RSS

Một số ý kiến về xây dựng và ban hành quy tắc đạo đức ứng xử nghề nghiệp luật sư

16 Sep

                                       (Tham luận tại Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc lần thứ Nhất).

                                                 Ls. NGUYỄN MINH TÂM

                                        Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh.

           Kính thưa Chủ tịch Đoàn!

          Kính thưa các vị đại biểu!

          Thưa các luật sư đồng nghiệp!

           Trước hết, tôi xin cảm ơn Đoàn Chủ tịch đã cho phép và tạo điều kiện cho tôi được tham luận về vấn đề “Xây dựng và ban hành Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư” (gọi tắt là “Quy tắc đạo đức”). Vấn đề này được Báo cáo chính trị của Hội đồng lâm thời luật sư toàn quốc xác định là một trong tám nhiệm vụ quan trọng của Liên đoàn trong nhiệm kỳ đầu tiên. Đấy là môt vấn đề có ý nghĩa quyết định sự phát triển của đội ngũ luật sư Việt Nam. Bởi lẽ, Đạo đức là cái gốc của đời người. Phạm trù đạo đức là một khái niệm ra đời và gắn liền với sự phát triển của lịch sử loài người. Từ cổ chí kim, đã có biết bao nhiêu học giả – những nhà đạo đức học – luận bàn về đạo đức; xây dựng nên cả những học thuyết, định ra những chuẩn mực của hành vi ứng xử, làm thước đo để đánh giá tư cách con người trong xã hội.

           Đạo đức nghề nghiệp là một khái niệm nằm trong nội hàm của khái niệm chung về đạo đức. Nó bao hàm những chuẩn mực đạo đức nói chung nhưng tự nó cũng có những chuẩn mực riêng xuất phát từ những nét đặc trưng của nghề nghiệp. Xã hội có rất nhiều nghề, nhưng không phải nghề nào cũng đặt vấn đề đạo đức nghề nghiệp thành những quy tắc để điều chỉnh hành vi của người hành nghề. Không phải ngẫu nhiên mà các bậc cha mẹ dạy con phải kính trọng thầy giáo bằng một câu  “ Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” và xã hội đã long trọng tôn vinh nghề bác sĩ là “ Lương y như từ mẫu”. Bởi đó là những nghề nghiệp có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục nhân cách, đạo đức và cứu vớt sinh mệnh con người.

         Nghề luật sư, khởi thủy đã là một nghề cao quý. Trong buổi bình minh của nghề nghiệp từ khoảng Thế kỷ thứ 2 (Trước CN), những người bào chữa đã được xã hội đương thời tôn vinh là các “Hiệp sĩ”  với tấm lòng trong sáng, đầy tinh thần nghĩa hiệp, dùng sức mạnh của sự hiểu biết về cổ luật và  tài hùng biện của mình để ra tay cứu giúp những người nghèo khổ, cô thế trước thế lực cai trị đương thời. Và trong quá trình phát triển của nghề luật sư, vấn đề đạo đức nghề nghiệp đã được giới luật sư đặt ra để thượng tôn  như một mục đích tự thân.

 Từ khi pháp luật về luật sư được ban hành, đặc biệt là Luật luật sư năm 2006 ra đời, nhiều nhà nghiên cứu luật học, luật gia, luật sư đã có những bài viết, công trình nghiên cứu và tổ chức nhiều cuộc hội thảo về vấn đề xây dựng đạo đức nghề nghiệp và thái độ ứng xử của luật sư. Bộ Tư pháp đã ban hành “Quy tắc mẫu về đạo đức nghề nghiệp luật sư” vào năm 2002, dựa trên cơ sở đó, nhiều Đoàn luật sư địa phương đã cụ thể hóa thành các Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương mình. Tuy nhiên, nhận thức về tầm quan trọng của việc xây dựng Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp trong mối tương quan với việc phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp luật sư, cũng như gầy dựng hình ảnh người luật sư như một nhân tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội là một vấn đề cần được quan tâm hiện nay.

  Trong phạm vi tham luận này, tôi chỉ xin trình bày thêm một vài ý kiến nhỏ với hy vọng sẽ được quan tâm tham khảo trong quá trình Liên đoàn xây dựng Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư.

 I. Quan điểm tư tưởng xây dựng “Quy tắc đạo đức”.

 Luật Luật sư đã xác định rõ vai trò và trách nhiệm tự quản của Liên đoàn luật sư Việt Nam. Tôi đồng ý với ý kiến tham luận của Luật sư Phan Trung Hoài  khi bàn về khái niệm “tự quản nghề nghiệp” của Liên đoàn :

“ Liên đoàn Luật sư Việt Nam phải lấy nhiệm vụ chế định ra các quy phạm nhằm xây dựng cơ chế quản lý cho mình làm trọng tâm; từ đó tạo ra dung môi là vị thế độc lập trong hành nghề của luật sư dựa trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, phân biệt chức năng và phối hợp với cơ quan quản lý hành chính tư pháp, làm cơ sở thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, quyền hạn khác của Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Đoàn luật sư địa phương”.

  Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư khi được ban hành sẽ có giá trị là một văn bản  mang tính quy phạm nội bộ thể hiện rõ nét nhất cơ chế quản lý theo phương thức tự quản của Liên đoàn.

 Theo thiển ý của tôi, việc xây dựng “Quy tắc đạo đức” cần quán triệt một số quan điểm tư tưởng sau đây :

 Thứ nhất, phải xuất phát từ quan điểm “Đạo đức là gốc của nghề luật sư”.

Nghề luật sư là một nghề luật. Lẽ đương nhiên, đặc thù nghề nghiệp đòi hỏi các luật sư phải triệt để tôn trọng và thực thi pháp luật trong hành nghề. Hệ thống pháp luật về luật sư đã có và đang cố gắng ngày càng hoàn thiện hơn. Đó là Luật Luật sư và các văn bản dưới luật tạo thành cơ sở pháp lý cho toàn bộ hoạt động luật sư. Thế nhưng, pháp luật dù có hoàn thiện đến mấy, tự nó cũng không thể bao quát và điều chỉnh tất cả các hành vi ứng xử của luật sư khi hành nghề. Bởi lẽ, luật sư hành nghề với tư cách cá nhân và tự chịu trách nhiệm cá nhân về uy tín nghề nghiệp của mình. Nói đến cá nhân thì về mặt lô gích, khi tham gia vào các quan hệ xã hội và các quan hệ tố tụng, bên cạnh tư cách chủ thể của quan hệ tố tụng, luật sư còn có tư cách cá nhân – cá thể. Tư cách này hàm chứa những nhận thức tư tưởng và trạng thái tâm lý, tình cảm “Hỷ, Nộ, Ái, Ố” của từng cá nhân. Phạm trù “hành vi cá nhân” cũng bao gồm những vấn đề  thuộc về “đời tư” của mỗi người. Trên bình diện đó, bản thân pháp luật không thể can thiệp bằng các quy phạm pháp luật mang tính chất cưỡng chế. Phạm vi này đòi hỏi mỗi cá nhân phải “tự điều chỉnh” hành vi của mình. Cơ sở nền tảng của việc “tự điều chỉnh” này chính là phạm trù đạo đức. Luật sư hành nghề với mục tiêu phụng sự công lý, tôn trọng và dựa trên pháp luật thì trước hết phải xuất phát từ một “nền tảng đạo đức”. Nếu không xuất phát từ nền tảng này thì luật sư không thể có ý thức tôn trọng pháp luật khi hành nghề.

 Thứ hai, cần quán triệt một số nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho việc xây dựng Quy tắc.

Những nguyên tắc này có ý nghĩa “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, lấy cái không thay đổi để ứng phó với mọi thay đổi. Bởi vì, khi hành nghề, luật sư phải đối mặt với biết bao nhiêu tình huống phức tạp, trong đó có các tình huống thuộc phạm trù đạo đức, khiến tự bản thân luật sư không thể lường trước. Theo tôi, việc xây dựng Quy tắc cần phải dựa trên các nhóm nguyên tắc sau đây :

 Nhóm thứ nhất : Nhóm nguyên tắc liên quan đến chức năng xã hội của luật sư, với sứ mệnh cao cả nhằm bảo vệ công lý, phát triển kinh tế, góp phần xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, công minh. Các nguyên tắc này sẽ bao gồm việc tuân thủ và trung thành với Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng sự thật và góp phần vào việc phát triển hệ thống pháp luật, tích cực tham gia các hoạt động công ích.

 Nhóm thứ hai : Nhóm nguyên tắc liên quan đến việc duy trì phẩm giá, chuẩn mực ứng xử trong hành nghề luật sư, bao gồm sự trung thành và lao động hết mình cho chuẩn mực nghề nghiệp, phát huy danh dự, sự độc lập,  ngay thẳng, trung thực, tính đồng nghiệp, cạnh tranh công bằng và ngăn ngừa việc hành nghề trái phép.

 Nhóm thứ ba : Nhóm nguyên tắc liên quan đến việc thực hiện các nghĩa vụ đối với khách hàng; Bao gồm việc tận tâm thực hiện hết khả năng và trách nhiệm với khách hàng trong khuôn khổ pháp luật cho phép, tuân thủ bí mật quốc gia và bí mật của khách hàng, ngăn ngừa các thủ đoạn  hành nghề không lương thiện, tự giác thực hiện các nghĩa vụ trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, giải quyết các mâu thuẫn về lợi ích, việc nhận thù lao, v.v..

 II. Xác định phạm vi và nội dung các tiêu chuẩn về đạo đức và ứng xử nghề nghiệp.

Dựa trên cơ sở đặc thù nghề nghiệp luật sư, nội dung Quy tắc đạo đức phải bao hàm các  tiêu chuẩn sau đây:

 – Các tiêu chuẩn chung về mặt đạo đức nghề nghiệp luật sư.

Nội dung của nhóm tiêu chuẩn này chính là sự thể hiện thành các quy phạm đạo đức  từ ba nhóm nguyên tắc nêu ở Mục I.

 – Các tiêu chuẩn đạo đức trong quan hệ với khách hàng.

Theo tôi, đây là các tiêu chuẩn quan trọng nhất trong Quy tắc đạo đức. Bởi vì, mối quan hệ với khách hàng chính là “lửa thử vàng” đối với cá nhân người luật sư. Uy tín, lương tâm, trách nhiệm nghề nghiệp luật sư, sự tiêu cực/ hay không tiêu cực của luật sư đều xuất phát từ nền tảng quan hệ này và tác dụng của nó có ý nghĩa chi phối các tiêu chuẩn đạo đức khác trong “tổng hòa các quan hệ xã hội” của luật sư.

 – Các tiêu chuẩn đạo đức trong quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội

Thực ra, điều chỉnh mối quan hệ này, pháp luật về luật sư đã có các quy phạm pháp luật điều chỉnh mang tính cưỡng chế cao đối với chủ thể luật sư – với tư cách “Người tham gia tố tụng”. Các tiêu chuẩn đạo đức trong phạm vi quan hệ này cũng chỉ có ý nghĩa bổ trợ cho việc ứng xử cá nhân.

 – Các tiêu chuẩn đạo đức trong mối quan hệ với đồng nghiệp luật sư.

          Pháp luật   về luật sư  có rất ít quy phạm điều chỉnh mối quan hệ này. Bởi vì, quan hệ đồng nghiệp, về thực chất là những quan hệ đạo đức, trong đó chủ yếu là  thái độ ứng xử với nhau trong giới luật sư. Tiêu chuẩn này đòi hỏi mỗi luật sư phải coi uy tín của đồng nghiệp và uy tín của giới là uy tín của chính mình. Điều mình không muốn thì không được làm đối với đồng nghiệp. “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”. Muốn vậy,  từng luật sư phải coi niềm vui hay sự rủi ro trong nghề nghiệp của đồng nghiệp cũng chính là niềm hạnh phúc và nỗi đau của chính bản thân mình.

 III. Xác định phạm vi và nội dung các tiêu chuẩn kỷ luật của nghề nghiệp luật sư.

Việc đưa vấn đề này vào “Quy tắc đạo đức” thực ra là quy định các biện pháp chế tài kỷ luật đối với các hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp luật sư. Chế tài này đòi hỏi phải quy phạm hóa các tiêu chuẩn kỷ luật- thuộc chức năng tự quản nghề nghiệp của Liên đoàn theo Điều lệ, làm căn cứ cho việc xử lý kỷ luật đối với từng cá nhân luật sư.

  Trên đây là một số ý kiến nhỏ chỉ với ý nghĩa bổ sung thêm một vài suy nghĩ của cá nhân tôi. Tuy nhiên, việc xây dựng và ban hành “Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư” mới chỉ là một khía  cạnh có ý nghĩa tiền đề cho việc Liên đoàn quản lý hoạt động  luật sư. Điều rất quan trọng là, phải biến những quy tắc dưới dạng các quy phạm khô khan thành hiện thực sinh động trong đời sống riêng tư và hành nghề của mỗi luật sư. Việc “Tổ chức giám sát việc tuân thủ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư” như Dự thảo Điều lệ quy định là trách nhiệm của Thường vụ Liên đoàn. Nhưng Thường vụ Liên đoàn chỉ gồm những cá nhân luật sư, không phải là người có “trăm tai, nghìn mắt” có thể bao quát hết từng ngõ ngách trong đời sống hàng ngày của luật sư. Vậy thì để có hiện thực sinh động trong thực thi Quy tắc đạo đức nghề nghiệp, theo thiển ý của tôi – mỗi luật sư phải tự mình ý-thức-về-phẩm-giá và uy-tín của mình để tự mình điều chỉnh những hành vi của mình trong các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ tố tụng nói riêng. Mối quan hệ giữa nói về đạo đức với thực hiện hành vi đạo đức trên thực tế là mối quan hệ giữa “Nói và Làm”. Tạo ra được sự thống nhất của mối quan hệ này đối với mỗi người là một điều hết sức khó khăn trong cuộc đấu tranh với chính bản thân mình. Phẩm giá và uy tín của mỗi luật sư không phải do ai ban cho hoặc sẵn có mà là kết quả của quá trình tu tưỡng bền bỉ, được tích lũy bằng tri thức, các kỹ năng hành nghề và hành vi đạo đức của bản thân luật sư. Muốn vậy, mỗi luật sư phải biết quên “cái bản ngã-cái tôi” của mình trong thái độ ứng xử, để sao cho, khi hành vi của mình được thực hiện, mọi người đều nhận chân được tính mục đích  cao cả của chủ thể hành vi là vì  sự nghiệp chung, vì uy tín chung của giới luật sư. Đức Phật Thích Ca đã dạy “Vạn pháp do Tâm”. Về bản chất,  con người vốn dĩ đã có “một cái tâm trong sáng”. Chỉ có điều trong quá trình sống, “Cái Tâm” ấy trong mỗi người đã bị tạp nhiễm bởi những ham muốn vật chất và danh vọng qua thời gian làm cho nó bị mờ đi. “Rèn Tâm” chính là một biện pháp thanh lọc trong thân tâm, để “cái Tâm trong sáng” ấy hiện ra. Và khi “Cái tâm trong sáng” hiện ra thì thưa các đồng nghiệp, mọi tình huống phức tạp nào đó xảy ra trong đời sống cá nhân và hành nghề của từng luật sư, đều trở nên đơn giản!

Cuối cùng xin thành tâm gửi lời kính chúc sức khoẻ và hạnh phúc tới Quý vị quan khách, Đoàn chủ tịch và toàn thể các luật sư đồng nghiệp.

Trân trọng cảm ơn Đại hội.

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: