<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	xmlns:georss="http://www.georss.org/georss" xmlns:geo="http://www.w3.org/2003/01/geo/wgs84_pos#" xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/"
	>

<channel>
	<title>Luật Hình Sự</title>
	<atom:link href="http://luathinhsu.wordpress.com/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://luathinhsu.wordpress.com</link>
	<description>Chuyên Trang Luật Hình Sự, Tố Tụng Hình Sự</description>
	<lastBuildDate>Sat, 26 May 2012 18:03:30 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.com/</generator>
<cloud domain='luathinhsu.wordpress.com' port='80' path='/?rsscloud=notify' registerProcedure='' protocol='http-post' />
<image>
		<url>http://1.gravatar.com/blavatar/7e9a730c466889a8a1b9ef6b27241957?s=96&#038;d=http%3A%2F%2Fs2.wp.com%2Fi%2Fbuttonw-com.png</url>
		<title>Luật Hình Sự</title>
		<link>http://luathinhsu.wordpress.com</link>
	</image>
	<atom:link rel="search" type="application/opensearchdescription+xml" href="http://luathinhsu.wordpress.com/osd.xml" title="Luật Hình Sự" />
	<atom:link rel='hub' href='http://luathinhsu.wordpress.com/?pushpress=hub'/>
		<item>
		<title>Phương hướng hoàn thiện các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự</title>
		<link>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/15/phuong-huong-hoan-thien-cac-quy-dinh-cua-bo-luat-to-tung-hinh-su-ve-xet-xu-so-tham-cac-vu-an-hinh-su/</link>
		<comments>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/15/phuong-huong-hoan-thien-cac-quy-dinh-cua-bo-luat-to-tung-hinh-su-ve-xet-xu-so-tham-cac-vu-an-hinh-su/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 15 May 2012 15:45:55 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Luật Hình Sự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Luật Tố Tụng Hình Sự]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://luathinhsu.wordpress.com/?p=3805</guid>
		<description><![CDATA[Xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần thứ nhất (cấp thứ nhất) do Toà án được giao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo Luật tổ chức Toà án nhân dân và Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&#038;blog=9224016&#038;post=3805&#038;subd=luathinhsu&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần thứ nhất (cấp thứ nhất) do Toà án được giao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo Luật tổ chức Toà án nhân dân và Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm ở Việt Nam là các Toà án cấp huyện, Toà án cấp tỉnh, Toà án quân sự khu vực, Toà án quân sự cấp quân khu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Theo pháp luật tố tụng Việt Nam hiện hành, thì xét xử sơ thẩm được xác định như là một giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình sự, mọi tài liệu chứng cứ của vụ án do Cơ quan điều tra, truy tố thu thập trong quá trình điều tra đều được xem xét một cách công khai tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của nhau, được tranh luận, chất vấn những điều mà tại Cơ quan điều tra họ không có điều kiện thực hiện. Xét xử sơ thẩm được coi như là đỉnh cao cửa quyền tư pháp, tại phiên toà quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được thực hiện một cách công khai, đầy đủ nhất; những lo âu của bị cáo, người bị hại và của những người tham gia tố tụng khác được giải toả tại phiên toà. Tâm lý nói chung đối với những người tham gia tố tụng là mong muốn vụ án nhanh được đưa ra xét xử để họ biết được Toà án sẽ phán quyết như thế nào.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng mà ở đó đòi hỏi những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải tập trung trí tuệ, xử lý các tình huống một cách mau lẹ, các lý lẽ đưa ra không chỉ đòi hỏi sự chính xác mà phải có sức thuyết phục, nhưng đồng thời lại phải tuân theo những quy định của pháp luật. Thông qua phiên toà có thể đánh giá được trình độ nghiệp vụ của Thẩm phán, của Hội thẩm, của Kiểm sát viên, của Luật sư và những người tham gia tố tụng tố tụng khác. Cũng thông qua phiên toà mà Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Luật sư nâng cao được trình độ nghiệp vụ năng lực công tác và kỹ năng nghề nghiệp; thông qua phiên toà, những người dự phiên toà hiểu biết thêm về pháp luật, củng cố thêm lòng tin vào Toà án. Vì vậy, việc tổ chức phiên toà sơ thẩm tốt có tác dụng to lớn không chỉ đối với một vụ án cụ thể mà còn có tác dụng đối với việc nâng cao ý thức pháp luật cho mọi công dân.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><span id="more-3805"></span>I - </span><span style="font-size:small;">NHỮNG VƯỚNG MẮC VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2003</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><em><span style="font-size:small;">1. Về thẩm quyền</span></em></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Theo quy định của pháp luật thì Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu (gọi chung là Toà án cấp tỉnh) xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử. Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng hình sự không có quy định trường hợp nào không thuộc thẩm quyền mà lại lấy nên để xét xử dẫn đến tình trạng tuỳ tiện, có vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp huyện nhưng ngay từ khi khởi tố vụ án đã do Cơ quan điều tra cấp tỉnh thực hiện nên đến khi kết thúc điều tra, lập cáo trạng đều do cấp tỉnh và mặc nhiên Toà án cấp tỉnh thụ lý xét xử sơ thẩm.Việc Toà án cấp tỉnh thụ lý xét xử không đúng thẩm quyền lại được giải thích rằng, có trường hợp đã truy tố ở cấp huyện mà Toà án cấp tỉnh còn có quyền lấy nên để xét xử huống chi vụ án này do Cơ quan điều tra cấp tỉnh khởi tố, kết luận điều tra, Viện kiểm sát cấp tỉnh truy tố ra Toà án cấp tỉnh thì không có lý do gì Toà án cấp tỉnh lại từ chối xét xử. Lý giải như vậy, rõ ràng là không thuyết phục, lấy nên để xét xử khác với thẩm quyền xét xử.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Toà án quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công nhân, nhân viên quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, dân quân tự vệ phối thuộc chiến đấu với quân đội và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý và những người tuy không thuộc các đối tượng trên nhưng hành vi phạm tội của họ có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Thực tiễn xét xử, thường xảy ra tranh chấp giữa Toà án quân sự với Toà án nhân dân trong trường hợp dân thường phạm tội mà hành vi của họ có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội. Bí mật quân sự đã có quy định nhưng “gây thiệt hại cho quân đội” bao gồm những thiệt hại nào thì chưa có quy định.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Đối với những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án quân sự nhưng bản án không chỉ có các quyết định về hình sự mà còn có cả các quyết định về dân sự. Nếu phần dân sự trong vụ án hình sự bị Toà án cấp phúc thẩm hoặc Toà án cấp giám đốc thẩm huỷ để giải quyết lại, nếu đúng theo quy định của pháp luật thì Toà án quân sự không có thẩm quyền xét xử lại phần dân sự trong vụ án hình sự đó nữa mà phải thuộc Toà án nhân dân. Tuy nhiên, nếu giao cho Toà án nhân dân giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự mà vụ án hình sự đó lại do Toà án quân sự đã xét xử thì không phù hợp, việc chuyển giao hồ sơ vụ án cũng rất phức tạp. Để khắc phục tình trạng này, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lại hướng dẫn, nếu phần dân sự trong vụ án hình sự bị huỷ để giải quyết lại thì dù vụ án đó do Toà án nhân dân xét xử hay Toà án quân sự xét xử thì bản án xét xử lại phần dân sự trong vụ án hình sự vẫn là <strong>“bản án hình sự”</strong>, trong khi đó những người tham gia tố tụng tố tụng được ghi trong bản án không phải là bị cáo, người bị hại, mà là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự dân sự.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Theo quy định của pháp luật thì Toà án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Toà án nơi tội phạm được thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện ở nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Toà án có thẩm quyền xét xử là Toà án nơi kết thúc việc điều tra.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Hiện nay có nhiều trường hợp tội phạm được thực hiện ở một nơi hoặc nhiều nơi nhưng không do Cơ quan điều tra địa phương khởi tố, kết thúc điều tra, mà do Cơ quan điều tra Bộ Công an khởi tố, kết thúc điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra bản cáo trạng và uỷ quyền cho Viện kiểm sát địa phương nơi Toà án có thẩm quyền xét xử vụ án tham gia phiên toà sơ thẩm để bảo vệ bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đây cũng là vấn đề thực tiễn xét xử gặp nhiều vướng mắc, nhất là đối với Kiểm sát viên tham gia phiên toà; nhiều trường hợp không bảo vệ được cáo trạng vì không có thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 3 Điều 166 Bộ luật tố tụng hình sự thì trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải gửi hồ sơ và bản cáo trạng đến Toà án. Nếu bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì chỉ có 3 ngày, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án đó, Kiểm sát viên được uỷ quyền tham gia phiên toà không có thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án, nhiều vụ án, do không có thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án, nên tại phiên toà Kiểm sát viên lúng túng không chỉ khi xét hỏi mà khi luận tội cũng như tranh luận với người bào chữa gặp rất nhiều khó khăn; có trường hợp Kiểm sát viên phải đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì, khi thấy vụ án không thuộc thẩm quyền mình thì Toà án chuyển vụ án cho Toà án có thẩm quyền xét xử, Việc chuyển vụ án cho Toà án ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính tương đương hoặc ngoài phạm vi quân khu do Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu quyết định. Chỉ được chuyển vụ án cho Toà án khác khi vụ án chưa được xét xử. Trường hợp này, việc chuyển vụ án do Chánh án Toà án quyết định.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Nếu vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án quân sự hoặc Toà án cấp trên thì vụ án đã được đưa ra xét xử vẫn phải chuyển cho Toà án có thẩm quyền. Trong trường hợp này, việc chuyển vụ án do Hội đồng xét xử quyết định. Việc chuyển vụ án phải được thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử do Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp quyết định; việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Toà án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau, do Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi kết thúc việc điều tra quyết định; việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa Toà án nhân dân và Toà án quân sự do Chánh án Toà án nhân dân tối cao quyết định.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền, chỉ do Chánh án Toà án quyết định. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử vấn đề tranh chấp về thẩm quyền không chỉ xảy ra giữa các Toà án với nhau mà còn xảy ra giữa Toà án với Viện kiểm sát nhưng Bộ luật tố tụng hình sự không có quy định ai chịu trách nhiệm giải quyết. Ví dụ: Toà án A thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án mình nên chuyển cho Toà án B có thẩm quyền để xét xử, Toà án B tiếp nhận vụ án cũng thấy vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án mình, nhưng Viện kiểm sát cùng cấp với Toà án B không đồng ý, nên không thay đổi Bản cáo trạng truy tố bị cáo ra Toà án B. Nhiều trường hợp do không có sự thống nhất giữa Viện kiểm sát và Toà án nên vụ án phải trả về Toà án không có thẩm quyền xét xử để xét xử vụ án đó không đúng thẩm quyền (biết sai mà không khắc phục được).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><em><span style="font-size:small;">2. Về giới hạn của việc xét xử</span></em></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự thì, khi xét xử sơ thẩm Toà án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát  truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Nếu theo quy định này, thì Toà án không được xét xử bị cáo về tội năng hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố. Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố bị cáo A về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự nhưng Toà án thấy bị cáo A phạm tội giết người theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự, nên đã trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung (thực chất là để truy tố lại), nhưng Viện kiểm sát không nhất trí với ý kiến của Toà án. Do đó, buộc Toà án phải dưa vụ án ra xét xử, kết quả xét hỏi, tranh luật tại phiên toà cả Kiểm sát viên và Hội đồng xét xử đều thấy bị cáo phạm tội giết người chứ không phải tội cố ý gây thương tích nhưng lại không cho Toà án xét xử bị cáo A về tội giết người. Đây là vấn đề đã nhiều lần được thảo luận trong các hội thảo khoa học, trên các tạp chí chuyên ngành, trong quá trình soạn thảo Bộ luật tố tụng hình sự và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng hình sự nhưng cho đến nay vẫn chưa có giải pháp khắc phục.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><em><span style="font-family:Arial;font-size:small;">3. Về người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng </span></em></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><em><span style="font-size:small;">a).  Về người tiến hành tố tụng</span></em></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam những người tham gia phiên toà được chia thành hai loại gồm: người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;"> Người tiến hành tố tụng gồm có: Chánh án, Phó chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Toà án và Kiểm sát viên.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Người tham gia tố tụng gồm có: Bị cáo; người bào chữa; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người bảo vệ quyền lợi của đương sự; người làm chứng; người giám định; người phiên dịch.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Trong số những người tiến hành tố tụng thì Chánh án, Phó chánh án Toà án là chức danh quản lý theo luật tổ chức, đồng thời là người đại diện cơ quan tiến hành tố tụng và là người tiến hành tố tụng. Là người đại diện cơ quan tiến hành tố tụng, nhưng Bộ luật tố tụng hình sự lại không quy định rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của Chánh án, Phó chánh án Toà án với tư cách là người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng khác với tư cách người tiến hành tố tụng như thế nào, mà chỉ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Chánh án, Phó Chánh án Toà án (Điều 38 BLTTHS). Nội dung của Điều 38 Bộ luật tố tụng hình sự chủ yếu quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm đối với người tiến hành tố tụng. Do đó trong thực tiễn xét xử khó có thể phân biệt khi nào Chánh án, Phó Chánh án Toà án thực hiện nhiệm vụ với tư cách là người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng, khi nào với tư cách người tiến hành tố tụng. Ví dụ: Chánh án quyết định tạm giam bị cáo thì việc ra quyết định tạm giam là với tư cách người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng hay với tư cách người tiến hành tố tụng. Việc khiếu nại quyết định này của Chánh án sẽ được giải quyết như thế nào, nếu có căn cứ Chánh án ra quyết định tạm giam đối với bị cáo là không vô tư ? Trường hợp Chánh án trực tiếp xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thì thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm theo Điều 39 hay cả Điều 38 Bộ luật hình sự, ai là người phân công cho Chánh án xét xử vụ án hình sự ?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Đối với Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, được giao nhiều quyền, trừ quyền ra quyết định thay đổi biện pháp tạm giam. Đây cũng là vấn đề cần xem xét lại, vì việc quy định cho Chánh án, Phó Chánh án mới là người có quyền này chủ yếu là đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng nhưng lại không phù hợp với thực tiễn xét xử, vì Thẩm phán mới là người nghiên cứu hồ sơ vụ án, mới biết được bị cáo có cần phải áp dụng hoặc thay đổi biện pháp tạm giam hay không. Giả thiết, Thẩm phán đề xuất với Chánh án cần phải thay đổi biện pháp tạm giam cho bị cáo nhưng Chánh án không đồng ý thì Thẩm phán có quyền khiếu nại quyết định của Chánh án hay không, trong khi đó Thẩm phán có quyền quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, còn tại phiên toà thì Thẩm phán còn có quyền bắt giam hoặc tha bị cáo.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Thẩm phán không có quyền cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa cũng là vấn đề cần phải xem xét lại, bởi lẽ không có lý do gì lại không cho Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa, không ai hiểu nội dung vụ án, cũng như các mối quan hệ giữa những người tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng bằng Thẩm phán, vì thông qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ án Thẩm phán có thể biết người bào chữa có thuộc trường hợp bắt buộc hay không bắt buộc, có thuộc trường hợp phải thay đổi hay không. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc gây phiền hà cho Luật sư, vì không phải lúc nào Chánh án, Phó Chánh án cũng có mặt tại trụ sở để xem xét việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận bào chữa cho Luật sư. </span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Trong giai đoạn xét xử, Thẩm phán chủ toạ phiên toà là người điều khiển phiên toà, nhưng do tư duy cũ và thói quen của Thẩm phán từ thế hệ này qua thế hệ khác quá tập trung vào việc “khuất phục” bị cáo nên không quan tâm đến việc điều khiển phiên toà nhất là điều khiển việc tranh luận giữa người bào chữa (Luật sư) với Kiểm sát viên tham gia phiên toà. Đây là khâu yếu nhất của Thẩm phán chủ toạ phiên toà hiện nay.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành quy định khi xét hỏi bị cáo, chủ toạ phiên toà phải để bị cáo trình bày ý kiến về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án. Hội đồng xét xử hỏi thêm về những điểm mà bị cáo trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.(Điều 209 BLTTHS), nhưng trên thực tế hầu hết các phiên toà hiện nay, chủ toạ phiên toà không để cho bị cáo trình bày ý kiến về bản cáo trang và những tình tiết của vụ án, mà chủ toạ phiên toà đặt ngay các câu hỏi theo diễn biến sự việc mà nội dung bản cáo trạng nêu. Thực tế thì Thẩm phán chủ toạ phiên toà hỏi là chính, hỏi hết cả phần của Kiểm sát viên và người bào chữa; hỏi như một Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên hỏi bị can trong giai đoạn điều tra; Thẩm phán không chỉ hỏi mà còn giáo dục bị cáo, bình luận, nhận xét, tỏ thái độ đối với lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; tại phiên toà sơ thẩm người ta chỉ thấy chủ toạ phiên toà nói. Chủ toạ phiên toà không chỉ hỏi mà còn giải thích, cho bị cáo và những người tham gia tố tụng về Bộ luật hình sự, trong khi đó thì lại không giải thích cho bị cáo và những người tham gia tố tụng về quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên toà theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Bộ luật tố tụng hình sự cũng chưa có quy định tại phiên toà những người tham gia tố tụng được hỏi lẫn nhau, trong khi đó ở giai đoạn điều tra, lại có quy định khi đối chất Điều tra viên có thể cho những người đối chất được hỏi lẫn nhau (Điều 138 BLTTHS).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Đối với Hội thẩm, theo quy định của Hiến pháp và pháp luật thì Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán chủ toạ phiên toà, mọi quyết định của Hội đồng xét xử được biểu quyết theo đa số. Tuy nhiên, trên thực tế thì rất ít Hội thẩm thực hiện đúng trách nhiệm và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho mình, Chế định Hội thẩm tham gia xét xử còn nặng tính hình thức, Hội thẩm còn ỷ lại quá nhiều vào Thẩm phán, không có tư duy độc lập; các quyết định của Hội đồng xét xử chủ yếu do Thẩm phán chủ toạ phiên toà đưa ra và Hội thẩm chỉ đồng ý; rất ít vụ án bản án của Hội đồng xét xử được thông qua tại phòng nghị án. Công tác lựa chọn, bầu hoặc cử Hội thẩm cũng chưa được quan tâm, đặc biệt việc bồi dưỡng nghiệp vụ cho Hội thẩm chưa đáp ứng yêu cầu. </span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Thư ký Toà án được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm sau: Phổ biến nội quy phiên toà; báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tập đến phiên toà; ghi biên bản phiên toà; tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Toà án theo sự phân công của Chánh án Toà án (Điều 41 BLTTHS). Thực tế cho thấy, việc ghi biên bản phiên toà của Thư ký Toà án hiện nay là vấn đề yếu nhất; Thư ký Toà án ở các Toà án hiện nay đều là sinh viên đại học luật mới ra trường, không được đào tạo nghề (Thư ký); việc tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cho họ cũng chưa đáp ứng được yêu cầu; hầu hết biên bản phiên toà hiện nay không phản ảnh đầy đủ và trung thực diễn biến phiên toà, do Thư ký Toà án không ghi chép kịp.</span><em></em></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Kiểm sát viên tham gia phiên toà hình sự sơ thẩm để thực hiện quyền công tố. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên tham gia phiên toà đã được quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên toà sơ thẩm, Kiểm sát viên là người công bố bản cáo trạng, bổ sung cáo trạng hoặc rút cáo trạng tại phiên toà; tham gia cùng với Hội đồng xét xử xét hỏi tại phiên toà, trình bày lời luận tội, tranh luận với người bào chữa hoặc bị cáo; đưa ra chứng cứ hoặc yêu cầu, trong đó có quyền yêu cầu thay đổi thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án. Thực trạng hiện nay cho thấy có nhiều trường hợp Kiểm sát viên ít tham gia xét hỏi bị cáo và những người tham gia tố tụng khác để chứng minh tội phạm, mà ỷ lại cho chủ toạ phiên toà; khi trình bày lời luận tội tại phiên toà không căn cứ vào kết quả xét hỏi mà lại căn cứ vào Bản cáo trạng, mặc dù kết quả xét hỏi tại phiên toà đã có nhiều nội dung không đúng với bản cáo trạng; đặc biệt sau khi người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo và đề nghị Kiểm sát viên tranh luận về từng vấn đề mà người bào chữa (Luật sư) nêu ra, nhưng một số Kiểm sát viên không tranh luận lại, thậm chí chỉ nói một câu “vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố”, cá biệt có Kiểm sát viên từ chối tham gia phiên toà mà không có lý do chính đáng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><em><span style="font-size:small;">b).  Về người tham gia tố tụng</span></em></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì người tham gia tố tụng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm bao gồm: Bị cáo; người bào chữa; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người bảo vệ quyền lợi của đương sự; người làm chứng; người giám định; người phiên dịch.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Trong số những người tham gia tố tụng thì bị cáo là nhân vật trung tâm. Các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự cũng nhằm tới việc xác định bị cáo có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì phạm tội gì, mức hình phạt bao nhiêu, trách nhiệm bồi thường thiệt hại thế nào&#8230;Là bị cáo, họ chưa bị coi là người có tội, họ chỉ là người bị cáo buộc về một tội phạm nào đó theo Bộ luật hình sự, nên họ phải được đối xử như đối với một người bình thường khác. Cũng chính vì vậy mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định quyền của bị cáo rất đầy đủ và cụ thể để họ tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ cho mình trước lời cáo buộc của Viện kiểm sát tại phiên toà.  Tuy nhiên, trực trạng hiện nay, do nhận thức chưa đúng nên trước phiên toà bị cáo bị đối xử như người đã có tội; Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và ngay cả những người tham dự phiên toà cũng coi bị cáo là người đã có tội.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Để bảo vệ các quyền của bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, theo Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành thì bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;"> <em>Người bào chữa</em> là người được bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ, mời hay được cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn Luật sư phân công Văn phòng luật sư cử hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử để bào chữa cho bị cáo, nhằm làm sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp lý. Theo quy định tại Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự thì người bào chữa có thể là: Luật sư; Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><em><span style="font-size:small;">Luật sư </span></em><span style="font-size:small;">là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật Luật sư, thực hiện dịch vụ pháp luật theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức nhằm góp phần bảo vệ công lý. Hiện nay cả nước có hơn 6.250 Luật sư và hơn 3000 thực tập làm nghề Luật sư. Theo đánh giá của Liên đoàn Luật sư thì vị thế của Luật sư đã được nâng cao rõ rệt; các cơ quan tiến hành tố tụng tôn trọng, tạo thuận lợi hơn cho Luật sư khi hành nghề; các Đoàn Luật sư được địa phương quan tâm hơn, hỗ trợ nhiều hơn vè kinh phí, cơ sở vật chất. Tuy nhiên, số lượng Luật sư phân bổ chưa đồng đều, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội, mới có khoảng 20% vụ án hình sự có Luật sư tham gia; Luật sư chuyên sâu về các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại còn ít. Trình độ, năng lực của Luật sư cũng còn hạn chế; còn vi phạm đạo đức nghề nghiệp; cá biệt có Luật sư lợi dụng hành nghề để lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lợi dụng diễn đàn để tuyên truyền chống nhà nước ảnh hưởng uy tín của Luật sư&#8230;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Ngoài Luật sư, người bào chữa có thể là người đại diện hợp pháp của người bị cáo.</span><span style="font-size:small;"><em> </em></span><span style="font-size:small;">Người đại diện hợp pháp là bố mẹ để, bố mẹ nuôi, người đỡ đầu, anh, chị em ruột và những người theo quy định của pháp luật đối với bị can bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Ngoài ra, người bào chữa còn có thể là Bào chữa viên nhân dân. Bào chữa viên nhân dân<strong> </strong>là người được tổ chức, đoàn thể xã hội cử ra để bào chữa cho bị cáo. Tuy nhiên, chế định bào chữa viên nhân dân hiện nay vẫn chưa có nên thực tiễn không ít trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng không cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho họ vì rất khó xác định họ có phải là bào chữa viên nhân dân hay không ?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Ngoài bị cáo, Bộ luật hình sự Việt Nam còn quy định những người tham gia tố tụng khác như:</span><em><span style="font-size:small;"> Người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng; người giám định; người phiên dịch; người bảo vệ quyền lợi của đương sự.</span></em></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Trong số những người tham gia tố tụng trên, có người bị hại là người mà thực tiễn xét xử còn nhiều vướng mắc, một phần do Bộ luật tố tụng hình sự quy định không rõ ràng, phần còn lại là do nhận thức của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng không thống nhất.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Bộ luật tố tụng hình sự cũng như Bộ luật hình sự không có quy định đối với tội phạm nào thì có người bị hại, còn tội phạm thì không, nên thực tiễn xét xử có Toà án xác định là người bị hại có Toà án chỉ xác định là nguyên đơn dân sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án như: đối với tội chống người thi hành công vụ hoặc đối với tội gây rối trật tự công cộng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản thì trường hợp nào có người bị hại, trường hợp không có người bị hại ? Các cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương cũng không thấy hướng dẫn.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự thì người bị hại chỉ có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án <strong>về phần bồi thường cũng như về hình phạt</strong> đối với bị cáo, nhưng theo quy định tại đoạn 1 Điều 231 Bộ luật tố tụng hình sự thì người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm, nên cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng cũng như người tham gia tố tụng đều hiểu rằng, người bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, kể cả tội danh, hình phạt và các quyết định khác. Cách hiểu này rõ ràng là không đúng nhưng lại được các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng chấp nhận và quyết định theo cách hiểu này. Ví dụ: Do có kháng cáo của người bị hại nên Toà án cấp phúc thẩm đã chuyển tội danh từ tội cố ý gây thương tích sang tội giết người (là tội danh nặng hơn).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Theo quy định tại khoản 3 Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự thì, trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày <strong>lời buộc tội</strong> tại phiên toà. Vậy, người bị hại trình bày <strong>lời buộc tội</strong> trước hay sau khi Kiểm sát viên trình bày <strong>lời luận tội</strong> ? Nếu người bị hại vắng mặt thì Toà án có xét xử vắng mặt họ được không ?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Theo quy định tại khoản 5 Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự thì, trong trường hợp người bị hại chết thì người đại diện hợp pháp của họ có những quyền của người bị hại, nhưng ai là người đại diện hợp pháp cho người bị hại thì Bộ luật tố tụng hình sự không quy định. Trường hợp người bị hại không chết nhưng họ là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì có người đại diện cho họ không, Bộ luật tố tụng hình sự chưa quy định.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự quy định nếu người bị hại từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội từ chối khai báo theo Điều 308 của Bộ luật hình sự, nhưng trên thực tế chưa có trường hợp nào người bị hại bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này, mặc dù có nhiều trường hợp họ không cộng tác với cơ quan tiến hành tố tụng như: không đi giám định tỷ lệ thương tật, không có mặt theo giấy triệu tập mà sự có mặt của họ là bắt buộc, gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và cho Toà án nói riêng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><em><span style="font-family:Arial;font-size:small;">4. Một số vấn đề về hình thức và thủ tục tại phiên toà  </span></em></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Do lịch sử để lại, có sự kế thừa mô hình tố tụng của Toà án Pháp nên từ phòng xử án, vị trí, chỗ ngồi của Hội đồng xét xử, của Kiểm sát viên, Thư ký phiên toà, “Vành móng ngựa”, chỗ ngồi của người bào chữa (Luật sư) và những người tham gia tố tụng khác cho đến nay vẫn không có gì thay đổi. Khi đất nước mở cửa, phát triển kinh tế thị trường, đã nhiều lần có ý kiến đề nghị Luật sư phải được ngồi ngang hàng với Kiểm sát viên; tại Hội nghị tổng kết 2 năm ngày thành lập Liên đoàn Luật sư Việt Nam, trả lời phỏng vấn báo giới, Chủ tịch liên đoàn Luật sư lại đề cập đến chỗ ngồi của Luật sư tại phiên toà sao cho bình đẳng với Kiểm sát viên.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Việc trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung cũng còn nhiều vấn đề Bộ luật tố tụng hình sự quy định chưa đầy đủ như: trường hợp chỉ cần truy tố lại chứ không cần điều tra lại bất cứ một tình tiết nào của vụ án, nhưng trong quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung vẫn phải ghi “để điều tra bổ sung”. Việc Điều bổ sung đối với phần dân sự trong vụ án hình sự chưa được Bộ luật tố tụng hình sự quy định cụ thể, mặc dù Điều 28 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự”. Giải quyết không chỉ bao gồm xét xử mà bao gồm cả giai đoạn điều tra, truy tố. Khi Toà án trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung về vấn đề dân sự, một số Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra không nhận hồ sơ vụ án mà làm công văn trả ngay cho Toà án với lý do: Toà án có thẩm quyền điều tra về vấn đề dân sự.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Theo quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng hình sự thì, đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên toà thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử, thì Toà án ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên toà. Tuy nhiên, thực tế có nhiều trường hợp phiên toà không mở, thời hạn tạm giam đã hết, thế là Toà án ra một cái lệnh vô thời hạn: “tạm giam bị cáo cho đến khi kết thúc phiên toà”, có trường hợp 6 tháng hoặc một năm sau phiên toà mới được mở. Đây là vi phạm không phải ít, nhưng không được phát hiện, uốn nắn.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Đến ngày mở phiên toà theo quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vì những lý do khác nhau nên phải hoãn phiên toà, trong đó có những lý do không đúng với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; việc thông báo hoãn phiên toà cũng không thống nhất, có Toà án thông báo bằng văn bản gửi cho cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, nhưng có Toà án chỉ viết ở trên bảng đạt trước trụ sở với nội dung: “phiên toà xét xử bị cáo A hoãn” không có một lời giải thích.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Hiện nay, có nhiều trường hợp sau khi điều tra bổ sung, Viện kiểm sát chuyển hồ sơ vụ án lại cho Toà án xét xử sơ thẩm nhưng chỉ bằng một công văn, không thay đổi bản cáo trạng (vẫn bản cáo trạng cũ), Việc làm này là không đúng pháp luật vì kết quả điều tra sung cần phải được thể hiện trong bản cáo trạng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Kể từ khi khai mạc phiên toà cho đến khi kết thúc phiên toà có thể chia ra các giai đoạn: phần mở đầu, phần xét hỏi, phần tranh luận và tuyên án.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Đánh giá chung, thì việc xét xử tại phiên toà hiện nay so với trước khi có Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02-1-2002 của Bộ Chính trị có tiến bộ hơn, bước đầu bảo đảm tranh tụng dân chủ giữa người bào chữa (Luật sư) với Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác&#8230;; việc phán quyết của Toà án đã căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; phiên toà diễn ra dân chủ hơn; quyền lợi của người tham gia tố tụng được tôn trọng. Tuy nhiên, so với yêu cầu cải cách tư pháp thì chưa đáp ứng. Sau khi có Nghị quyết số 08-NQ/TW, các Toà án tập trung tổ chức các phiên toà “mẫu” để rút kinh nghiệm rồi nhân rộng trên phạm vi toàn ngành, nhưng sau một thời gian, các Toà án đều báo cáo là đã tổ chức phiên toà hình sự sơ thẩm đúng với tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW, nhưng trên thực tế thì hiện nay còn nhiều phiên toà vẫn xét xử không đúng với Nghị quyết số 08-NQ/TW và Công văn số  Số: 13-CV/BCĐCCTP ngày 04 tháng 11 năm 2002 của Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương. Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49NQ/TW, ngày 02-6-2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 thì lại nhận thức rằng, Nghị quyết số 08-NQ/TW và Công văn số  Số: 13-CV/BCĐCCTP không còn hiệu lực. Vậy là những phiên toà “mẫu” không còn là “mẫu” nữa. Mặt khác do Bộ luật tố tụng hình sự chưa được sửa đổi, bổ sung theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49NQ/TW nên việc tổ chức và điều khiển phiên toà hình sự sơ thẩm vẫn còn mang nặng tính thẩm vấn, chưa thể hiện tính tranh tụng tại phiên toà. Chủ toạ phiên toà vẫn hỏi quá nhiều, không chỉ hỏi mà còn giáo dục, nhận xét, bình luận, đánh giá về lời của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Phần tranh luận chính là phần thể hiện tính tranh tụng nhất nhưng chủ toạ phiên toà chưa điều khiển để người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tranh luận với Kiểm sát viên, còn Kiểm sát viên thì không tranh luận hoặc tranh luận không hết các ý kiến mà người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng đưa ra cần tranh luận làm rõ. Việc xử lý các tình huống tại phiên toà của chủ toạ cũng còn lúng túng, khi gặp phải trường hợp ngoài dự kiến ban đầu của chủ toạ phiên toà như: người bào chữa (Luật sư) tự ý rời bỏ phòng xử án mà không được chủ toạ đồng ý; bị cáo ra toà lặng thinh như người câm, không nói, không trả lời bất cứ câu hỏi nào của Hội đồng xét xử hoặc của Kiểm sát viên; tại phiên toà bị cáo đề nghị mời Luật sư bào chữa; Kiểm sát viên đề nghị hoãn phiên toà rút hồ sơ vụ án để xem xét lại&#8230;Việc Hội đồng nghị án, cũng như thời gian nghị án còn nhiều vấn đề Bộ luật tố tụng hình sự chưa quy định rõ ràng; chưa có cơ chế kiểm tra, giám sát xem bản án có được thông qua tại phòng nghị án hay không ? Biên bản nghị án có phản ảnh đúng trình tự, nội dung thảo luận của Hội đồng xét xử hay không ?&#8230;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">I-</span><span style="font-size:small;">  </span><span style="font-size:small;">PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ  </span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Hoàn thiện thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, là một yêu cầu tất yếu và cũng là vấn đề nằm trong chiến lược cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49NQ/TW đề ra. Vì vậy, phương hướng hoàn thiện phải gắn liền với mục tiêu và phương hướng cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49NQ/TW của Bộ Chính trị.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><em><span style="font-family:Arial;font-size:small;">1. Xác định mô hình tố tụng hình sự</span></em></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Trước hết, cần xác định mô hình tố tụng hình sự ở nước ta theo mô hình như thế nào, đây là vấn đề cốt lõi của việc hoàn thiện thủ tục tố tụng hình sự nói chung và thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">Hiện nay, trên sách báo cũng như các báo cáo về cải cách tư pháp đều xác định mô hình (kiểu) tố tụng hình sự của nước ta hiện nay là “tố tụng thẩm vấn” và đi liền với mô hình tố tụng thẩm vấn là “luật thành văn”. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, mô hình tố tụng của nước ta hiện nay là một hình tố tụng pha trộn. Theo TS Nguyễn Duy Hưng thì “<em>Mô hình tố tụng pha trộn giữa thẩm vấn và tranh tụng của chúng ta rất tiến bộ vì kết hợp được ưu điểm của hai mô hình tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng ra đời trước đó là nhà nước kiểm soát được tội phạm nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của nghi can. Nếu chính thức ghi nhận nguyên tắc tranh tụng trong Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi thì sẽ càng làm tăng thêm tính ưu việt của nó</em>”</span><span style="font-size:small;">[1]</span><span style="font-family:Arial;font-size:small;">. Đồng tình với ý kiến trên, đa số cho rằng trên thực tế Bộ luật tố tụng hình sự của nước ta đã có một số quy định mang tính tranh tụng, chứ không chỉ thuần tuý là thẩm vấn. Trên thế giới hiện nay cũng không còn mô hình tố tụng của quốc gia nào chỉ thuần tuý là “tranh tụng” hay “thẩm vấn” mà đã có sự pha trộn. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào mỗi nước mà tính tranh tụng hay tính thẩm vấn nhiều hay ít. Còn ở nước ta căn cứ vào các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì còn nặng về tính “thẩm vấn” mặc dù tính “tranh tụng” đã được ghi nhận nhưng chưa đậm nét.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;"> Khẳng định lại mô hình tố tụng “pha trộn” mà nước ta đang áp dụng, tức là chúng ta phải trả lời câu hỏi: Vì sao cho đến nay mô hình tranh tụng pha trộn lại không phát huy được tác dụng như chúng ta mong đợi ? Đó là vì các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng vẫn mang nặng tư duy cũ và thiên về tố tụng thẩm vấn nhiều hơn; Bộ luật tố tụng hình sự cũng chưa có nhiều quy định bảo đảm cho tính tranh tụng nhiều hơn, nhất là các quy định về phiên toà, mặc dù Nghị quyết số 08-NQ/TW và Công văn số 13 của Ban chỉ đạo cải cách tư pháp đã có nhiều nội dung mang tính tranh tụng nhiều hơn.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><em><span style="font-family:Arial;font-size:small;">2. Xây dựng pháp luật </span></em></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Xây dựng một hệ thống pháp luật từ Hiến pháp đến các Luật, Pháp lệnh&#8230; có liên quan đến các quy định về xét xử nói chung và xét xử sơ thẩm nói riêng thể hiện tính tranh tụng nhiều hơn nữa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Các quy định của Hiến pháp về “Cơ quan tư pháp”, cũng như quy định về các quyền cơ bản của Công dân, cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng: Nâng cao vị thế của Toà án, chỉ có các Toà án mới là Cơ quan tư pháp; Hệ thống Toà án được tổ chức lại thành 4 cấp; Viện kiểm sát là Cơ quan công tố; Cơ quan điều tra không nằm trong Bộ Công an; hoạt động điều tra dưới sự chỉ huy của Công tố; các cơ quan này không phụ thuộc vào đơn vị hành chính.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Luật tổ chức Toà án, Luật tổ chức Công tố và Luật tổ chức Cơ quan điều tra cần cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về hệ thống Toà án, Hệ thống cơ quan Công tố và Công tố viên, Hệ thống Cơ quan điều tra và Điều tra viên.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Bộ luật tố tụng hình sự, cần sửa đổi, bổ sung theo hướng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">- Không quy định người đứng đầu Toà án, Viện công tố, Cơ quan điều tra là “Người tiến hành tố tụng”, vì những người này đại diện cho cơ quan tiến hành tố tụng. </span><span style="font-size:small;">Thẩm phán có quyền cấp giấy chứng nhận người bào chữa và có quyền áp dụng, thay đổi tất cả các biện pháp ngăn chặn, kể cả biện pháp tạm giam.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">- Chỉ quy định Luật sư mới là người bào chữa, sửa đổi, bổ sung một số quyền và nghĩa vụ của Luật sư để tạo thuận lợi cho Luật sư  hoạt động; bổ sung một số quyền và nghĩa vụ đối với Luật sư trong trường hợp bào chữa theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng (bào chữa bắt buộc).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">- Tách phần dân sự trong vụ án hình sự để giải quyết bằng vụ án dân sự nếu các bên có yêu cầu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">- Bỏ thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ, Cơ quan công tố có quyền truy tố một công dân ra bất cứ Toà án nào trên lãnh thổ Việt Nam để xét xử sơ thẩm theo thẩm quyền xét xử (thẩm quyền theo việc), nếu có tranh chấp về thẩm quyền theo việc thì Viện công tố giải quyết chứ không phải Chánh án Toà án.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">- Về giới hạn xét xử cần quy định: Viện công tố</span><span style="font-size:small;"> chỉ truy tố người phạm tội và hành vi mà người đó thực hiện, còn bị cáo có phạm tội hay không và phạm tội gì thì để cho Toà án quyết định.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">- Thay đổi hình thức phiên toà sơ thẩm theo hướng: Bỏ vành móng ngựa thay vào đó là ghế bị cáo; bàn của Hội đồng xét xử cao nhất, Luật sư và Công tố viên ngồi ngang nhau nhưng thấp hơn Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án ngồi ở phía dưới Hội đồng xét xử; mọi diễn biến phiên toà, kể cả diễn biến khi nghị án phải được ghi âm hoặc ghi hình và được sử dụng bảo quản theo quy định của pháp luật.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">- Khi xét xử Công tố viên trình bày bản cáo trạng và đặc cách câu hỏi đối với  bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; trong quá trình xét hỏi, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác cũng có quyền hỏi; bị cáo có thể đặt câu hỏi đối với những người tham gia tố tụng khác; Thẩm phán chủ toạ phiên toà chỉ điều khiển việc xét hỏi, chỉ đặt câu hỏi đối với Công tố viên người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác khi <strong>thật cần thiết</strong>, chấp nhận hoặc bác bỏ những câu hỏi hoặc yêu cầu người bị hỏi không phải trả lời vì câu hỏi và câu trả lời có thể làm lộ bí mật nhà nước, hoặc xâm phạm nghiêm trọng đến thuần phong mỹ tục.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">- Đối với vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì người bị hại bắt buộc phải có mặt tại phiên toà và trình bày lời <strong>buộc tội</strong> trước khi Công tố viên trình bày lời <strong>luận tội</strong>, nếu họ vắng mặt không có lý do chính đáng thì vụ án được đình chỉ, vì người bị hại từ bỏ quyền khởi tố, mà theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự là bắt buộc.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Cùng với việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự theo hướng trên, thì cần có Luật về chứng cứ. Bộ luật tố tụng hình sự chỉ quy định trình tự, thủ tục thu thập, cung cấp chứng cứ, còn các vấn đề khác về chứng cứ như: khái niệm, nội dung, nguồn chứng cứ, giá trị của chứng cứ, đánh giá chứng cứ&#8230; sẽ quy định trong Luật về chứng cứ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><em><strong><span style="font-family:Arial;font-size:small;">3.</span><span style="font-size:small;"> </span><span style="font-size:small;">N</span><span style="font-size:small;">âng cao trình độ, năng lực cho Thẩm phán, Công tố viên, Điều tra viên và Luật sư.</span></strong></em></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Mọi sự thay đổi, cải cách bảo đảm tăng cường tính tranh tụng tại phiên toà, suy cho đến cùng vấn đề quyết định vẫn là con người. Nếu trình độ, năng lực, kinh nghiệm nghề nghiệp của đội ngũ Thẩm phán, Công tố viên, Điều tra viên và Luật sư như hiện nay thì mục tiêu cải cách sẽ không đạt được. Vì vậy, việc tiêu chuẩn hoá đội ngũ này cần phải tiến hành đồng bộ với quá trình cải cách tư pháp theo một lộ trình hợp lý.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">-</span><span style="font-size:small;"> </span><span style="font-size:small;">Đối với đội ngũ Thẩm phán,cần nghiên cứu bỏ hình thức xét tuyển bằng hình thức thi tuyển, không chỉ thi tuyển vào ngạch Thẩm phán mà thi tuyển từ Thẩm phán sơ cấp lên Thẩm phán trung cấp, từ trung cấp lên Thẩm phán cao cấp, từ cao cấp lên Thẩm phán tối cao.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">-</span><span style="font-size:small;"> </span><span style="font-size:small;">Đối với Công tố viên (Kiểm sát viên hiện nay), ngoài kiến thức về kiểm sát điều tra thì phải có kiến thức điều tra và chỉ huy điều tra; năng lực, trình độ, kinh nghiệm xét hỏi, tranh luận tại phiên toà. Cũng cần thi tuyển như đối với Thẩm phán.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">-</span><span style="font-size:small;"> </span><span style="font-size:small;">Đối với Điều tra viên là người trực tiếp thực hiện việc điều tra tội phạm, ngoài kiến thức pháp luật thì còn cần phải giỏi về nghiệp vụ điều tra, khám phá tội phạm, hiểu và sử dụng thành thạo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ. Việc bổ nhiệm Điều tra viên cũng phải áp dụng hình thức thi tuyển như đối với Thẩm phán và Công tố viên.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">-</span><span style="font-size:small;"> </span><span style="font-size:small;">Đối với Luật sư cần tăng về số lượng, đồng thời quan tâm đến chất lượng, chế độ đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, thi tuyển phải bảo đảm các tiêu chuẩn về năng lực và đạo đức nghề nghiệp của Luật sư; chế độ miễn cho những người tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên và các đối tượng khác) cũng phải có tiêu chí cụ thể chứ không phải ai cũng được miễn như quy định hiện nay; cần có quy định bảo vệ Luật sư khi</span><span style="font-size:small;">hàng nghề</span><span style="font-size:small;">, đồng thời xử lý nghiêm minh đối với Luật sư vi phạm pháp luật và đạo đức nghề nghiệp.</span></p>
<p style="text-align:justify;">
<blockquote>
<p style="text-align:justify;">Chú thích:</p>
<p style="text-align:justify;">[1] Trích phát biểu tại buổi toạ đàm do Báo pháp luật thành phố Hồ Chí Minh  tổ chức ngày 21-5-2011</p>
</blockquote>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:right;"><strong><em>Đinh Văn Quế</em></strong></p>
<p style="text-align:right;"><strong><em>Theo: Cổng thông tin điện tử TANDTC (http: toaan.gov.vn)</em></strong></p>
<p style="text-align:justify;">
<br />Filed under: <a href='http://luathinhsu.wordpress.com/category/lu%e1%ba%adt-t%e1%bb%91-t%e1%bb%a5ng-hinh-s%e1%bb%b1/'>Luật Tố Tụng Hình Sự</a>  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/luathinhsu.wordpress.com/3805/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/luathinhsu.wordpress.com/3805/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/luathinhsu.wordpress.com/3805/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/luathinhsu.wordpress.com/3805/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/luathinhsu.wordpress.com/3805/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/luathinhsu.wordpress.com/3805/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/luathinhsu.wordpress.com/3805/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/luathinhsu.wordpress.com/3805/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/luathinhsu.wordpress.com/3805/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/luathinhsu.wordpress.com/3805/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/luathinhsu.wordpress.com/3805/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/luathinhsu.wordpress.com/3805/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/luathinhsu.wordpress.com/3805/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/luathinhsu.wordpress.com/3805/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&#038;blog=9224016&#038;post=3805&#038;subd=luathinhsu&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/15/phuong-huong-hoan-thien-cac-quy-dinh-cua-bo-luat-to-tung-hinh-su-ve-xet-xu-so-tham-cac-vu-an-hinh-su/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/ced4978d5e994e9a06bccb29b1a4230e?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">luathinhsu</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Vấn đề định tội trong trường hợp: &#8220;Lợi dụng chức vụ quyền hạn&#8221; quy định tại điểm d khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự &#8211; Một số vấn đề cần trao đổi.</title>
		<link>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/14/van-de-dinh-toi-trong-truong-hop-loi-dung-chuc-vu-quyen-han-quy-dinh-tai-diem-d-khoan-2-dieu-139-bo-luat-hinh-su-mot-so-van-de-can-trao-doi/</link>
		<comments>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/14/van-de-dinh-toi-trong-truong-hop-loi-dung-chuc-vu-quyen-han-quy-dinh-tai-diem-d-khoan-2-dieu-139-bo-luat-hinh-su-mot-so-van-de-can-trao-doi/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 14 May 2012 14:53:58 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Luật Hình Sự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Luật Hình Sự]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://luathinhsu.wordpress.com/?p=3803</guid>
		<description><![CDATA[Điểm d khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự (BLHS) &#8211; Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định về tình tiết định khung “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức”. Về tình tiết “Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức” đã được làm [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&#038;blog=9224016&#038;post=3803&#038;subd=luathinhsu&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;"><strong><em>Điểm d khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự (BLHS) &#8211; Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định về tình tiết định khung “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức”. Về tình tiết “Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức” đã được làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn trong áp dụng luật Hình sự.</em></strong></p>
<p style="text-align:justify;">Đối với tình tiết “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn”, trong áp dụng pháp luật còn có một số điểm vướng mắc nhất định, cần thiết phải nghiên cứu, trao đổi làm sáng tỏ để nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của việc áp dụng pháp luật Hình sự trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tình tiết “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một tình tiết mới được quy định trong BLHS năm 1999. Theo Từ điển tiếng Việt thì “Lợi dụng” là một động từ gồm hai nghĩa: một là, dùng vào việc gì có ích; hai là, thừa dịp mưu ích riêng cho mình. Trong trường hợp này chúng ta nên hiểu theo nghĩa thứ hai và nếu phát triển theo ngữ nghĩa ấy thì tình tiết “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” trong luật Hình sự được hiểu là dựa vào phần việc phải làm theo chức vụ, quyền hạn để mưu lợi ích riêng cho cá nhân. Nghĩa là dựa vào quyền năng (quyền hành) do chức vụ, quyền hạn mang lại để thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, trong trường hợp này chức vụ, quyền hạn đã được người phạm tội sử dụng như một phương tiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm. Biểu hiện cụ thể của trường hợp này là người phạm tội đã sử dụng quyền năng của mình vào việc thực hiện hành vi gian dối,làm cho người khác tin nhầm tưởng giả là thật mà trao tài sản để chiếm đoạt. Nghiên cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 &#8211; BLHS năm 1999, chúng ta nhận thấy rằng, về mặt lập pháp tội phạm này đã được xây dựng dựa trên cơ sở ba điều luật của BLHS năm 1985 đó là: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (XHCN) (Điều 134); Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN (Điều 134 a) và Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân (Điều 157). Trong BLHS năm 1985 tình tiết “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” để lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã được nhà làm luật xây dựng cấu thành một tội phạm độc lập, đó là tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản công dân (Điều 156). Do vậy, trong trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi gian dối (lừa đảo) để chiếm đoạt tài sản và tài sản đó là tài sản của công dân và trong khi thực hiện tội phạm có tình tiết lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì họ bị xử lý về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản công dân theo Điều 156 của BLHS 1985. Trong nhiều giáo trình, sách tham khảo luật Hình sự đã mô tả hành vi khách quan của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản công dân là hành vi chiếm đoạt tài sản của công dân bằng thủ đoạn lạm dụng chức vụ, quyền hạn. Biểu hiện <span id="more-3803"></span>của hành vi phạm tội này thông thường được hiểu bao gồm các dạng hành vi đó là: Lạm dụng chức vụ, quyền hạn uy hiếp tinh thần chủ tài sản buộc họ phải giao tài sản; lạm dụng chức vụ, quyền hạn lừa dối (gian dối) để chiếm đoạt tài sản; chiếm đoạt tài sản đã được chủ tài sản giao cho mà việc giao này là do tin vào chức vụ, quyền hạn của người chiếm đoạt (lạm dụng lòng tin). Các dạng hành vi chiếm đoạt tài sản nêu trên về cơ bản cũng giống như hành vi khách quan của các tội cưỡng đoạt tài sản (uy hiếp tinh thần), lừa đảo chiếm đoạt tài sản (gian dối) và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (bội tín), điểm khác cơ bản so với các tội danh đó là có tình tiết lạm dụng chức vụ, quyền hạn khi thực hiện hành vi phạm tội. Chính vì lẽ đó mà trong các tội cưỡng đoạt tài sản công dân, lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân trong BLHS năm 1985 trước đây không có quy định về tình tiết định khung là “lợi dụng chức vụ, quyền hạn”.</p>
<p style="text-align:justify;">Hiện nay tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 280 thuộc chương các tội phạm về chức vụ của BLHS năm 1999. Nghiên cứu quy định của điều luật cho thấy, về phạm vi trách nhiệm hình sự của tội phạm này được áp dụng rộng hơn và được thể hiện ở chỗ không chỉ xác định đối tượng tác động chỉ là tài sản công dân như BLHS 1985 mà bao gồm cả tài sản Nhà nước, tài sản của tổ chức hoặc tài sản của công dân. Dựa trên cơ sở mở rộng về phạm vi trách nhiệm hình sự và việc xác định lại chính xác khách thể bị xâm hại của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280), tội phạm này đã được tách ra khỏi chương các tội xâm phạm sở hữu và quy định trong chương các tội phạm về chức vụ như BLHS hiện hành là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, hiện nay trong đa số các giáo trình, sách chuyên khảo luật Hình sự khi đề cập về dấu hiệu định tội của tội phạm này, cũng chỉ mô tả hành vi phạm tội dựa trên cơ sở biểu hiện ở ba dạng hành vi giống như giáo trình, sách chuyên khảo luật Hình sự được áp dụng cho BLHS năm 1985, đó là: Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn để uy hiếp tinh thần, hoặc lừa dối và hoặc lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản. Theo chúng tôi đây là vấn đề chưa thật sự hợp lý và cần thiết phải nghiên cứu, trao đổi nhằm vận dụng chính xác pháp luật Hình sự trong thực tiễn. Bởi vì, ở đây chúng ta sẽ gặp phải một vấn đề là trong trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản mà đều có tình tiết “lợi dụng chức vụ, quyền hạn” thì khi nào thuộc về tình tiết định khung quy định tại điểm d khoản 2 Điều 139 (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) và khi nào thuộc về dấu hiệu định tội quy định tại Điều 280 &#8211; BLHS (Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản). Trong trường hợp này dưới góc độ lý luận chúng ta có thể dễ dàng để phân biệt được, nếu dựa trên cơ sở tiếp cận ngữ nghĩa của các gốc từ “lợi dụng” hoặc “lạm dụng” và trên cơ sở phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm. Song dưới góc độ thực tiễn, nhất là khi vận dụng tình tiết định khung và dấu hiệu định tội nêu trên để giải quyết trong từng vụ án cụ thể lại gặp rất nhiều khó khăn. Đó là việc vận dụng và áp dụng không thống nhất và thậm chí là có sự “mâu thuẫn” giữa các cơ quan tiến hành tố tụng các cấp và giữa các cơ quan tiến hành tố tụng ở các địa phương khác nhau. Thực tiễn này cho thấy nếu không có sự “phân định” rạch ròi thì sẽ dẫn đến một tình trạng là đối với một vụ án về cơ bản là giống nhau, nhưng ở các cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau thì việc vận dụng các tình tiết định khung và định tội khác nhau để xử lý. Chúng tôi xin được đưa ra ví dụ sau đây để làm rõ cho vấn đề đã nêu ở trên:</p>
<p style="text-align:justify;">Trường hợp 1: Điều tra viên A đang trực tiếp thụ lý điều tra vụ án cướp giật tài sản mà B là thủ phạm. Trong quá trình điều tra A đã lợi dụng vị trí công tác của mình để gặp gỡ thân nhân của B và hứa giúp đỡ B được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì lý do đó nên A đã nhận được từ gia đình B số tiền là 50.000.000,00 đồng, nhưng thực chất A không giúp gì cả. Khi thấy B vẫn bị xử lý hình sự, gia đình B đã làm đơn tố cáo về hành vi của A và A bị bắt. Tại cơ quan điều tra A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.</p>
<p style="text-align:justify;">Trường hợp 2: Các tình tiết vụ án hoàn toàn giống như ở trường hợp một ở trên và chỉ có một điểm khác cơ bản so với trường hợp một là: A là điều tra viên trong cơ quan điều tra đó, nhưng A không phải là người đang trực tiếp thụ lý điều tra vụ án của B.</p>
<p style="text-align:justify;">Khi gặp các trường hợp này trong thực tiễn chúng ta xác định cả hai trường hợp này chỉ phạm vào một tội là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, với tình tiết định khung “lợi dụng chức vụ, quyền hạn” hoặc hai trường hợp này phạm vào hai tội danh khác nhau. Trong trường hợp thứ nhất A phạm vào tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản và ở trường hợp thứ hai A phạm vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong các dẫn chứng nêu trên, đòi hỏi những người tiến hành tố tụng phải phân biệt chính xác về tình tiết lợi dụng chức vụ, quyền hạn là thuộc về dấu hiệu định tội của Điều 280 &#8211; BLHS hoặc thuộc về tình tiết định khung của Điều 139 &#8211; BLHS và đây là cơ sở quan trọng nhất để định tội danh và vận dụng đúng đắn pháp luật Hình sự, đây cũng là một vấn đề gặp không ít khó khăn trong thực tiễn. Theo chúng tôi, cả hai trường hợp nêu trên chỉ nên xác định phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 &#8211; BLHS thì mới đảm bảo được tính thống nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự.</p>
<p style="text-align:justify;">Xuất phát từ những lập luận đã trao đổi trên đây và để nhằm góp phần vận dụng chính xác tình tiết định khung “lợi dụng chức vụ, quyền hạn” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 139 &#8211; BLHS trong thực tiễn, chúng tôi xin có một số ý kiến như sau:</p>
<p style="text-align:justify;">- Một là, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn chi tiết về tình tiết định khung thuộc điểm d khoản 2 Điều 139 &#8211; BLHS.</p>
<p style="text-align:justify;">- Hai là, trong thực tiễn áp dụng luật Hình sự, nên vận dụng thống nhất theo hướng xác định những hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản có tình tiết sử dụng chức vụ, quyền hạn như một điều kiện, một phương tiện để thực hiện hành vi trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc Điều 139 &#8211; BLHS.</p>
<p style="text-align:justify;">- Ba là, trong công tác nghiên cứu, giảng dạy đối với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280) không nên mô tả các dạng hành vi khách quan như các giáo trình, sách tham khảo hiện nay đang đề cập mà chỉ nên mô tả hành vi là: Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản và được thể hiện bằng các dạng hành vi cụ thể là hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn uy hiếp tinh thần chiếm đoạt tài sản hoặc hành vi lạm dụng lòng tin để chiếm đoạt tài sản. Còn đối với trường hợp người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối để thực hiện tội phạm thì nên coi đây là một trường hợp phạm tội thuộc điểm d khoản 2 Điều 139 &#8211; BLHS (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tình tiết định khung là lợi dụng chức vụ, quyền hạn).</p>
<p style="text-align:justify;">Những vấn đề đã đưa ra trong phạm vi bài viết này chỉ mang tính chất nghiên cứu, trao đổi. Chúng tôi mong nhận được sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp và quý bạn đọc để nhằm đạt tới mục đích cuối cùng là hiểu đúng bản chất và vận dụng chính xác về tình tiết định khung “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” quy định điểm d khoản 2 Điều 139 &#8211; BLHS trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay.</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:right;"><strong><em>Nguyễn Giang Nam</em></strong></p>
<p style="text-align:right;"><strong><em>Theo: Cổng thông tin điện tử ĐH Cảnh sát nhân dân (http:www.pup.edu.vn)</em></strong></p>
<br />Filed under: <a href='http://luathinhsu.wordpress.com/category/lu%e1%ba%adt-hinh-s%e1%bb%b1/'>Luật Hình Sự</a>  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/luathinhsu.wordpress.com/3803/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/luathinhsu.wordpress.com/3803/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/luathinhsu.wordpress.com/3803/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/luathinhsu.wordpress.com/3803/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/luathinhsu.wordpress.com/3803/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/luathinhsu.wordpress.com/3803/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/luathinhsu.wordpress.com/3803/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/luathinhsu.wordpress.com/3803/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/luathinhsu.wordpress.com/3803/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/luathinhsu.wordpress.com/3803/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/luathinhsu.wordpress.com/3803/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/luathinhsu.wordpress.com/3803/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/luathinhsu.wordpress.com/3803/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/luathinhsu.wordpress.com/3803/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&#038;blog=9224016&#038;post=3803&#038;subd=luathinhsu&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/14/van-de-dinh-toi-trong-truong-hop-loi-dung-chuc-vu-quyen-han-quy-dinh-tai-diem-d-khoan-2-dieu-139-bo-luat-hinh-su-mot-so-van-de-can-trao-doi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/ced4978d5e994e9a06bccb29b1a4230e?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">luathinhsu</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Rút yêu cầu khởi tố: Vẫn cần phải hướng dẫn</title>
		<link>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/11/rut-yeu-cau-khoi-to-van-can-phai-huong-dan/</link>
		<comments>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/11/rut-yeu-cau-khoi-to-van-can-phai-huong-dan/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 11 May 2012 16:20:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Luật Hình Sự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Luật Tố Tụng Hình Sự]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://luathinhsu.wordpress.com/?p=3797</guid>
		<description><![CDATA[Cần phải hướng dẫn đối với việc rút yêu cầu khởi tố đối với một hay hai bị can trong vụ án có nhiều bị can, hướng dẫn với việc rút yêu cầu tại phiên tòa&#8230; Điều 105 BLTTHS chỉ quy định “khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại” nhưng thực [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&#038;blog=9224016&#038;post=3797&#038;subd=luathinhsu&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;"><strong><em>Cần phải hướng dẫn đối với việc rút yêu cầu khởi tố đối với một hay hai bị can trong vụ án có nhiều bị can, hướng dẫn với việc rút yêu cầu tại phiên tòa&#8230;</em></strong></p>
<p align="justify">Điều 105 BLTTHS chỉ quy định “khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại” nhưng thực tiễn xét xử có nhiều vụ án không chỉ có một bị can, mà có nhiều bị can như báo <em>Pháp Luật TP.HCM</em> ngày 5-4 và ngày 3-5 nêu. Ngoài ra còn có trường hợp vụ án tuy chỉ có một bị can nhưng lại có nhiều người bị hại; có người yêu cầu khởi tố, có người không yêu cầu thì giải quyết thế nào cũng là vấn đề vướng mắc.</p>
<p align="justify"><strong>Cho phép đình chỉ với từng bị can</strong></p>
<p align="justify">Đối với trường hợp vụ án có nhiều bị can mà chỉ có một người bị hại; trước khi xét xử người bị hại làm đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án đối với một bị can trong số nhiều bị can thì tòa án có được đình chỉ vụ án đối với bị can mà người bị hại có đơn rút yêu cầu khởi tố không? Có ý kiến cho rằng điều luật không nói rõ rút yêu cầu khởi tố vụ án hay rút yêu cầu khởi tố bị can nên trường hợp người bị hại làm đơn rút yêu cầu khởi tố cho một bị can thì việc rút yêu cầu này không thuộc trường hợp rút yêu cầu khởi tố theo khoản 2 Điều 105 BLTTHS; vụ án phải tiếp tục được truy tố, xét xử; việc rút yêu cầu khởi tố bị can này chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ cho bị can; chỉ khi nào người bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án thì vụ án mới được đình chỉ.</p>
<p align="justify">Theo chúng tôi, hiểu như vậy là máy móc, không đúng với quy định của BLTTHS về trường hợp đình chỉ vụ án. Điều 169 và Điều 180 BLTTHS đều quy định: “Trong trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả bị can thì có thể đình chỉ vụ án đối với từng bị can”. Như vậy, về nguyên tắc, pháp luật cho phép đình chỉ vụ án đối với một bị can trong số nhiều bị can trong cùng một vụ án. Điều 169 và 180 BLTTHS không loại trừ trường hợp đối với khoản 2 Điều 105.</p>
<p align="justify"><span id="more-3797"></span>Tuy nhiên, việc đình chỉ vụ án đối với từng bị can theo khoản 2 Điều 105 là trường hợp được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nên rất cần hướng dẫn; nếu không, chắc chắn mỗi nơi sẽ hiểu và áp dụng khác nhau. Khi người bị hại làm đơn yêu cầu khởi tố là đơn “yêu cầu khởi tố vụ án” nên khi rút đơn yêu cầu khởi tố phải được coi là rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án chứ không phải là rút đơn yêu cầu khởi tố bị can hay là đơn bãi nại. Tuy nhiên, nếu người bị hại chỉ rút yêu cầu khởi tố vụ án đối với bị can nào thì bị can đó được áp dụng khoản 2 Điều 105, không thể buộc người bị hại phải rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án đối với tất cả bị can thì mới đình chỉ vụ án, còn chỉ rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án đối với một hoặc một số bị can thì không chấp nhận.</p>
<p align="justify"><strong>Cần hướng dẫn rút yêu cầu tại tòa</strong></p>
<p align="justify">Trường hợp vụ án có nhiều người bị hại, nếu họ tham gia tố tụng với tư cách độc lập (không có đại diện) thì việc một người bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án chưa thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 105 mà phải tất cả người bị hại đều rút yêu cầu khởi tố vụ án thì mới thuộc trường hợp đình chỉ. Việc rút yêu cầu khởi tố vụ án của một người bị hại trong số nhiều người bị hại có thể coi là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 46 BLHS nhưng phải nói rõ trong bản án. Tuy nhiên, vấn đề này cũng cần phải có hướng dẫn để áp dụng thống nhất.</p>
<p align="justify">Trường hợp người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án tại phiên tòa, theo quy định tại khoản 2 Điều 105 BLTTHS thì không thuộc trường hợp đình chỉ vụ án mà tòa án phải xét xử và ra bản án. Vì sao lại như vậy? Cho đến nay chưa có giải thích hoặc hướng dẫn nào nên mỗi tòa giải quyết khác nhau. Có ý kiến cho rằng BLTTHS quy định cho phép người bị hại có quyền khởi tố (tư tố) thì không có lý do gì lại không cho họ quyền rút yêu cầu khởi tố bất cứ giai đoạn tố tụng nào. Ở một số nước trên thế giới quyền này được bảo đảm bất cứ ở giai đoạn tố tụng nào, kể cả đối với Viện Công tố. Ở nước ta, đối với VKSND cũng chỉ có quyền rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa sơ thẩm; còn tại phiên tòa, dù kiểm sát viên có rút một phần hoặc toàn bộ cáo trạng thì tòa án vẫn phải xét xử toàn bộ vụ án và ra bản án. Có lẽ chính vì vậy mà đối với người bị hại cũng chỉ được rút yêu cầu khởi tố vụ án trước khi mở phiên tòa sơ thẩm. Quy định như vậy là phù hợp với quy định đối với VKSND. Tuy nhiên, nó có phù hợp với nguyện vọng của người bị hại hay không lại là vấn đề khác. Nếu thảo luận về vấn đề này, tôi tin rằng sẽ có nhiều ý kiến khác nhau.</p>
<p align="center">* * *</p>
<p align="justify"><strong>Tóm lại</strong> việc người bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án trước, trong phiên tòa rất cần có hướng dẫn của cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương để việc áp dụng khoản 2 Điều 105 BLTTHS được thống nhất.</p>
<div align="center">
<table cellspacing="5" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td>
<p align="justify">Không xem đơn bãi nại là rút yêu cầu khởi tố</p>
<p align="justify">Trong thực tiễn do không hiểu pháp luật nên người bị hại khi làm đơn rút yêu cầu khởi tố thường viết dưới hình thức “đơn bãi nại”. Đây là vấn đề cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng cần giải thích cho người bị hại về khoản 2 Điều 105 BLTTHS và hướng dẫn người bị hại làm đơn cho chính xác. Sau khi đã giải thích cho người bị hại về khoản 2 Điều 105 mà họ vẫn chỉ “bãi nại” thì không coi đơn bãi nại là đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án để đình chỉ vụ án.</p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</div>
<p align="right">
<p align="right"><strong><em>Đinh Văn Quế, nguyên Chánh Tòa Hình sự TANDTC</em></strong></p>
<p align="right"><strong><em>Theo: Tạp chí Pháp luật TP.HCM online</em></strong></p>
<br />Filed under: <a href='http://luathinhsu.wordpress.com/category/lu%e1%ba%adt-t%e1%bb%91-t%e1%bb%a5ng-hinh-s%e1%bb%b1/'>Luật Tố Tụng Hình Sự</a>  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/luathinhsu.wordpress.com/3797/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/luathinhsu.wordpress.com/3797/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/luathinhsu.wordpress.com/3797/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/luathinhsu.wordpress.com/3797/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/luathinhsu.wordpress.com/3797/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/luathinhsu.wordpress.com/3797/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/luathinhsu.wordpress.com/3797/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/luathinhsu.wordpress.com/3797/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/luathinhsu.wordpress.com/3797/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/luathinhsu.wordpress.com/3797/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/luathinhsu.wordpress.com/3797/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/luathinhsu.wordpress.com/3797/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/luathinhsu.wordpress.com/3797/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/luathinhsu.wordpress.com/3797/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&#038;blog=9224016&#038;post=3797&#038;subd=luathinhsu&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/11/rut-yeu-cau-khoi-to-van-can-phai-huong-dan/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/ced4978d5e994e9a06bccb29b1a4230e?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">luathinhsu</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Một số điểm cần lưu ý khi áp dụng thông tư liên tịch số 7/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP</title>
		<link>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/10/mot-so-diem-can-luu-y-khi-ap-dung-thong-tu-lien-tich-so-7-ttlt-bca-vksndtc-tandtc-btp/</link>
		<comments>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/10/mot-so-diem-can-luu-y-khi-ap-dung-thong-tu-lien-tich-so-7-ttlt-bca-vksndtc-tandtc-btp/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 10 May 2012 16:06:15 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Luật Hình Sự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Luật Hình Sự]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://luathinhsu.wordpress.com/?p=3795</guid>
		<description><![CDATA[Tội phạm mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 194 của BLHS năm 1999: “Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”. Tội phạm mua bán trái phép chất ma túy được [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&#038;blog=9224016&#038;post=3795&#038;subd=luathinhsu&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;"><em><strong>Tội phạm mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 194 của BLHS năm 1999: “Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.</strong></em></p>
<p style="text-align:justify;">Tội phạm mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 194 của BLHS năm 1999: “Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.</p>
<p style="text-align:justify;">Tuy nhiên trên thực tế xác định như thế nào là hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hay trường hợp người thực hiện mua bán, trao đổi… ma túy giả có được coi là hành vi mua bán trái phép chất ma túy hay không. Từ đó để xử lý người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy đòi hỏi phải có sự thống nhất về đường lối xử lý giữa các ngành, các địa phương, nhằm đảm bảo sự công bằng, đúng pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, điều tra, truy tố người phạm tội trước pháp luật.</p>
<p style="text-align:justify;">Ngày 24/12/2007 Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp đã ký ban hành Thông tư liên tịch số 17/TTLT-BCA- VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999. Theo đó khi xử lý người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy cần chú ý những vấn đề như:</p>
<p style="text-align:justify;">Thứ nhất, mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 194 là một trong các hành vi sau :</p>
<p style="text-align:justify;">+ Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;</p>
<p style="text-align:justify;">+ Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;</p>
<p style="text-align:justify;"><span id="more-3795"></span>+ Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;</p>
<p style="text-align:justify;">+ Dùng chất ma túy nhằm trao đổi, thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc do đâu mà có);</p>
<p style="text-align:justify;">+ Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;</p>
<p style="text-align:justify;">+ Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;</p>
<p style="text-align:justify;">+ Vận chuyển ma túy nhằm bán trái phép cho người khác.</p>
<p style="text-align:justify;">Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi mua bán trái phép chất ma túy như đã trình bày ở trên đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy.</p>
<p style="text-align:justify;">Như vậy, với hành vi bán trái phép chất ma túy, dùng chất ma túy nhằm trao đổi, thanh toán trái phép đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 194 BLHS năm 1999, không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy đó do đâu mà có. Còn lại các hành vi khác như mua, xin, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy… thì cần phải chứng minh được mục đích thực hiện hành vi này là bán trái phép chất ma túy đó.</p>
<p style="text-align:justify;">Trường hợp bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác cũng đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 194 của BLHS năm 1999. Đây là điểm mới so với Thông tư liên tịch số 01, 02 năm 1998, hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương VIIa “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1985, để tránh một số trường hợp trên thực tế người phạm tội khi bị phát hiện, bắt giữ khai bán hộ chất ma túy cho người khác nhằm phủ nhận hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy.</p>
<p style="text-align:justify;">Thứ hai, trong trường hợp một người biết là chất ma túy giả nhưng làm cho người khác tưởng là chất ma túy thật nên mua bán, trao đổi… thì người đó không phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, mà chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 của BLHS năm 1999, nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác nữa trong cấu thành tội phạm này.</p>
<p style="text-align:justify;">Đây là điểm mới trong Thông tư liên tịch số 17 so với Thông tư liên tịch số 01, 02 ban hành năm 1998. Đồng thời là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xử lý người phạm tội theo đúng pháp luật. Thực tế cho thấy, ở một số địa phương có trường hợp đối tượng làm giả chất ma túy để bán cho người khác nhằm mục đích kiếm lời. Trường hợp này trong khoảng thời gian trước khi ban hành Thông tư liên tịch số 17, ở các địa phương, cách xử lý có nhiều quan điểm khác nhau, có địa phương truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo, song có địa phương không truy cứu trách nhiệm hình sự được. Chính điều đó đã tạo ra sự không thống nhất trong đường lối xử lý giữa các địa phương, các ngành. Hiện nay nếu vận dụng theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 17 thì nếu chứng minh được ý thức chủ quan của đối tượng là chủ định làm ma túy giả để mua bán, trao đổi… thì sẽ xem xét trách nhiệm hình sự của đối tượng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 của BLHS năm 1999.</p>
<p style="text-align:justify;">Thứ ba, trường hợp sau khi giám định không phải là chất ma túy, nhưng người thực hiện hành vi mua bán ý thức rằng đó là chất ma túy thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 194 của BLHS năm 1999.</p>
<p style="text-align:justify;">Theo quy định của pháp luật, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy. Thực tế hiện nay xảy ra một số trường hợp là sau khi gửi mẫu đi giám định thì kết luận của cơ quan giám định xác định không phải chất ma túy, hoặc không phải chất ma túy theo quy định của danh mục các chất ma túy do Chính phủ Việt Nam ban hành, nhưng lại thuộc danh mục kiểm soát ma túy của quốc tế. Như vậy những trường hợp này vận dụng quy định của Thông tư liên tịch số 17, nếu chứng minh được ý thức của người thực hiện hành vi mua bán rằng họ tin tưởng đó là chất ma túy, thì họ vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 194 &#8211; BLHS năm 1999.</p>
<p style="text-align:justify;">Tóm lại: Nghiên cứu, nắm vững những vấn đề trên khi áp dụng Thông tư liên tịch số 17/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTP trong xử lý người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy là vấn đề rất cần thiết, nó giúp cho công tác phát hiện, điều tra tội phạm mua bán trái phép chất ma túy đạt hiệu quả hơn, từ đó xác định, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mặt khác, trong điều kiện nước ta đang thực hiện chính sách mở cửa, thu hút đầu tư từ nước ngoài, nhiều người nước ngoài vào Việt Nam để sinh sống, làm việc, kéo theo nhiều loại ma túy mới xuất hiện ở nước ta, trong khi đó danh mục các chất ma túy chưa thể bổ sung kịp thời thì những quy định của Thông tư liên tịch số 17 sẽ là cơ sở pháp lý rất quan trọng cho việc xử lý người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy nếu cán bộ, chiến sĩ CSND biết vận dụng một cách khéo léo./.</p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:right;"><strong><em>Hoàng Hữu Toản, G.viên ĐH Cảnh Sát Nhân Dân</em></strong></p>
<p style="text-align:right;"><strong><em>Theo: Cổng thông tin điện tử ĐHCSND (http: www.pup.edu.vn)</em></strong></p>
<br />Filed under: <a href='http://luathinhsu.wordpress.com/category/lu%e1%ba%adt-hinh-s%e1%bb%b1/'>Luật Hình Sự</a>  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/luathinhsu.wordpress.com/3795/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/luathinhsu.wordpress.com/3795/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/luathinhsu.wordpress.com/3795/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/luathinhsu.wordpress.com/3795/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/luathinhsu.wordpress.com/3795/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/luathinhsu.wordpress.com/3795/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/luathinhsu.wordpress.com/3795/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/luathinhsu.wordpress.com/3795/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/luathinhsu.wordpress.com/3795/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/luathinhsu.wordpress.com/3795/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/luathinhsu.wordpress.com/3795/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/luathinhsu.wordpress.com/3795/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/luathinhsu.wordpress.com/3795/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/luathinhsu.wordpress.com/3795/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&#038;blog=9224016&#038;post=3795&#038;subd=luathinhsu&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/10/mot-so-diem-can-luu-y-khi-ap-dung-thong-tu-lien-tich-so-7-ttlt-bca-vksndtc-tandtc-btp/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/ced4978d5e994e9a06bccb29b1a4230e?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">luathinhsu</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Về vấn đề áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt tù đối với người phạm tội, một số vướng mắc và kiến nghị</title>
		<link>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/09/ve-van-de-ap-dung-dieu-47-bo-luat-hinh-su-khi-quyet-dinh-hinh-phat-tu-doi-voi-nguoi-pham-toi-mot-so-vuong-mac-va-kien-nghi/</link>
		<comments>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/09/ve-van-de-ap-dung-dieu-47-bo-luat-hinh-su-khi-quyet-dinh-hinh-phat-tu-doi-voi-nguoi-pham-toi-mot-so-vuong-mac-va-kien-nghi/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 09 May 2012 06:00:42 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Luật Hình Sự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Luật Hình Sự]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://luathinhsu.wordpress.com/?p=3792</guid>
		<description><![CDATA[Bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự mà phạm tội, đều bị điều tra, truy tố, xét xử và phải chịu hình phạt. Căn cứ vào quy định tại Điều 45 BLHS thì “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&#038;blog=9224016&#038;post=3792&#038;subd=luathinhsu&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">Bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự mà phạm tội, đều bị điều tra, truy tố, xét xử và phải chịu hình phạt. Căn cứ vào quy định tại Điều 45 BLHS thì <strong><em>“Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”.</em></strong> Theo cấu trúc của các điều luật thì khi một người bị truy tố, xét xử về một tội phạm nào đó được quy định trong Bộ luật hình sự, thì họ phải chịu mức hình phạt của một trong các hình phạt chính được quy định trong điều luật đó, thậm chí còn phải chịu một hay nhiều hình phạt bổ sung trong chính khung hình phạt của tội phạm đó. Tuy nhiên, cũng có không ít những trường hợp được quyết định hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt mà họ đã bị truy tố đó là:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">Theo quy định tại Điều 47 BLHS thì <strong><em>“Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”.</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">Để áp dụng một cách thống nhất và tránh việc áp dụng một cách tràn lan Điều 47 BLHS, NQ số 01/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn <strong><em>“…Cần hạn chế và phải hết sức chặt chẽ khi áp dụng các quy định tại Điều 47 BLHS năm 1999, trong trường hợp nếu không có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 47 BLHS năm 1999, thì bị cáo phải bị xử phạt ở mức cao của khung hình phạt…”</em></strong> và cũng theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01 nêu trên thì những quy định tại Điều 47 chỉ áp dụng đối với hình phạt chính mà không áp dụng đối với hình phạt bổ sung.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">Tại Công văn số 148/2002/KHXX ngày 30/9/2002 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 46 và 47 BLHS có ghi <strong><em>“theo tinh thần quy định tại Điều 47 BLHS, thì Tòa án chỉ có thể quyết định một hình phạt nhẹ hơn dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định từ khoản 1 Điều 46 BLHS. Như vậy, việc Tòa án nào hoặc Hội đồng xét xử nào quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định, khi bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS (cho dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46) là trái với quy định tại Điều 47 BLHS…”.</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><span id="more-3792"></span>Thực tiễn xét xử hiện nay, có không ít trường hợp áp dụng không đúng với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự, sai sót đó không chỉ ở các Thẩm phán mà còn cả Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa cũng đề nghị không đúng, như khi đề nghị mức hình phạt trong phần luận tội đề nghị mức hình phạt thấp hơn cả mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề và Thẩm phán cũng xét xử như đề nghị của Kiểm sát viên.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">Ví dụ: Bị cáo bị truy tố theo khoản 3 Điều 279 Bộ luật hình sự về tội nhận hối lộ có khung hình phạt từ mười lăm năm đến hai mươi năm. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Kiểm sát viên đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự để cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức khởi điểm của khung hình phạt, song lại đề nghị mức hình phạt từ 5 đến 6 năm. Trong khi tại khoản 2 của điều luật khung hình phạt là từ bảy năm đến mười lăm năm và Thẩm phán cũng xử như vậy là vi phạm. Vì trong trường hợp này, tối thiểu Hội đồng xét xử cũng phải tuyên phạt bị cáo bảy năm tù mới đúng với quy định tại Điều 47 Bộ luật  hình sự.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">Theo chúng tôi, việc điều luật quy định <strong><em>“khi ít nhất có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46”</em></strong> là quy định <strong><em>“quá cứng”</em></strong> khó cho việc áp dụng vì phạm vi áp dụng hẹp hơn nhiều so với quy định tại khoản 3 Điều 38 BLHS năm 1985 và hướng dẫn tại mục B phần II Nghị quyết số 01-89/HĐTP ngày 19/4/1989 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Việc quy định như vậy, tuy mang tính chặt chẽ, tránh bị vận dụng tùy tiện, không thống nhất, đồng thời hình phạt được quyết định phải trong phạm vi <strong><em>“khung liền kề nhẹ hơn”</em></strong> tức là, nếu từ khoản ba là hình phạt bị truy tố thì chỉ được giảm xuống mức hình phạt quy định tại khoản hai chứ không được áp dụng mức hình phạt quy định tại khoản một. Việc quy định như vậy là cần thiết. Song qua thực tiễn xét xử, chúng tôi thấy việc quy định như vậy cũng chưa bảo đảm nguyên tắc nguyên tắc cụ thể hóa hành vi và cá thể hóa hình phạt cũng như nguyên tắc công bằng trong Luật hình sự Việt Nam. trong nhiều vụ án đồng phạm, đông bị cáo, đặc biệt là các bị cáo phạm tội về ma túy mà cứ phải áp dụng đúng quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự thì rất khó cho việc cụ thể hóa hành vi, cá thể hóa hình phạt dẫn đến rất nhiều trường hợp <strong><em>“vượt rào”</em></strong> khi áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Vì nếu không <strong><em>“vượt rào” </em></strong>thì sẽ không bảo đảm nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"> Nhiều vụ án ma túy lớn có hàng chục bị cáo tham gia và đều bị truy tố theo điểm b khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự về tội <strong><em>“Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy”</em></strong>, song vai trò của họ trong vụ án lại khác nhau, có người  giữ vai trò chủ mưu, cầm đầu, có người thực hiện tội phạm tích cực, có người thực hiện tội phạm ít tích cực. Do đó, khi quyết định hình phạt chúng ta đều phải cụ thể hóa hành vi, cá thể hóa hình phạt. Có thể người chủ mưu cũng chỉ đáng xử với mức khởi điểm của khung hình phạt và đương nhiên những người có vai trò thứ yếu sẽ phải chịu mức án thấp hơn và ở dưới mức khởi điểm của khung hình phạt, vì không thể áp dụng tất cả các bị cáo mức hình phạt giống nhau được, có thể có nhiều bị cáo phải xử mức án dưới mức khởi điểm của khung hình phạt, mặc dù chưa chắc họ đã có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình phạt.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">Ví dụ: Ngày 25/5/2005, Hoàng Đình Đ, Nguyễn Thị H, Nguyễn Sỹ C, Nguyễn Văn V, Trần Thị K ở tại thị trấn GB, huyện GB, tỉnh BN đã có hành vi mua bán trái phép 190,4g Hêroin và bị bắt. Tất cả các bị cáo đều bị truy tố theo điểm b khoản 4 Điều 194 BLHS, với khung hình phạt từ hai mươi năm đến chung thân hoặc tử hình. Trong vụ án này Đ và V có vai trò chính, còn H (là vợ Đ), K (là vợ V), C (là chú H), có vai trò thứ yếu chỉ làm theo sự  chỉ dẫn của Đ và V. Căn cứ vào định lượng Hêroin mà các bị cáo mua bán, đối chiếu với hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 thì hai bị cáo Đ và V có vai trò chính trong vụ án có xử nghiêm cũng chỉ đến hai mươi năm tù (NQ số 01 hướng dẫn xử phạt hai mươi năm tù nếu Heerroin hoặc Cocain có trọng lượng từ 100 gam đến dưới 300gam), và đương nhiên các bị cáo còn lại sẽ phải chịu mức án thấp hơn Đ và V là dưới mức khởi điểm của khung hình phạt. Trong khi các bị cáo chỉ có tình tiết khai báo thành khẩn, nếu áp dụng đúng quy định tại Điều 47 và các văn bản hướng dẫn nêu trên thì không thể xử các bị cáo thấp hơn mức khởi điểm của khung hình phạt được vì trái với quy định tại Điều 47! Không có lẽ tuyên phạt tất cả các bị cáo đều hai mươi năm bất kể mức độ họ phạm tội có giống nhau hay không, đây chính là những bất cập và vướng mắc từ chính quy định quá cứng của Điều 47 BLHS.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">  Theo chúng tôi, để tháo gỡ những bất cập này,  khi áp dụng  Điều 47 Bộ luật hình sự, các Thẩm phán cũng cần chú ý là:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">Tại khoản 1 Điều 46 quy định các tình tiết giảm nhẹ từ điểm a đến điểm s, nhưng không phải mỗi điểm chỉ quy định một tình tiết giảm nhẹ. Mặc dù chưa có hướng dẫn chính thức, nhưng qua các Hội nghị tổng kết và tập huấn cùng với cấu trúc ngữ pháp của tiếng Việt, theo chúng tôi có những điểm quy định tại khoản 1 Điều 46 chứa đựng nhiều hình thức giảm nhẹ khác nhau. Ví dụ: như điểm a, b, i, p, q, s. Tại các điểm này đều có các tình tiết khác nhau và được tách rời bởi dấu phảy. Như điểm p có hai tình tiết là thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, hay như điểm s có thể hiểu và áp dụng là: Người phạm tội có thành tích xuất sắc trong sản xuất; Người phạm tội có thành tích xuất sắc trong chiến đấu; người phạm tội lập thành tích xuất sắc trong học tập; trong công tác…</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">Do vậy, khi xác định các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật tố tụng hình sự để áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử phải nêu rõ bị cáo có tình tiết giảm nhẹ nào chứ không nên nêu chung chung quy định trong điều luật. Nếu bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì cần phải nêu và phân tích tất cả các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">Ví dụ: khi nêu bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 46 cần nêu rõ như <strong><em>“người phạm tội là người đã có thành tích xuất sắc trong công tác đã được tặng thưởng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ”; “người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong chiến đấu đã được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba”</em></strong> hoặc quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 <strong><em>“người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”</em></strong>, thì cần hiểu đây là hai tình tiết giảm nhẹ, bởi lẽ có những trường hợp người phạm tội thành khẩn khai báo những lại không thể hiện sự ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội mà mình gây ra. Ví dụ: Nguyễn Văn B phạm tội <strong><em>“giết người”,</em></strong> trước Cơ quan điều tra B đã khai nhận rõ về hành vi phạm tội của mình, song B không hề ăn năn với hành vi phạm tội của mình mà còn có thái độ thách thức, không chịu bồi thường cho gia đình người bị hại, mặc dù B có thừa khả năng để bồi thường. Theo chúng tôi, về vấn đề này cũng cần phải có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS.<strong><em>  </em></strong>Có như vậy, việc áp dụng các quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự mới chính xác và thống nhất.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">Một vấn đề nữa để việc áp dụng các quy định tại Điều 47 một cách thống nhất, Bộ luật hình sự cũng cần sửa đổi cho phù hợp theo hướng <strong><em>“khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng thì Tòa án có thể áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự”,</em></strong> chứ không nhất thiết phải quy định cứng nhắc là tại khoản 1 Điều 46. Đồng thời nên liệt kê thêm một số tình tiết giảm nhẹ mà từ trước tới nay chúng ta vẫn đưa vào khoản 2 Điều 46 như:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">- Người phạm tội đầu thú;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">- Người phạm tội là con em gia đình Thương binh, Liệt sỹ;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">- Khi có đơn của gia đình bị hại xin cho người phạm tội…</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">Qua nghiên cứu quy định của Bộ luật hình sự về phần các tội phạm cụ thể, chúng tôi thấy, có một số quy định còn chưa phù hợp, dẫn đến khi chúng ta áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự sẽ gặp những vướng mắc nhưng vẫn không có hướng dẫn nào để tháo gỡ. Theo cấu trúc của Bộ luật hình sự năm 1999 thì đa phần các điều luật quy định  về các tội phạm cụ thể đều có các khung hình phạt khác nhau theo thứ tự từ 1 đến 2, 3 hoặc 4 theo trình tự mức hình phạt từ nhẹ đến nặng. Một số ít điều luật lại quy định khung hình phạt nặng nhất là khung 1 sau đó mới đến các khung có mức án nhẹ hơn như quy định tại các Điều về xâm phạm an ninh quốc gia (từ Điều 78 đến 92), tội giết người (Điều 93). Theo cấu trúc này, chúng ta có thể hiểu khung liền kề nhẹ hơn của khoản bốn sẽ là khoản ba, của khoản ba sẽ là khoản hai và tiếp theo… Song  quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 tại Điều 112 tội <strong>“hiếp dâm trẻ em”</strong> và Điều 227 tội <strong><em>“vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người”,</em></strong> Bộ luật hình sự lại có sự quy định khác về cấu trúc các khung hình phạt dẫn đến việc áp dụng Điều 47 sẽ gặp những vướng mắc cụ thể tại hai Điều luật này quy định như sau:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">Điều 112. Tội <strong><em>“Hiếp dâm trẻ em”.</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">“<strong><em>1. Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>a/ Có tính chất loạn luân;</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>b/ Làm nạn nhân có thai;</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>c/ Gây tốn hại cho sưc khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>d/ Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>đ/ Tái phạm nguy hiểm.</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>a/ Có tổ chức;</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>b/ Nhiều người hiếp một người;</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>c/ Phạm tội nhiều lần;</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>d/ Đối với nhiều người;</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>đ/ Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>e/ Biết mình bị nhiểm HIV mà vẫn phạm tội;</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>g/ Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>4. Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm những công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">Theo quy định tại Điều 112 thì khung hình phạt liền kề của khoản bốn là khoản ba, khung hình phạt liền kề của khoản ba là khoản hai, khung hình phạt liền kề của khoản hai là khoản một. Song quy định tại Điều 112 thì khung hình phạt quy định tại khoản 4 của điều luật, mức hình phạt khởi điểm lại thấp hơn mức hình phạt khởi điểm quy định tại khoản 3 (mười hai năm so với hai mươi năm) và bằng với mức hình phạt khởi điểm quy định tại khoản 2 của điều này cùng là 12 năm tù. Vì vậy, trong trương hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xứng đáng được áp dụng các quy định của Điều 47 thì việc xác định mức án trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn là rất khó khăn. Vì nếu áp dụng khung hình phạt liền kề tại khoản ba thì mức khởi điểm lại cao hơn khoản 4, nếu áp dụng theo mức hình phạt khởi điểm tại khoản 2 thì lại có mức hình phạt khởi điểm bằng nhau và như vậy việc áp dụng các quy định tại Điều 47 lại chẳng có ý nghĩa gì. Còn nếu coi khoản 1 là khung hình phạt liền kề nhẹ hơn để áp dụng thì lại không đúng quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">Tương tự như vậy, tại Điều 227 tội <strong><em>“Vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người”</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>“1. Người nào vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>a/ Là người có trách nhiệm về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người;</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>b/ Gây hậu quả rất nghiêm trọng;</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười hai năm;</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>4. Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;"><strong><em>5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.</em></strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">Nếu quy định như vậy, thì thực tế sẽ xảy ra trường hợp một người nào đó phạm tội và bị xét xử theo khoản 4 của điều luật này sẽ không có cơ hội được áp dụng các quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự. Bởi lẽ mức hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 227 Bộ luật hình sự lại thấp hơn cả mức hình phạt quy định tại khoản 1 điều này (sáu tháng đến ba năm và sáu tháng đến năm năm). Đây chính là những bất cập qua thực tiễn xét xử áp dụng các quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 1999.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Arial;font-size:small;">Để khắc phục những vướng mắc như đã nêu và để việc áp dụng các quy định tại Điều 47 có ý nghĩa trong việc mở lượng khoan hồng với những người có nhiều tình tiết giảm nhẹ, cần phải sửa lại quy định tại Điều 112 theo hướng bỏ quy định tại khoản bốn của điều luật mà bổ sung thêm thành một tình tiết định khung tại khoản ba của điều luật là <strong><em>“ Giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi”</em></strong>. Đối với Điều 227 tội <strong><em>“Vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người”.</em></strong> theo hướng giảm mức hình phạt tại khoản một và tăng mức hình phạt tại khoản bốn.</span></p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:right;"><strong><em>TS. Phạm Minh Tuyên &#8211; PCA.TAND tỉnh Bắc Ninh</em></strong></p>
<p style="text-align:right;"><strong><em>Theo: Cổng thông tin điện tử TANDTC (http: toaan.gov.vn)</em></strong></p>
<br />Filed under: <a href='http://luathinhsu.wordpress.com/category/lu%e1%ba%adt-hinh-s%e1%bb%b1/'>Luật Hình Sự</a>  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/luathinhsu.wordpress.com/3792/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/luathinhsu.wordpress.com/3792/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/luathinhsu.wordpress.com/3792/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/luathinhsu.wordpress.com/3792/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/luathinhsu.wordpress.com/3792/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/luathinhsu.wordpress.com/3792/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/luathinhsu.wordpress.com/3792/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/luathinhsu.wordpress.com/3792/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/luathinhsu.wordpress.com/3792/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/luathinhsu.wordpress.com/3792/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/luathinhsu.wordpress.com/3792/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/luathinhsu.wordpress.com/3792/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/luathinhsu.wordpress.com/3792/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/luathinhsu.wordpress.com/3792/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&#038;blog=9224016&#038;post=3792&#038;subd=luathinhsu&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/09/ve-van-de-ap-dung-dieu-47-bo-luat-hinh-su-khi-quyet-dinh-hinh-phat-tu-doi-voi-nguoi-pham-toi-mot-so-vuong-mac-va-kien-nghi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/ced4978d5e994e9a06bccb29b1a4230e?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">luathinhsu</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Một số vấn đề áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự khi quyết định hình phạt tù đối với người phạm tội</title>
		<link>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/08/mot-so-van-de-ap-dung-dieu-47-bo-luat-hinh-su-khi-quyet-dinh-hinh-phat-tu-doi-voi-nguoi-pham-toi/</link>
		<comments>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/08/mot-so-van-de-ap-dung-dieu-47-bo-luat-hinh-su-khi-quyet-dinh-hinh-phat-tu-doi-voi-nguoi-pham-toi/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 08 May 2012 05:55:16 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Luật Hình Sự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Luật Hình Sự]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://luathinhsu.wordpress.com/?p=3790</guid>
		<description><![CDATA[Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự thì: “Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&#038;blog=9224016&#038;post=3790&#038;subd=luathinhsu&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự thì: “<em>Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án</em>”. Thực tiễn áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự gần 10 năm qua cho thấy, nói chung các Toà án đã áp dụng đúng nội Điều 47 Bộ luật hình sự và các hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao, khắc phục được tình trạng quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của của khung hình phạt một cách tuỳ tiện. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự cũng nẩy sinh một số vấn đề vướng mắc; một số Thẩm phán hiểu không đầy đủ các quy định của Điều 47 Bộ luật hình sự và sự liên quan giữa Điều 47 với các điều luật khác quy định trong Bộ luật hình sự như: áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội; áp dụng hình phạt đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, nên khi gặp các trường hợp này, các Thẩm phán đã lúng túng không biết áp dụng như thế nào. Một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành cũng đã đề cập đến việc áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự với các quan điểm khác nhau. Để góp phần vào việc áp dụng thống nhất pháp luật mà cụ thể là việc áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, chúng tôi xin trao đổi một số vấn đề sau:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Trước hết cần tìm hiểu hoàn cảnh ra đời, sự cần thiết của việc nhà làm luật quy định Điều 47 trong Bộ luật hình sự, đồng thời phải hiểu rõ nội dung của Điều 47 và mối liên quan giữa Điều 47 với các điều luật khác trong Bộ luật hình sự, thì việc áp dụng Điều 47 mới báo đảm đúng tinh thần của nhà làm luật.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Như chúng ta đã biết, Bộ luật hình sự năm 1985 cũng quy định trường hợp quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất (khoản 3 Điều 38). Tuy nhiên, nội dung của khoản 3 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định: &#8220;<em>khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà Điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn&#8221;</em>, mà chưa quy định cụ thể, rõ ràng như Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999, nên thực tiễn xét xử, nhiều Toà án áp dụng khoản 3 Điều 38 không đúng với tinh thần của nhà làm luật; có nhiều trường hợp không nêu được tình tiết giảm nhẹ nhưng vẫn áp dụng khoản 3 Điều 38; có trường hợp Toà án chỉ nhận định một cách chung chung, rồi áp dụng khoản 3 Điều 38 Bộ luật hình sự để xử phạt người bị kết án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, thậm chí có trường hợp điều luật có 4 khung hình phạt nhưng Toà án đã chuyển từ khung hình phạt nặng nhất có mức hình phạt chung thân hoặc tử hình (khoản 4) xuống khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật có mức hình phạt từ 1 năm đến 3 năm (khoản 1). Để khắc phục tình trạng trên, Bộ luật hình sự năm 1999 dành riêng một điều (Điều 47) quy định trường hợp quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự, đồng thời cũng quy định những điều kiện khi quyết định hình phạt hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự, những điều kiện đó là: </span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;"><span id="more-3790"></span>- Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Diều 46 Bộ luật hình sự, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định. Khung hình phạt mà điều luật đã quy định là khung hình phạt mà Toà án áp dụng đối với bị cáo, chứ không phải là khung hình phạt bất kỳ. Ví dụ: Phạm Hồng S bị kết án về tội trộm cắp tài sản theo khoản 3 Điều 138 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ bảy năm đến mười lăm năm tù. Nhưng bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ giá trị tài sản đã trộm cắp cho người bị hại; thành khẩn khai báo; tích cực giúp đỡ cơ quan điều tra phát hiện những đồng phạm khác. Như vậy, bị cáo S có 3 tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, p và q khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Toà án đã áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt Phạm Hồng S năm năm tù là mức hình phạt quy định tại khoản 2 của điều luật (từ hai năm đến bảy năm).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Điều luật quy định “khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46”. Đây là quy định “<strong>cứng</strong>” buộc Toà án phải xác định người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự và được Hội đồng xét xử xác định cụ thể và ghi rõ trong bản án thì mới được áp dụng Điều 47. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự quy định các tình tiết giảm nhẹ từ điểm a đến điểm s, nhưng không phải mỗi điểm chỉ quy định một tình tiết giảm nhẹ mà có điểm quy định hai, ba hoặc bốn tình tiết giảm nhẹ. Ví dụ: điểm s khoản 1 Điều 46 quy định 4 tình tiết giảm nhẹ, đó là: người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất; người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong chiến đấu; người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong học tập và người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong công tác. Do đó, khi xác định tình tiết giảm nhẹ trong trường hợp một điểm của khoản 1 Điều 46 quy định nhiều tình tiết giảm nhẹ thì phải nêu rõ bị cáo có tình tiết giảm nhẹ nào chứ không nếu chung chung như điều luật liệt kê; nếu bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định trong cùng một điểm thì cũng phải nêu rõ trong bản án. Ví dụ: bị cáo có <strong>hai </strong>tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, đó là: “người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất (đã được tặng Huân chương lao động hạng ba) và “người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong chiến đấu” (đã được tặng Huân chương chiến công hạng ba).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Thực tiễn xét xử còn có nhiều trường hợp, các Toà án buộc phải “xé rào” áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt trong khi bị cáo không có từ 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, thậm chí áp dụng mức hình phạt dưới cả mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn. Tình trạng “xé rào” này không cỉ có Toà án mà đối với cả Kiểm sát viên tham gia phiên toà, trong lời luận tội cũng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt rất thấp và được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tình trạng “xé rào” này lại phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, vai trò của bị cáo trong vụ án có đồng phạm và được dư luận đồng tình. Trong các hội nghị sơ kết cũng như tổng kết công tác xét xử hoặc trong các cuộc hội thảo khoa học về việc sử dụng Bộ luật hình sự đã có nhiều đại biểu cho rằng, quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự là quá chặt chẽ, không phù hợp với một số trường hợp và đề nghị sửa đổi, bổ sung theo hướng: <strong><em>“khi có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng thì Toà án có thể áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự”</em></strong> chứ không nhất thiết phải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Chúng tôi cũng chia sẻ với ý ý kiến này, nhưng vì điều luật đã quy định nên không thể hướng dẫn được mà phải sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, nếu sửa đổi, bổ sung thì chúng tôi lại đề nghị bổ sung thêm một số tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự mà Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã hướng vào khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự và giữ nguyên quy định “cứng” tại Điều 47 Bộ luật hình sự.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Mặc dù không có quy định hoặc hướng dẫn nào khi áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phải lấy tình tiết giảm nhẹ “<strong>trừ đi”</strong> tình tiết tăng nặng, nếu còn 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên mới được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, nghiên cứu căn cứ quyết định hình phạt được quy định tại Điều 45 Bộ luật hình sự thì “<em>khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, </em><strong>các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự</strong>”. Toà án áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự cũng là việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội nên không thể không căn cứ vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, theo chúng tôi, nếu người phạm tội có cả tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ thì lấy số lượng tình tiết giảm nhẹ trừ đi số lượng tình tiết tăng nặng mà còn từ 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên thì hãy nghĩ đến việc áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Quan điểm này cũng phù hợp với quy định của Điều 47 Bộ luật hình sự là chỉ <strong><em>“</em>có thể</strong><em> quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà Điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn<strong>”</strong></em> chứ không nhất thiết (bắt buộc) phải</span><em><span style="font-size:small;"> quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà Điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.</span></em></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">- Hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định phải là hình phạt nằm trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật. Ví dụ: Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự là khung hình phạt liền kề nhẹ hơn khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự là khung hình phạt liền kề nhẹ hơn khoản 3 Điều 138 Bộ luật hình sự và khoản 3 Điều 138 Bộ luật hình sự là khung hình phạt liền kề nhẹ hơn khoản 4 Điều 138 Bộ luật hình sự. Trong trường hợp đối với Phạm Hồng S nêu ở trên, hình phạt năm năm tù là hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 138 Bộ luật hình sự, nhưng là hình phạt nằm trong khoản 2 Điều 137 Bộ luật hình sự là khung hình phạt liền kề nhẹ hơn khung hình phạt tại khoản 3 Điều 137 Bộ luật hình sự.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">- Nếu khung hình phạt mà Toà án áp dụng đối với bị cáo là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Ví dụ: Lê Thị Tuyết N bị kết án về tội &#8220;chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý&#8221; thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 198 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm tù và là khung hình phạt nhẹ nhất của Điều 198 Bộ luật hình sự, nhưng sau khi phạm tội N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; N là phụ nữ có thai; là người có thành tích xuất sắc trong chiến đấu được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba, nên Toà án áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt N một năm tù là hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo khoản 1 Điều 198 Bộ luật hình sự.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">- Nếu điều luật mà Toà án áp dụng đối với bị cáo chỉ có một khung hình phạt, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Ví dụ: Bùi Văn T bị kết án về tội &#8220;loạn luân&#8221; quy định tại Điều 150 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ sáu tháng đến năm năm tù và là điều luật chỉ có một khung hình phạt, nhưng Bùi Văn T là người có bệnh hạn chế khả năng nhận thức hành vi của mình do bị thương vào đầu trong chiến đấu ở chiến trường B; Bùi Văn T là thương binh hạng 3/4, trong chiến đấu T được tặng Huân chương chiến công hạng hai, Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng hai. Như vậy, Bùi Văn T phạm tội có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n và điểm s khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, nên Toà án đã áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, không áp dụng hình phạt tù đối với Bùi Văn T mà chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ và phạt Bùi Văn T một năm cải tạo không giam giữ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Phạm vi áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự là đối với tất cả các bị cáo không phân biệt bị cáo là người <strong>đã</strong>thành niên (từ đủ 18 tuổi) hay bị cáo là người <strong>chưa</strong> thành niên (từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi); bị cáo thực hiện tội phạm ở giai đoạn nào (chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hay tội phạm đã hoàn thành). Tuy nhiên, khi áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự cần xem xét đến mối liên hệ giữa Điều 47 với các điều luật khác quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự như: quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội (Điều 74); quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (Điều 52).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="font-size:small;">Đối với người chưa thành niên phạm tội.</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, ngoài các quy định của Bộ luật hình sự đối với người đã thành niên phạm tội, thì Toà án còn phải áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Chương X (từ Điều 68 đến Điều 77). Trường hợp áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự đối với người chưa thành niên cũng như đối với người đã thành niên, phải đảm bảo các điều kiện mà Điều 47 đã quy định. Khi xác định mức hình phạt tù cụ thể đối với người chưa thành niên phạm tội, <strong><em>Toà án xác định mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội như đối với trường hợp người phạm tội là người đã thành niên</em></strong><a title="" href="http://toaan.gov.vn/portal/pls/portal/#_ftn1">10</a>, tức là yếu tố “chưa thành niên” của bị cáo <strong>tạm thời</strong>chưa xem xét đến. Ví dụ: Nguyễn Văn A 17 tuổi 3 tháng 20 ngày, phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 3 Điều 138 Bộ luật hình sự. A có 4 tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b,i p và q khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng. A được Toà án áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, tức là A được áp dụng hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự (từ hai năm đến bảy năm tù). Giả thiết, nêu A là người đã thành niên thì Toà án sẽ phạt 2 năm tù, nhưng A là người chưa thành niên ở độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nên theo quy định tại Điều 74 Bộ luật hình sự thì mức hình phạt của A chỉ bằng 3/4 mức hình phạt đối với người đã thành niên. Do đó mức hình phạt thực tế mà Toà án áp dụng đối với Nguyễn Văn A trường hợp cụ thể này là 1 năm 6 tháng tù (2&#215;3:4). Nếu chỉ căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự thì hình phạt 1 năm 6 tháng tù mà Toà án quyết định đối với Nguyễn Văn A là không đúng quy định của Điều 47 (dưới 2 năm tù-mức thấp nhất của khung hình phạt nhẹ hơn liền kề), nhưng vì A là người chưa thành niên nên mức hình phạt này không vi phạm Điều 47 Bộ luật hình sự. Trong trường hợp này, Toà án vẫn phải áp dụng cả Điều 47 và Điều 74 Bộ luật hình sự mới đầy đủ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Thực tiễn xét xử do không nắm chắc quy định của Điều 47 Bộ luật hình sự và các điều luật có liên quan nên đã có trường hợp Toà án quyết định hình phạt đối với bị cáo là người chưa thành niên dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn, bị Viện kiểm sát kháng nghị. Khi xét xử phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm đã chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát vì cho rằng Toà án đã vi phạm Điều 47 Bộ luật hình sự. Việc kháng nghị của Viện kiểm sát và việc chấp nhận kháng nghị như vậy rõ ràng là chưa nắm chắc các quy định của Bộ luật hình sự về quyết định hình phạt nói chung và việc áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự nói riêng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội không được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự nhưng Toà án vẫn có thể áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, nếu họ có đủ các điều kiện quy định tại Điều 74 Bộ luật hình sự. Ví dụ: Bùi Huy T 15 tuổi 8 tháng, phạm tội cướp tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ bảy năm đến mười lăm năm tù. T chỉ có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Giả thiết Bùi Huy T là người đã thành niên thì mức hình phạt mà Toà án quyết định đối với T là 10 năm, nhưng vì T mới 15 tuổi 8 tháng, nên theo quy định tại Điều 74 Bộ luật hình sự thì T chỉ bị phạt 5 năm tù (1/2 mức hình phạt mà người đã thành niên phải chịu). Mặc dù T không được áp dụng Điều 47 nhưng không vì thế mà cho rằng Toà án vi phạm Điều 47 Bộ luật hình sự.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="font-size:small;">Đối với người phạm tội ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt.</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự thì, đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định là hình phạt tù có thời hạn thì mức hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội là không quá một phần hai (1/2) mức phạt tù mà điều luật quy định, còn đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư (3/4)  mức phạt tù mà điều luật quy định.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Như vậy, việc quyết định hình phạt tù đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt cũng là trường hợp đặc biệt như trường hợp quyết định hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội. Qua công tác giám đốc việc xét xử, chúng tôi thấy rất ít các bản án áp dụng Điều 52 Bộ luật hình sự trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Nhân đây, chúng tôi thiết nghĩ cũng cần phải nêu lại một số vấn đề về lý luận và thực tiễn về trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt để tham khảo, trước khi nói về việc áp dụng Điều 52 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt tù đối với người phạm tội.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><em><span style="font-size:small;">Về chuẩn bị phạm tội</span></em></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Theo Điều 17 Bộ luật hình sự thì, chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm. Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng phải chịu trách nhiệm hình sự.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Chuẩn bị phạm tội là một giai đoạn trong quá trình thực hiện tội phạm, nhưng ở giai đoạn này người phạm tội chưa thực hiện hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm, tức là chưa có hành vi xâm phạm đến đối tượng tác động. Ví dụ: A chuẩn bị kìm cộng lực, vam phá khoá định đến nhà H cắt phá khoá trộm cắp tài sản của gia đình H, nhưng bị em của A phát hiện nên A không thực hiện được hành vi trộm cắp tại nhà H.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><em><span style="font-size:small;">Hành vi chuẩn bị phạm tội thường được thể hiện dưới các dạng như sau:</span></em></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">- Chuẩn bị kế hoạch tội phạm như: bàn bạc, phân công trách nhiệm cho từng người, kế hoạch tiêu thụ tài sản hay kế hoạch che giấu tội phạm&#8230; Dạng chuẩn bị phạm tội này thương xảy ra đối với những tội phạm được thực hiện có đồng phạm hoặc có tổ chức. Tuy nhiên cũng có trường hợp tội phạm chỉ do một người thực hiện vẫn có sự chuẩn bị kế hoạch tội phạm. Ví dụ: A có ý định đầu độc B, tự A đã vạch ra một kế hoạch như mua thuốc độc ở đâu, bỏ thuốc độc vào nước cho B uống như thế nào, sau khi B bị trúng độc thì làm thế nào để che giấu được tội phạm v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">- Thăm dò hoặc tìm địa điểm phạm tội, dạng chuẩn bị này chủ yếu đối với các tội xâm phạm sở hữu hoặc xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm của công dân. Ví dụ: A muốn trộm cắp nhà B, nên A đã nhiều lần đến nhà B thăm dò xem gia định B thường vắng nhà vào giờ nào, quy luật sịnh hoạt của gia định B ra sao để tiến hành trộm cắp.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">- Chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội như: Chuẩn bị xe máy để đi cướp giật, chuẩn bị dao để giết người, chuẩn bị thuốc nổ để hủi hoại tài sản, chuẩn bị xăng để đốt nhà, chuẩn thuốc mê để làm cho người có tài sản uống nhằm chiếm đoạt tài sản của họ, chuẩn bị giấy tờ giả mạo để lừa đảo.v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">- Loại trừ trước những trở ngại khách quan để thực hiện tội phạm được thuận lợi dễ dàng như: Ngắt cầu giao điện để đêm đột nhập vào kho trộm tài sản, cho các con đi nghỉ mát để ở nhà giết vợ được dễ dàng v.v&#8230;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Như vậy, chuẩn bị phạm tội là hành vi tạo ra tiền đề (điều kiện) cần thiết cho việc thực hiện tội phạm. Hành vi chuẩn bị phạm tội có một ý nghĩa rất quan trọng đến kết quả của việc thực hiện tội phạm, chuẩn bị càng chu đáo công phu bao nhiêu thì kết quả của việc thực hiện tội phạm càng đạt kết quả bấy nhiêu. Tuy nhiên, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội được Nhà nước đánh giá và phân biệt thành hai loại: Loại hành vi chuẩn bị phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự và loại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mặc dù cả hai loại đều chưa gây ra hậu quả, nhưng tính chất nguy hiểm của hành vi chuẩn bị phạm tội có khác nhau và sự khác nhau đó lại không phụ thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi chuẩn bị mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất nghiêm trọng của tội phạm mà người đó định thực hiện.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Luật hình sự nước ta chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội mà tội phạm đó là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Nếu theo quy định này thì người chuẩn bị phạm tội do vô ý vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, về lý luận thì chỉ có tội phạm được thực hiện do cố ý (cố ý tực tiếp) thì mới có giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Do đó sẽ không có hành vi chuẩn bị phạm tội mà tội phạm đó được thực hiện do vô ý.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Theo quy định của Bộ luật hình sự, thì có tội phạm quy định trong một điều luật chỉ là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng, nên vấn đề trách nhiệm hình sự của người có hành vi chuẩn bị phạm tội không có gì khó khăn. Tuy nhiên, trong nhiều điều luật của Bộ luật hình sự nhà làm luật quy định có cả tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biẹt nghiêm trọng thì việc loại trừ trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội trong một số trường hợp khó xác định. Ví dụ: Một người chuẩn bị phạm tội trộm cắp tài, vì chưa thực hiên hành vi tội phạm nên chưa biết hậu quả do hành vi tội phạm xảy ra như thế nào, tài sản mà người phạm tội chiếm đoạt có giá trị lớn hay không để xác định họ tội phạm theo khoản 1, khoản 2, khoản 3 hay khoản 4 của Điều 138 Bộ luật hình sự. Nếu trong quá trình điều tra, người phạm tội nhận sẽ trộm cắp tài sản có giá trị lớn như xe ô-tô thì có thể tính ra được tài sản đó có giá trị lớn để xác định họ tội phạm theo khoản 3 hoặc khoản 4 của Điều 138, nhưng nếu người phạm tội chỉ nhận: gặp gì cũng lấy hoặc không chứng minh được người phạm tội định lâý tài sản có giá trị lớn thì theo nguyên tắc suy đoán có lợi cho người phạm tội họ được loại trừ trách nhiệm hình sự nếu như họ chỉ mới chuẩn bị phạm tội. Tương tự như vậy đối với tội cố ý gây thương tích, nếu người phạm tội không khẳng định mục đích của mình là gây thương tích rât nặng (có tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên cho người bị hại hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự), hoặc không chứng minh là họ có mục đích gây thương tích rất nặng cho người bị hại, thì họ cũng đươc loại trừ trách nhiệm hình sự nếu họ mới chuẩn bị phạm tội.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><em><span style="font-size:small;">Về phạm tội chưa đạt</span></em></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Chỉ có các tội được thực hiện do cố ý thì mới có phạm tội chưa đạt. Điều luật không quy định hình thức cố ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp, nhưng căn cứ vào điều văn của điều luật quy định &#8220;<em>không thực hiện được đến cùng</em>&#8220;, tức là người phạm tội có mục đích thực hiện tội phạm đến cùng, nên họ mong muốn cho hậu quả xảy ra chứ không phải để mặc cho hậu quả xảy ra. Do đó, phạm tội chưa đạt chỉ có thẻ xảy ra đối với trường hợp cố ý trực tiếp.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Khoa học pháp lý chia phạm tội chưa đạt thành hai loại: chưa đạt đã hoàn thành và chưa đạt chưa hoàn thành.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><em><span style="font-size:small;">Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành</span></em><span style="font-size:small;"> là người phạm tội đã thực hiện đầy đủ những hành vi mà họ cho là cần thiết để gây ra hậu quả, nhưng vì nguyên nhân khách quan, hậu quả đó đã không xảy ra (chưa đạt về hậu quả, hoàn thành về hành vi). Ví dụ: Một người có ý định giết người khác, đã dùng súng bắn ba phát vào nạn nhân và tin là nạn nhân đã chết nên bỏ đi, nhưng sau đó nạn nhân được cứu chữa nên không chết. Ở đây, người phạm tội đã hành động như ý muốn và tin là hậu quả sẽ xảy ra nhưng lại không xảy ra. Trường hợp này người phạm tội dừng lại mặc dù không còn gì ngăn cản nhưng cũng không được coi là tự nguyện nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm, vì người phạm tội đã thoả mãn với hành vi nhưng chưa thoả mãn về hậu quả.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><em><span style="font-size:small;"> Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành</span></em><span style="font-size:small;"> là trường hợp người phạm tội vì nguyên nhân khách quan, chưa thực hiện hết các hành vi mà họ cho là cần thiết để gây ra hậu quả nên hậu quả không xảy ra (chưa đạt về hậu quả, chưa hoàn thành về hành vi). Ví dụ: một người có ý định dùng dao găm đâm nhiều nhát vào một người để tước đoạt tính mạng người đó, nhưng mới đâm được một nhát thì bị người khác giữ tay lại, không đâm tiếp được nữa, và nạn nhân không chết chỉ bị thương. Trường hợp này người phạm tội chưa đâm được như ý muốn, chưa tin vào hậu quả xảy ra và hậu quả cũng không xảy ra.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Trở lại vấn đề áp dụng Điều 52 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, cần chú ý: Cũng như đối với Điều 47 Bộ luật hình sự, việc áp dụng Điều 52 Bộ luật hình sự không chỉ đối với người đã thành niên phạm tội mà đối với cả người chưa thành niên phạm tội. Tuy nhiên, việc áp dụng Điều 52 Bộ luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội Toà án còn phải chú ý đến các quy định tại tại Chương X (từ Điều 68 đến Điều 77) Bộ luật hình sự.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội thuộc cả ba trường hợp quy định tại các Điều 47, 52 và 74 Bộ luật hình sự phức tạp hơn so với trường hợp chỉ thuộc một hoặc hai trường hợp quy định tại các Điều 47, 52 và 74 Bộ luật hình sự.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Về nguyên tắc, nếu một người phạm tội thuộc cả ba trường hợp quy định tại các Điều 47, 52 và 74 Bộ luật hình sự thì khi quyết định hình phạt Toà án phải xác định từng trường hợp sau đó mới quyết định một mức hình phạt cụ thể. Hình phạt cụ thể này có thể dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, và nếu một người hội tụ đủ cả ba trường hợp quy định tại các Điều 47, 52 và 74 Bộ luật hình sự thì hình phạt tù của họ thấp hơn so với người chỉ thuộc một hoặc hai trường hợp. Ví dụ: Vũ Tuấn Đ 17 tuổi 6 tháng phạm tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 138 Bộ luật hình sự nhưng ở giai đoạn chưa đạt (chưa lấy được tài sản); Đ có 3 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Giả thiết Toà án áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự đối với Đ thì trước hết, Toà án coi Đ là người đã thành niên phạm tội để xác định mức hình phạt cụ thể dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (Ví dụ: là 4 năm); sau đó căn cứ Điều 74 để xác định mức hình phạt “<strong>thật</strong>” là 3 năm (4&#215;3:4=3) và cuối cùng là căn cứ vào Điều 52 Bộ luật hình sự để xác định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt là 2 năm 3 tháng (3&#215;3:4=2,25).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Nếu người phạm tội chỉ thuộc trường hợp quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự, Toà án không áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, mà hình phạt đó dưới mức thấp nhất của khung hình phạt vẫn không bị coi là vi phạm. Trường hợp này cũng tương tự như trường hợp quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nhưng không được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Như vậy, theo quy định của Bộ luật hình sự thì có hai trường hợp Toà án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng không áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự vẫn không bị coi là vi phạm, đó là trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt hoặc đối với người chưa thành niên phạm tội.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-size:small;">Tuy nhiên, về lý luận, có vấn đề cần trao đổi, vì việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội trong trường hợp thuộc cả ba trường hợp quy định tại các Điều 47, 52 và 74 Bộ luật hình sự chưa được hướng dẫn, trong khi đó tại các Điều 52 và 74 Bộ luật hình sự chỉ quy định không quá một phần hai (1/2) hoặc không quá ba phần tư (3/4) mức hình phạt “<strong>mà điều luật quy định</strong>”, nếu hiểu một cách máy móc thì dù người phạm tội có thuộc cả ba trường hợp quy định tại các Điều 47, 52 và 74 Bộ luật hình sự thì mức hình phạt cũng không thấp hơn người phạm tội chỉ thuộc một trong các trường hợp quy định tại các Điều 47, 52 và 74 Bộ luật hình sự. Trường hợp đối với Vũ Tuấn Đ trong ví dụ nêu trên, nếu muốn xác định mức hình phạt cụ thể như vậy, thì Điều 52 phải quy định không quá một phần hai (1/2) hoặc không quá ba phần tư (3/4) mức hình phạt “<strong>mà người phạm tội đã hoàn thành phải chịu</strong>”, còn Điều 74 phải quy định không quá một phần hai (1/2) hoặc không quá ba phần tư (3/4) mức hình phạt “<strong>mà người đã thành niên phải chịu</strong>”. Có thể điều văn của điều luật chưa rõ ràng, nhưng theo chúng tôi thì một người phạm tội thuộc cả ba trường hợp quy định tại các Điều 47, 52 và 74 Bộ luật hình sự, mức hình phạt phải thấp hơn người phạm tội chỉ thuộc một hoặc hai trường hợp trên, có như vậy thì mới bảo đảm nguyên tắc công bằng. Chúng tôi hy vọng các cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn áp dụng các các Điều 47, 52 và 74 Bộ luật hình sự, còn về lâu dài khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999 nhà làm luật sẽ quy định lại cho phù hợp hơn.</span></p>
<p style="text-align:justify;">
<p style="text-align:right;"><strong><em>ThS. Đinh Văn Quế</em></strong></p>
<p style="text-align:right;"><strong><em>Theo: Cổng thông tin điện tử TANDTC (http: toaan.gov.vn)</em></strong></p>
<br />Filed under: <a href='http://luathinhsu.wordpress.com/category/lu%e1%ba%adt-hinh-s%e1%bb%b1/'>Luật Hình Sự</a>  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/luathinhsu.wordpress.com/3790/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/luathinhsu.wordpress.com/3790/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/luathinhsu.wordpress.com/3790/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/luathinhsu.wordpress.com/3790/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/luathinhsu.wordpress.com/3790/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/luathinhsu.wordpress.com/3790/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/luathinhsu.wordpress.com/3790/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/luathinhsu.wordpress.com/3790/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/luathinhsu.wordpress.com/3790/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/luathinhsu.wordpress.com/3790/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/luathinhsu.wordpress.com/3790/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/luathinhsu.wordpress.com/3790/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/luathinhsu.wordpress.com/3790/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/luathinhsu.wordpress.com/3790/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&#038;blog=9224016&#038;post=3790&#038;subd=luathinhsu&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/08/mot-so-van-de-ap-dung-dieu-47-bo-luat-hinh-su-khi-quyet-dinh-hinh-phat-tu-doi-voi-nguoi-pham-toi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/ced4978d5e994e9a06bccb29b1a4230e?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">luathinhsu</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Rút yêu cầu khởi tố: Không có gì tranh cãi!</title>
		<link>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/07/rut-yeu-cau-khoi-to-khong-co-gi-tranh-cai/</link>
		<comments>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/07/rut-yeu-cau-khoi-to-khong-co-gi-tranh-cai/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 May 2012 22:57:18 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Luật Hình Sự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Luật Tố Tụng Hình Sự]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://luathinhsu.wordpress.com/?p=3779</guid>
		<description><![CDATA[Người bị hại làm đơn rút yêu cầu khởi tố hoặc bãi nại cho một bị can (trong số nhiều bị can) thì không thuộc trường hợp rút yêu cầu khởi tố vụ án nên vẫn phải tiếp tục truy tố, xét xử&#8230; Bài viết “Rút yêu cầu khởi tố: Nhiều tình huống tranh cãi” (Báo Pháp Luật [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&#038;blog=9224016&#038;post=3779&#038;subd=luathinhsu&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em><strong>Người bị hại làm đơn rút yêu cầu khởi tố hoặc bãi nại cho một bị can (trong số nhiều bị can) thì không thuộc trường hợp rút yêu cầu khởi tố vụ án nên vẫn phải tiếp tục truy tố, xét xử&#8230;</strong></em></p>
<p align="justify">Bài viết <em>“Rút yêu cầu khởi tố: Nhiều tình huống tranh cãi”</em> (Báo <em>Pháp Luật TP.HCM</em> ngày 5-4) dẫn quan điểm của một số chuyên gia pháp luật cho thấy có sự tranh cãi về việc người bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa, rút yêu cầu khởi tố đối với một trong nhiều bị can&#8230; Tuy nhiên, theo tôi, việc rút yêu cầu khởi tố không có gì tranh cãi!</p>
<p align="justify"><strong>Chỉ xem là tình tiết giảm nhẹ</strong></p>
<p align="justify">Với tình huống mà bài báo đặt ra: Anh A yêu cầu xử lý hình sự B và C vì đánh anh gây thương tích (thuộc trường hợp ở khoản 1 Điều 104 BLHS). Cơ quan điều tra đã khởi tố cả B lẫn C. Trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm, anh A bãi nại và xin rút yêu cầu khởi tố đối với B. Gặp trường hợp này, cơ quan tố tụng phải làm thế nào?</p>
<p align="justify">Có chuyên gia đã bảo người bị hại tha thứ và bãi nại cho một bị can nào đó thì họ được quyền rút yêu cầu khởi tố đối với bị can đó. Những bị can còn lại vẫn phải bị điều tra, truy tố, xét xử bình thường. Người khác thì nói dù anh A chỉ làm đơn bãi nại và xin rút yêu cầu khởi tố đối với riêng B thì cơ quan tố tụng cũng phải đình chỉ giải quyết cả vụ án, đình chỉ điều tra cả B lẫn C.</p>
<p align="justify">Theo tôi, khi xem xét Điều 105 BLTTHS (Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại) phải hiểu luật quy định khởi tố vụ án khi có yêu cầu và khi làm rõ bị can nào thì khởi tố bị can đó, không cần biết người bị hại có yêu cầu khởi tố bị can cụ thể nào không.</p>
<p align="justify">Về rút yêu cầu khởi tố, theo khoản 2 Điều 105 BLTTHS, người bị hại rút yêu cầu khởi tố thì vụ án phải được đình chỉ. Điều luật không nói rõ rút yêu cầu khởi tố vụ án hay rút yêu cầu khởi tố bị can. Tuy nhiên, liên hệ với tiêu đề Điều 105 thì ta phải hiểu là rút yêu cầu khởi tố vụ án.</p>
<p align="justify"><span id="more-3779"></span>Như vậy, trường hợp người bị hại làm đơn rút yêu cầu khởi tố hoặc bãi nại cho một bị can thì việc rút yêu cầu này không thuộc trường hợp rút yêu cầu khởi tố theo khoản 2 Điều 105 BLTTHS. Tức vụ án phải tiếp tục được truy tố, xét xử. Việc rút yêu cầu khởi tố bị can này chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ cho bị can. Chỉ khi nào người bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án thì vụ án mới được đình chỉ.</p>
<p align="justify">Khi gặp tình huống này, cán bộ nhận đơn phải giải thích cho người bị hại hiểu nếu họ rút yêu cầu khởi tố một số bị can, còn lại một số bị can thì tất cả bị can đều phải bị truy tố, xét xử để họ quyết định là rút yêu cầu khởi tố vụ án hay vẫn giữ nguyên đơn xin rút yêu cầu.</p>
<p align="justify"><strong>Rút tại phiên tòa: Không được đình chỉ</strong></p>
<p align="justify">Vấn đề người bị hại rút yêu cầu khởi tố trước ngày mở phiên tòa nhưng sau ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì thẩm quyền đình chỉ vụ án như thế nào, có phải vẫn mở phiên tòa hay không.</p>
<p align="justify">Theo Điều 180 BLTTHS, “Thẩm phán ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 Bộ luật này”. Điều luật này được quy định sau Điều 176 (về quyết định đưa vụ án ra xét xử) nên đã thể hiện rất rõ thẩm quyền đình chỉ vụ án trước khi mở phiên tòa và luật không quy định phải mở phiên tòa để xét đơn rút yêu cầu khởi tố.</p>
<p align="justify">Còn trường hợp Đoàn Thành Hậu bị truy tố về tội cố ý gây thương tích, tại phiên xử của TAND TP Nha Trang, người bị hại rút yêu cầu khởi tố nên kiểm sát viên cũng rút toàn bộ quyết định truy tố đối với bị cáo. Vì vậy, tòa đã ra quyết định đình chỉ vụ án&#8230; Tôi cho rằng cấp phúc thẩm hủy án là có cơ sở. Kiểm sát viên không thể căn cứ vào việc người bị hại rút yêu cầu tại phiên tòa để rút quyết định truy tố và tòa án cấp sơ thẩm cũng không thể chấp nhận đình chỉ vụ án vì không đúng quy định của BLTTHS. Luật không quy định người bị hại rút yêu cầu tại phiên tòa thì vụ án phải đình chỉ&#8230;</p>
<p align="center">* * *</p>
<p align="justify">Tôi cho rằng chúng ta cần thống nhất nhận thức các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng (kể cả luật sư) khi giải quyết vụ án đều phải dựa vào các quy định hiện hành của pháp luật để vận dụng cho đúng và linh hoạt. Khi vận dụng phải liên hệ các quy định của pháp luật, không nên chăm chú vào một vài điều luật. Có những quy định của pháp luật cần phải có hướng dẫn nhưng có những quy định không cần hướng dẫn mà ta vẫn áp dụng được. Trở lại vấn đề trên, BLTTHS đã quy định rõ việc người bị hại rút yêu cầu và hướng giải quyết rất rõ ràng, không cần phải có hướng dẫn.</p>
<div align="center">
<table cellspacing="5" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td>
<p align="justify">Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại</p>
<p align="justify">1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104 (Tội cố ý gây thương tích&#8230;), 111 (Tội hiếp dâm)&#8230; của BLHS chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.</p>
<p align="justify">2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.</p>
<p align="justify">Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, cơ quan điều tra, VKS, tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.<strong><em></em></strong></p>
<p align="right"><em>(Trích Điều 105 BLTTHS)</em></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</div>
<p align="right">
<p align="right"><strong><em>Luật sư Nguyễn Văn Dũ, Đoàn Luật sư TP.HCM</em></strong></p>
<p align="right"><strong><em>Theo: Tạp chí Pháp luật TP.HCM online</em></strong></p>
<br />Filed under: <a href='http://luathinhsu.wordpress.com/category/lu%e1%ba%adt-t%e1%bb%91-t%e1%bb%a5ng-hinh-s%e1%bb%b1/'>Luật Tố Tụng Hình Sự</a>  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/luathinhsu.wordpress.com/3779/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/luathinhsu.wordpress.com/3779/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/luathinhsu.wordpress.com/3779/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/luathinhsu.wordpress.com/3779/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/luathinhsu.wordpress.com/3779/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/luathinhsu.wordpress.com/3779/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/luathinhsu.wordpress.com/3779/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/luathinhsu.wordpress.com/3779/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/luathinhsu.wordpress.com/3779/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/luathinhsu.wordpress.com/3779/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/luathinhsu.wordpress.com/3779/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/luathinhsu.wordpress.com/3779/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/luathinhsu.wordpress.com/3779/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/luathinhsu.wordpress.com/3779/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&#038;blog=9224016&#038;post=3779&#038;subd=luathinhsu&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/07/rut-yeu-cau-khoi-to-khong-co-gi-tranh-cai/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/ced4978d5e994e9a06bccb29b1a4230e?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">luathinhsu</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Cần thu hẹp đối tượng bị tạm giam</title>
		<link>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/04/can-thu-hep-doi-tuong-bi-tam-giam/</link>
		<comments>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/04/can-thu-hep-doi-tuong-bi-tam-giam/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 03 May 2012 22:54:46 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Luật Hình Sự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Luật Hình Sự]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://luathinhsu.wordpress.com/?p=3777</guid>
		<description><![CDATA[Ngoài việc thu hẹp việc tạm giam thì cần quy định chặt các căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác như phải có chế tài với người nhận bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ cam đoan&#8230; Khoản 2 Điều 88 BLTTHS quy định hạn chế tạm giam đối với người chưa thành [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&#038;blog=9224016&#038;post=3777&#038;subd=luathinhsu&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em><strong>Ngoài việc thu hẹp việc tạm giam thì cần quy định chặt các căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác như phải có chế tài với người nhận bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ cam đoan&#8230;</strong></em></p>
<p align="justify">Khoản 2 Điều 88 BLTTHS quy định hạn chế tạm giam đối với người chưa thành niên, phạm tội ít nghiêm trọng; không tạm giam phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh nặng có nơi cư trú rõ ràng. Trừ các trường hợp bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã&#8230; Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều chuyên gia pháp lý, nhiều người phạm tội ít nghiêm trọng như gây ra tai nạn giao thông, tội phạm trẻ vị thành niên hay phụ nữ có thai vẫn bị áp dụng chế độ này.</p>
<p align="justify"><strong>Sẩy thai vì bị tạm giam</strong></p>
<p align="justify">Tháng 9-2010, Q. bị Công an TP N. bắt tạm giam về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Q. trình giấy khám tại bệnh viện xác nhận mình đang có thai sáu tuần. Dù không thuộc các trường hợp loại trừ nào như trên nhưng theo công an, hành vi của bị can thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng và có dấu hiệu bỏ trốn nên vẫn bắt về trại. Trước khi trình ký lệnh bắt, điều tra viên không báo cho VKSND cùng cấp biết Q. có giấy khám thai. Sau khi vào trại tạm giam mấy ngày, Q. có dấu hiệu đau đớn và kiệt sức. Bác sĩ tại trại giam thăm khám cho biết Q. bị mất con&#8230; Tiếp đó, bị can cũng phải đưa đi cấp cứu tại một bệnh viện ngoài trại giam.</p>
<p align="justify">Cuối năm 2011, nhóm của NQD (học sinh lớp 11) cùng một nhóm khác hẹn “giải quyết mâu thuẫn” ngay trước cổng trường. Trong lúc xô xát, D. dùng cây gỗ đánh gãy tay và gây nhiều thương thích khác cho một người thuộc nhóm kia. Ngay sau đó D. bị bắt tạm giam ba tháng, bị khởi tố về tội cố ý gây thương tích. Quá trình điều tra, luật sư của bị can và người giám hộ nhiều lần làm đơn xin cho D. được tại ngoại nhưng đều bị từ chối. Mãi đến khi hồ sơ vụ án được chuyển qua TAND huyện thì đề nghị của luật sư mới được chấp nhận.</p>
<p align="justify"><strong><span id="more-3777"></span>Hạn chế với một số tội cụ thể</strong></p>
<p align="justify">Phát biểu tại Hội thảo mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp (Ủy ban Tư pháp của Quốc hội tổ chức) mới đây, TS Đỗ Văn Đương, Ủy viên Thường trực Ủy ban Tư pháp, cho rằng quy định hiện hành không hạn chế tạm giam với những tội danh cụ thể mà theo loại tội phạm và mức hình phạt tù. Thực tế cho thấy có những loại tội không cần thiết phải tạm giam do bị cáo nhất thời phạm tội, không trốn không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên việc hạn chế tạm giam với họ là cần thiết.</p>
<p align="justify">Từ đó TS Đương đề xuất nên hạn chế tạm giam với những loại tội phạm mà nếu để bị can, bị cáo ở ngoài xã hội thì họ không bỏ trốn, không cản trở điều tra hoặc tiếp tục phạm tội. Cụ thể, đó là các tội mà luật quy định phạt tiền là hình phạt chính, tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng do vô ý và một số loại tội khác thuộc nhóm tội về môi trường, về chức vụ và nhóm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ các cơ quan tư pháp.</p>
<p align="justify">Tuy nhiên, theo TS Đương, cùng với việc hạn chế thì cần quy định chặt các căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác. Chẳng hạn, phải có chế tài với người nhận bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ cam đoan, chi tiết trình tự thủ tục, mức tiền phải đặt. Có như vậy mới bảo đảm, phát huy hiệu lực, hiệu quả của các biện pháp ngăn chặn để thay thế tạm giam&#8230;</p>
<div align="center">
<table cellspacing="5" cellpadding="0" align="center">
<tbody>
<tr>
<td>Không cho tại ngoại để sinh nở</p>
<p align="justify">Trước đây, trong phiên xử vụ làm giả cổ phiếu chứng khoán ở TAND TP Hải Phòng, nhiều người dự khán đã ngạc nhiên khi thấy một bị cáo bụng bầu to nhưng vẫn bị tạm giam. Đó là bị cáo Lâm Thu Hương &#8211; lúc bị bắt bị cáo này mới mang thai, đến khi xét xử vụ án thì thai nhi đã ở tháng cuối gần sinh. Trong quá trình điều tra, Hương và gia đình nhiều lần gửi đơn đến các cơ quan tiến hành tố tụng xin được tại ngoại để điều tra. Tuy nhiên, theo cơ quan tố tụng, Hương phạm tội thuộc trường đặc biệt nghiêm trọng nên không được xem xét đề nghị. Khi hồ sơ vụ án chuyển sang tòa để chuẩn bị xét xử, luật sư của Hương cũng có đơn đề nghị cho bị cáo được tại ngoại phòng khi sinh nở nhưng cũng không được chấp nhận.</p>
<p>Phải mang tính nhân đạo</p>
<p align="justify">Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp nêu rõ cần đổi mới biện pháp tạm giam. Cụ thể là xác định rõ căn cứ tạm giam, hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm&#8230; Theo tôi, đây là chủ trương lớn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ quyền con người, phù hợp với xu thế phát triển chung của nhiều nước trên thế giới. Nhưng điều quan trọng chú ý khi hạn chế tạm giam là phải thể hiện được tính nhân đạo sâu sắc của chính hình sự một quốc gia.</p>
<p align="right">Luật sưHOÀNG KIM VINH,<br />
Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Bình Phước</p>
<p>Nếu không khéo sẽ bị lạm dụng</p>
<p align="justify">Hạn chế tạm giam là cần thiết nhưng nếu không cẩn thẩn sẽ tạo ra tình trạng lạm dụng việc tại ngoại. Chẳng hạn, không tạm giam và thi hành phạt tù với phụ nữ có thai tạo ra tình trạng bị can, bị cáo mang thai liên tục, cứ sinh hết con này đến con khác, khiến không thể thi hành án. Có khi tòa tuyên án chung thân nhưng 10 năm rồi vẫn chưa thi hành được, vẫn phải quản lý ở ngoài xã hội. Có khi cơ quan tố tụng tạm giam đúng luật nhưng dư luận xã hội lại cho đó là không bình thường, vụ án… có vấn đề. Cho nên cần quy định chặt chẽ cụ thể trường hợp nào không cho tại ngoại, khi nào cần phải bắt giam.</p>
<p align="right">Một thẩm phán TAND TP.HCM</p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</div>
<p align="right">
<p align="right"><strong><em>Thanh Tùng</em></strong></p>
<p align="right"><strong><em>Theo: Tạp chí Pháp luật TP.HCM online</em></strong></p>
<br />Filed under: <a href='http://luathinhsu.wordpress.com/category/lu%e1%ba%adt-hinh-s%e1%bb%b1/'>Luật Hình Sự</a>  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/luathinhsu.wordpress.com/3777/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/luathinhsu.wordpress.com/3777/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/luathinhsu.wordpress.com/3777/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/luathinhsu.wordpress.com/3777/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/luathinhsu.wordpress.com/3777/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/luathinhsu.wordpress.com/3777/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/luathinhsu.wordpress.com/3777/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/luathinhsu.wordpress.com/3777/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/luathinhsu.wordpress.com/3777/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/luathinhsu.wordpress.com/3777/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/luathinhsu.wordpress.com/3777/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/luathinhsu.wordpress.com/3777/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/luathinhsu.wordpress.com/3777/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/luathinhsu.wordpress.com/3777/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=luathinhsu.wordpress.com&#038;blog=9224016&#038;post=3777&#038;subd=luathinhsu&#038;ref=&#038;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://luathinhsu.wordpress.com/2012/05/04/can-thu-hep-doi-tuong-bi-tam-giam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://0.gravatar.com/avatar/ced4978d5e994e9a06bccb29b1a4230e?s=96&#38;d=identicon&#38;r=G" medium="image">
			<media:title type="html">luathinhsu</media:title>
		</media:content>
	</item>
	</channel>
</rss>
