
<p align="justify">Theo Tòa Hình sự, điều kiện cho bị cáo hưởng án treo đã được quy định rõ tại Điều 60 BLHS và được hướng dẫn rất chi tiết trong Nghị quyết 01 ngày 2-10-2007 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao. Nhưng trong thực tiễn xét xử, các tòa lại thường không để ý đến nhân thân của bị cáo mà quá nhấn mạnh đến tình tiết bị cáo nộp tiền phạt hay tình tiết gia đình, người thân thích của bị cáo là người có công. Chính vì vậy có trường hợp bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội nhiều lần vẫn được tòa cho hưởng án treo.</p>
<p align="justify">Vụ án Hoa Anh Tuấn bị xét xử về tội cố ý gây thương tích là một minh chứng. Theo hồ sơ, do có mâu thuẫn với ông Tiến về việc thu mua phế thải, Tuấn đã nhờ một số người đánh dằn mặt người này. Tuấn đã chỉ nhà, chỉ mặt cho những người kia đánh, chém ông Tiến gây thương tật 23%. Xử sơ thẩm, TAND TP Hà Nội phạt Tuấn ba năm tù. Sau đó, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội đã sửa án sơ thẩm, cho bị cáo này hưởng án treo.</p>
<p align="justify">Đánh giá về vụ này, Tòa Hình sự TAND Tối cao cho rằng cả hai cấp tòa sơ, phúc thẩm đều có thiếu sót: Tuấn phạm tội thuộc trường hợp có tính chất côn đồ nhưng cấp sơ thẩm lại không áp dụng điểm i khoản 1 Điều 104 BLHS là sai, đồng thời chỉ phạt Tuấn ba năm tù là quá nhẹ, chưa tương xứng với mức độ, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội cùng vai trò chủ mưu, khởi xướng. Sau đó, cấp phúc thẩm đã không phát hiện ra sai lầm của cấp sơ thẩm lại còn cho Tuấn hưởng án treo trong khi Tuấn có nhân thân xấu (năm 2005 từng bị kết án về <span id="more-3624"></span>tội chống người thi hành công vụ). Trong một thời gian ngắn, Tuấn đã nhiều lần vi phạm pháp luật nên việc cho bị cáo hưởng án treo là không đúng chế định về án treo của BLHS và trái với hướng dẫn tại các điểm b, d Tiểu mục 6.1 Nghị quyết 01 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao.</p>
<p align="justify"><strong>Cứng nhắc nên không khoan hồng</strong></p>
<p align="justify">Ở chiều ngược lại, cũng có những vụ đủ điều kiện để cho bị cáo hưởng án treo nhưng các tòa lại quá cứng nhắc khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên không khoan hồng.</p>
<p align="justify">Theo Tòa Hình sự TAND Tối cao, vụ anh em Nguyễn Hồng Sơn và hai đồng phạm bị xét xử về tội cố ý gây thương tích tại Bình Thuận (<em>Pháp Luật TP.HCM</em> từng phản ánh) là một ví dụ. Do có mâu thuẫn từ trước, tối 18-8-2009, một hàng xóm đã dùng đá đánh cha của Sơn phải nhập viện cấp cứu. Bốn ngày sau, còn ấm ức, anh em Sơn cùng hai người bạn đã dùng cây gỗ, rựa đánh người hàng xóm gây thương tật 55% tạm thời.</p>
<p align="justify">Xử sơ thẩm, TAND huyện Tuy Phong phạt Sơn ba năm tù, em trai Sơn hai năm tù, cho hai bị cáo còn lại hưởng án treo. Sau đó, Sơn kháng cáo xin hưởng án treo, còn VKS huyện kháng nghị theo hướng tăng án, không cho cả bốn bị cáo hưởng án treo. Xử phúc thẩm, TAND tỉnh Bình Thuận chấp nhận kháng nghị, phạt Sơn năm năm tù, ba bị cáo còn lại mỗi người ba năm tù.</p>
<p align="justify">Tòa Hình sự nhận xét việc tăng án với Sơn, không cho em trai Sơn hưởng án treo là quá nặng, không cần thiết bởi các bị cáo có đầy đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 60 BLHS và Mục 6 Nghị quyết 01.</p>
<p align="justify"><strong>Hủy, sửa án thiếu căn cứ</strong></p>
<p align="justify">Theo luật, tòa phúc thẩm chỉ có thể hủy án sơ thẩm để điều tra lại nếu việc điều tra không đầy đủ mà tòa phúc thẩm không thể khắc phục được hay hủy án để xét xử lại khi cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, theo Tòa Hình sự, trong năm qua, đã có những trường hợp tòa phúc thẩm lại hủy án sơ thẩm để điều tra lại cả những vấn đề đã điều tra đầy đủ, tỉ mỉ hoặc yêu cầu điều tra những vấn đề không liên quan đến việc giải quyết án.</p>
<p align="justify">Chẳng hạn vụ Đặng Hồng Cừu không có giấy phép lái xe nhưng vẫn điều khiển xe máy, không làm chủ tốc độ gây tai nạn giao thông làm một người chết. Tòa sơ thẩm đã phạt Cừu bốn năm tù về tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 Điều 202 BLHS. Sau đó, tòa phúc thẩm đã hủy án sơ thẩm để điều tra lại nhưng không nêu cần phải điều tra lại vấn đề gì. Trong khi đó, bản án sơ thẩm đã giải quyết thấu đáo về cả trách nhiệm hình sự lẫn trách nhiệm dân sự.</p>
<p align="justify"><strong>Bỏ lọt… kháng nghị</strong></p>
<p align="justify">Một vấn đề khác mà Tòa Hình sự cũng nêu ra để rút kinh nghiệm là việc tòa cấp phúc thẩm bỏ sót, không xem xét kháng nghị của VKS, vi phạm Điều 241 BLTTHS.</p>
<p align="justify">Điển hình là vụ Nguyễn Tiến Long bị tòa sơ thẩm phạt sáu năm tù về tội giết người. Không đồng ý, đại diện hợp pháp của nạn nhân kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt và mức bồi thường, VKS thì kháng nghị đề nghị tòa phúc thẩm chuyển tội danh nhẹ hơn và giảm hình phạt cho bị cáo.</p>
<p align="justify">Tại phiên xử phúc thẩm, phía nạn nhân đã rút toàn bộ kháng cáo. Lẽ ra phải tiếp tục xét xử vì vẫn còn kháng nghị của VKS, tòa lại ra quyết định… đình chỉ xét xử phúc thẩm. Tìm hiểu mới biết do không cẩn thận trong khâu thụ lý và lập hồ sơ phúc thẩm, bộ phận chức năng đã không chuyển kháng nghị cho thẩm phán được phân công giải quyết án nên mới xảy ra chuyện thẩm phán bỏ lọt kháng nghị như trên.</p>
<div align="center">
<table cellspacing="5" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td>
<p align="justify">Tại hội nghị, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, đã biểu dương những nỗ lực, cố gắng trong hoạt động xét xử của ngành tòa án trong bối cảnh cán bộ thiếu, cơ sở vật chất chưa đầy đủ, tình hình tội phạm và khiếu kiện gia tăng.</p>
<p align="justify">Tuy nhiên, Chủ tịch nước lưu ý vẫn còn một số hạn chế, bất cập mà ngành tòa án phải khắc phục: Tình trạng án tồn đọng kéo dài, chậm được giải quyết; án bị hủy, sửa; một số bản án tính thuyết phục chưa cao, án tuyên không rõ gây khó khăn cho công tác thi hành án; một số cán bộ trình độ còn yếu, suy thoái về đạo đức, lối sống&#8230;</p>
<p><strong>Phải công tâm khi cho hưởng án treo</strong></p>
<p align="justify">Điều 60 BLHS quy định khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm. Chính vì thế, nhiều ý kiến cho rằng việc cho hưởng án treo có thể tùy nghi vào người xét xử, mang tính chủ quan.</p>
<p align="justify">Tuy nhiên, tôi cho rằng việc cho hay không cho hưởng án treo theo Điều 60 BLHS buộc người thẩm phán phải căn cứ vào tình hình tội phạm ở địa phương vào thời điểm xét xử mà quyết định. Nếu tại thời điểm xét xử, loại tội phạm đó tại địa phương đang có chiều hướng gia tăng thì có thể không cho bị cáo hưởng án treo dù đủ điều kiện để đảm bảo tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Đồng thời, khi xét xử, người thẩm phán cũng cần phải có cái nhìn thật sự công tâm khi đưa ra quyết định.</p>
<p align="right">Kiểm sát viên cao cấp<strong> NGUYỄN THANH SƠN</strong>, <em>Viện Phúc thẩm III VKSND Tối cao</em></p>
<p><strong>Còn lúng túng khi định tội danh</strong></p>
<p align="justify">Thực tiễn xét xử phúc thẩm đối với các vụ án có kháng cáo, kháng nghị của địa phương, chúng tôi nhận thấy một số tòa còn lúng túng, vướng mắc trong việc định tội danh đối với nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người. Chẳng hạn giữa tội giết người ở khoản 2 Điều 93 BLHS với tội giết người trong trạng thái tinh thần kích động mạnh theo Điều 95 BLHS; giữa tội giết người ở khoản 2 Điều 93 BLHS với tội cố ý gây thương tích theo Điều 104 BLHS.</p>
<p align="justify">Cạnh đó, trong thực tế, tại một số nơi tồn tại quan điểm đã xét xử bị cáo về tội giết người theo khoản 2 Điều 93 BLHS thì không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 46 BLHS (phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra).</p>
<p align="right"><strong><em>Đại diện Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội</em></strong></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</div>
<p align="right">
<p align="right"><strong><em>Hoàng Yến &#8211; Tiến Hiểu</em></strong></p>
<p align="right"><strong><em>Theo: Tạp chí Pháp luật TP.HCM online</em></strong></p>
<br />Filed under: <a href='http://luathinhsu.wordpress.com/category/cau-chuy%e1%bb%87n-phap-lu%e1%ba%adt/'>Câu Chuyện Pháp Luật</a>, <a href='http://luathinhsu.wordpress.com/category/lu%e1%ba%adt-hinh-s%e1%bb%b1/'>Luật Hình Sự</a>  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/luathinhsu.wordpress.com/3624/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/luathinhsu.wordpress.com/3624/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/luathinhsu.wordpress.com/3624/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/luathinhsu.wordpress.com/3624/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/luathinhsu.wordpress.com/3624/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/luathinhsu.wordpress.com/3624/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/luathinhsu.wordpress.com/3624/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/luathinhsu.wordpress.com/3624/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/luathinhsu.wordpress.com/3624/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/luathinhsu.wordpress.com/3624/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/luathinhsu.wordpress.com/3624/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/luathinhsu.wordpress.com/3624/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/luathinhsu.wordpress.com/3624/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/luathinhsu.wordpress.com/3624/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&amp;blog=9224016&amp;post=3624&amp;subd=luathinhsu&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/01/04/xu-an-hinh-su-con-sai-sot/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/ced4978d5e994e9a06bccb29b1a4230e?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">luathinhsu</media:title>
		</media:content>
	</item>
	</channel>
</rss>
