RSS

Chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam một số vấn đề lý luận cơ bản

08 Oct

LÊ CẢM
TRỊNH TIẾN VIỆT

TSKH., Trưởng bộ môn Tư pháp hình sự thuộc ĐHQG Hà Nội
Trợ giảng Bộ môn tư pháp hình sự thuộc ĐHQG Hà Nội

1. Hiện nay trong khoa học và thực tiễn có nhiều ý kiến khác nhau về bản chất pháp lý của chế định thời hiệu trong luật hình sự. Tuy nhiên, nghiên cứu các quy phạm của chế định này trong PLHS Việt Nam hiện hành (Các Điều 23, 24, 55, 56 BLHS năm 1999), theo quan điểm của chúng tôi, bản chất pháp lý của chế định thời hiệu trong luật hình sự là ở chỗ: Sau một thời hạn nhất định do luật định đã qua và khi đáp ứng đầy đủ các đòi hỏi được ghi nhận trong PLHS, thì người phạm tội không thể bị Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không phải chấp hành bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật. Phân tích bản chất pháp lý của chế định này, chúng ta có thể chỉ ra các đặc điểm cơ bản dưới đây.

* Theo PLHS Việt Nam, quyền truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) và quyền thi hành bản án hình sự (BAHS) của các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền của Nhà nước (cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan thi hành án hình sự) đối với người đã có lỗi trong việc thực hiện tội phạm không phải là vô thời hạn, mà chỉ trong một thời hạn nhất định được ghi nhận trong PLHS.

* Nhưng khi một thời hạn nhất định do PLHS quy định đã qua rồi, thì bất kỳ người nào, mặc dù đã có lỗi trong việc thực hiện tội phạm vẫn không thể bị truy cứu TNHS (vì trong trường hợp này họ không bị coi là người phạm tội) hoặc không bị buộc phải chấp hành BAHS đã có hiệu lực pháp luật.

* Để không bị truy cứu TNHS hoặc không bị buộc phải chấp hành bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật do hết thời hiệu, thì ngoài các căn cứ pháp lý ra, còn phải có một loạt những điều kiện cụ thể khác do PLHS quy định, mà chỉ khi nào có tổng hợp đầy đủ chúng (các căn cứ pháp lý và những điều kiện ấy), người phạm tội mới không bị truy cứu TNHS hoặc không bị buộc phải chấp hành BAHS đã có hiệu lực pháp luật.

* Căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự (TTHS) tương ứng cụ thể, việc không truy cứu TNHS hoặc không thi hành BAHS đã có hiệu lực pháp luật do hết thời hiệu chỉ được thực hiện bởi một cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền nhất định (cơ quan Điều tra với sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan thi hành án hình sự) khi có đầy đủ các căn cứ pháp lý và những điều kiện do PLHS quy định.

* Thời hiệu thi hành BAHS chỉ được áp dụng đối với những bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được thi hành vì nhiều nguyên nhân khách quan khác nhau mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người bị kết án (ví dụ: do thiên tai, hồ sơ bị mất hoặc thất lạc, do sự thiếu trách nhiệm của những cán bộ trong các cơ quan thi hành án hình sự v.v…). Như vậy, thời hiệu thi hành BAHS khác với thời hiệu truy cứu TNHS là ở chỗ: thời hiệu thi hành BAHS căn cứ vào loại hình phạt (phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù) và mức hình phạt (ba năm tù trở xuống, ba năm tù đến mười lăm năm tù, mười lăm năm tù đến ba mươi năm tù), còn thời hiệu truy cứu TNHS thì lại căn cứ vào loại tội phạm tương ứng được phân loại trong BLHS năm 1999 (khoản 3 Điều 8).

2. Tại Phần II và Phần III dưới đây chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu một số đặc điểm cơ bản của PLHS Việt Nam hiện hành đề cập đến hai vấn đề: a) Thời hiệu truy cứu TNHS; b) thời hiệu thi hành BAHS.

II

1. Bằng quy phạm tại khoản 1 Điều 23 BLHS năm 1999, lần đầu tiên trong PLHS Việt Nam đã ghi nhận riêng biệt định nghĩa pháp lý (ĐNPL) của khái niệm thời hiệu truy cứu TNHS là gì (?) – “là thời hạn do Bộ luật hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Quy phạm này chính là một điểm mới của BLHS năm 1999 (mà trong BLHS năm 1985 trước đây không có) và do đó, nó có ý nghĩa khoa học – thực tiễn rất quan trọng đối với sự phát triển của PLHS Việt Nam nói riêng, cũng như đối với việc bảo vệ các quyền và tự do của con người trong hoạt động tư pháp hình sự nói chung ở nước ta hiện nay.

2. Bằng các quy phạm tại khoản 2 Điều 23 BLHS năm 1999, lần đầu tiên trong PLHS Việt Nam, nhà làm luật đã điều chỉnh cụ thể bốn thời hạn khác nhau tương ứng với bốn loại tội phạm được phân loại trong luật (khoản 3 Điều 8 BLHS năm 1999), mà các cơ quan tư pháp hình sự chỉ có thể và phải dựa vào căn cứ đó để truy cứu người đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm. Nói một cách khác, theo BLHS năm 1999, khi đã hết các thời hạn do luật định tại khoản 2 Điều 23 tương ứng với bốn loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8, thì không được truy cứu TNHS người phạm tội.

3. Bằng các quy phạm tại khoản 3 Điều 23 BLHS năm 1999, lần đầu tiên trong PLHS Việt Nam đã cụ thể hóa cách tính thời hiệu truy cứu TNHS (khác với quy định tương ứng trong BLHS năm 1985 trước đây là cụ thể hóa thời hiệu không truy cứu TNHS) người phạm tội. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tiễn tư pháp hình sự và việc nghiên cứu về mặt lý luận cho thấy, khi áp dụng cách tính thời hiệu truy cứu TNHS theo quy định tại đoạn 1 khoản 3 Điều 23 BLHS năm 1999 cần chú ý một số vấn đề chủ yếu dưới đây.

* Về cơ bản, thời điểm truy cứu TNHS bắt đầu được tính là từ ngày tội phạm hoàn thành, tức là từ thời điểm hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm (tương ứng với bốn loại tội phạm) được thực hiện, chứ không phải là từ ngày tội phạm bị phát hiện hoặc từ ngày xảy ra hậu quả phạm tội. Ví dụ: thời hiệu truy cứu TNHS đối với tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người được tính từ ngày nạn nhân bị gây thương tích (mà do thương tích đã đưa đến cái chết), chứ không phải từ ngày nạn nhân chết.

* Đối với các tội kéo dài, thì nói chung thời điểm truy cứu TNHS bắt đầu được tính từ ngày tội phạm kết thúc, nhưng cũng tùy từng trường hợp mà thời điểm này có thể khác nhau. Chẳng hạn, đối với tội đào ngũ, thì thời điểm truy cứu TNHS phải được tính từ ngày quân nhân đào ngũ (mà trước đó người này đã bị xử lý kỷ luật về hành vi rời bỏ đơn vị một cách trái phép hoặc gây hậu quả nghiêm trọng…), chứ không phải từ ngày quân nhân này bị bắt giữ hoặc ra đầu thú. Nhưng đối với một loạt các tội tàng trữ (như tàng trữ vũ khí quân dụng, tàng trữ chất phóng xạ, hoặc tàng trữ chất cháy, chất độc), thì thời điểm truy cứu TNHS lại được tính từ ngày tội phạm tương ứng bị phát hiện hay từ ngày người phạm tội bị bắt giữ hoặc ra đầu thú, chứ không phải từ ngày bắt đầu tàng trữ các thứ đã nêu (vì có thể có những trường hợp vào thời điểm bắt đầu tàng trữ các thứ đã nêu, người phạm tội chưa đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của PLHS).

* Đối với các tội liên tục, thì thời điểm truy cứu TNHS bắt đầu được tính từ ngày hành vi cuối cùng trong một loạt hành vi tội phạm được thực hiện. Ví dụ: đối với tội bức tử, tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình, thì thời điểm truy cứu TNHS được tính từ ngày hành vi ngược đãi hoặc hành hạ cuối cùng của tội phạm tương ứng được thực hiện và gây nên hậu quả nguy hại cho xã hội đã đến mức phải bị xử lý về hình sự.

* Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội (rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng) và hành vi phạm tội chưa đạt, thì thời điểm truy cứu TNHS được tính từ ngày hoạt động phạm tội bị chấm dứt về mặt pháp lý do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội và khiến cho người đó không thực hiện được tội phạm đến cùng. Ví dụ: a) người chuẩn bị phạm tội khủng bố bị nhân dân phát hiện và báo cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên đã không thực hiện được tội phạm đến cùng; b) kẻ phạm tội trộm sau khi lọt vào nhà để trộm nhẫn mặt đá rubi của người khác (giá trị khoảng 680 triệu đồng) để trong tủ nhưng chưa kịp chiếm đoạt được chiếc nhẫn đó (vì sau khi lọt vào nhà và đang mở cửa cánh tủ), thì bị chủ nhà đi làm về nhìn thấy, hô hoán lên và bị những người hàng xóm vây bắt.

* Trong trường hợp phạm nhiều tội, thì thời điểm truy cứu TNHS bắt đầu được tính từ ngày thực hiện tội đầu tiên trong số các tội bị phát hiện và người phạm tội bị đưa ra xét xử.

* Trong trường hợp phạm tội nhiều lần, thì thời điểm truy cứu TNHS bắt đầu được tính từ ngày tội nào được thực hiện trước tiên trong số các tội bị phát hiện và người phạm tội bị đưa ra xét xử.

4. Bằng các quy phạm tại đoạn 1 khoản 3 Điều 23 BLHS năm 1999, nhà làm luật đã quy định việc tính lại thời hiệu đã qua đối với tất cả bốn thời hạn (tương ứng với bốn loại tội phạm được nêu tại khoản 2 điều luật này), nếu người phạm tội (trong một thời hạn nhất định đã qua tương ứng với mỗi loại tội phạm) lại thực hiện tội mới mà mức cao nhất của khung hình phạt do luật định đối với tội mới ấy là 1 năm tù trở lên. Như vậy, nội dung quy phạm này có nghĩa là: đối với tội mới ấy, bị cáo phải bị đưa ra xét xử và bị áp dụng hình phạt tù trên một năm theo bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

5. Bằng các quy phạm tại đoản 2 khoản 3 Điều 23 BLHS năm 1999, nhà làm luật Việt Nam đã quy định việc tính lại thời hiệu đã qua (và việc tính lại này được áp dụng kể từ thời điểm người phạm tội ra đầu thú hoặc bị bắt giữ) đối với tất cả bốn thời hạn (tương ứng với bốn loại tội phạm được nêu tại khoản 2 Điều 23) nếu người phạm tội (trong thời hạn đã qua tương ứng với mỗi loại tội phạm) đã cố tình trốn tránh. Sự cố tình trốn tránh này có thể được thể hiện dưới các hình thức như: a) vĩnh viễn biến khỏi nơi ở hoặc nơi làm việc; b) thay họ tên trong các giấy tờ tùy thân có liên quan (như Giấy chứng minh nhân dân, bằng lái xe, v.v…) bằng họ tên khác; c) làm các phẫu thuật để sửa đổi hình dạng cho khác với hình dạng ban đầu; v.v… Tuy nhiên, sự cố tình trốn tránh này của người phạm tội nhất thiết phải bị cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền ra lệnh truy nã. Tức là, ở đây việc đã có lệnh truy nã phải là điều kiện tiên quyết bắt buộc – nếu người phạm tội mặc dù đã cố tình trốn tránh, nhưng đã không có hoặc chưa có lệnh truy nã của cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền, thì thời gian mà người đó đã cố tình trốn tránh vẫn được tính vào thời hiệu để không bị truy cứu TNHS.

6. Như vậy, theo tinh thần Điều 23 BLHS năm 1999, người phạm tội nếu muốn không bị truy cứu TNHS do hết thời hiệu, tức là được hưởng chế định nhân đạo này của PLHS Việt Nam, thì phải có tổng hợp cả căn cứ pháp lý chung có tính chất bắt buộc và ba điều kiện cần, đủ dưới đây:

* Căn cứ pháp lý chung có tính chất bắt buộc là: kể từ ngày tội phạm mà người đó thực hiện nhất thiết phải qua một thời hạn nhất định và thời hạn ấy phải do BLHS quy định (khoản 1).

* Ba điều kiện cần, đủ: a) điều kiện thứ nhất – một trong các thời hạn đã qua ấy phải tương ứng với một trong bốn loại tội phạm được BLHS quy định cụ thể (khoản 2); b) điều kiện thứ hai – trong khoảng thời hạn đã qua ấy, người phạm tội (mà đối với tộu ấy thời hiệu truy cứu TNHS đã qua) phải không được phạm tội mới mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội mới này là trên một năm tù (đoạn 1 khoản 3); c) và cuối cùng, điều kiện thứ ba – trong khoảng thời hạn đã qua ấy, người phạm tội không được cố tình trốn tránh (hoặc mặc dù cố tình trốn tránh) và đối với người đó phải không có lệnh truy nã của cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền (đoạn 2 khoản 3).

7. Bằng quy phạm tại Điều 24 BLHS năm 1999, lần đầu tiên trong PLHS Việt Nam nhà làm luật nước ta đã đặt an ninh quốc gia với tính chất là lợi ích (được BLHS năm 1999 bảo vệ bằng các quy định của Chương XI) ngang hàng với hòa bình và an ninh của nhân loại (được BLHS năm 1999 bảo vệ bằng các quy định của Chương XXIV). Đây là một sự thay đổi lớn trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua pháp điển hóa lần thứ hai vừa qua. Có nghĩa là, từ đây theo quan điểm của nhà làm luật Việt Nam được cụ thể hóa trong BLHS năm 1999 – chế định nhân đạo về thời hiệu truy cứu TNHS (khoản 2 Điều 23) không được phép áp dụng: a) chẳng những chỉ đối với các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (được quy định tại các điều 341 – 344 BLHS năm 1999 – các điều 277 – 279 BLHS năm 1985 trước đây); b) mà còn đối với tất cả các tội xâm phạm an ninh quốc gia (được quy định tại các điều 78 – 91 BLHS năm 1999).

III.

1. Bằng quy định của khoản 1 Điều 55 BLHS năm 1999, lần đầu tiên trong PLHS Việt Nam đã ghi nhận một quy phạm riêng biệt đề cập đến ĐNPL của khái niệm thời hiệu thi hành bản án hình sự là gì? – “là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên”. Đây chính là một điểm mới trong BLHS năm 1999 (mà trước đây trong BLHS năm 1985 không có). Do vậy, cũng như ĐNPL của thời hiệu truy cứu TNHS (khoản 1 Điều 23 BLHS năm 1999), ĐNPL này có ý nghĩa khoa học – thực tiễn quan trọng đối với sự phát triển của PLHS Việt Nam nói riêng, cũng như đối với việc bảo vệ các quyền và tự do của công dân trong hoạt động tư pháp hình sự nói chung ở nước ta hiện nay.

2. Bằng các quy định của khoản 2 Điều 55 BLHS năm 1999, PLHS Việt Nam hiện hành đã điều chỉnh cụ thể ba thời hạn thi hành BAHS khác nhau tương ứng với các loại hình phạt và mức hình phạt mà các cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền chỉ có thể và phải căn cứ vào đó để thi hành BAHS đã có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án (người đã thực hiện tội phạm). Nói một cách khác, theo quy định của BLHS năm 1999, khi đã hết các thời hạn do luật định tại khoản 2 Điều 55 tương ứng với các loại hình phạt (phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù) và mức hình phạt (ba năm tù trở xuống, ba năm tù đến mười lăm năm tù, trên mười lăm năm tù đến ba mươi năm tù), thì không được thi hành BAHS đã có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án. Trong trường hợp có nhiều bản án đối với một người thì phải tổng hợp hình phạt của nhiều bản án và căn cứ để tính thời hiệu là hình phạt tổng hợp chung. Nếu trong bản án có nhiều người bị kết án, thì mỗi người sẽ được áp dụng thời hiệu thi hành BAHS phù hợp với loại hình phạt và mức hình phạt đối với họ.

3. Bằng các quy phạm của khoản 3 Điều 55 BLHS năm 1999, PLHS Việt Nam lần đầu tiên đã cụ thể hóa cách tính thời hiệu thi hành BAHS (khác với quy định tương ứng trong BLHS năm 1985 trước đây là “thời hiệu không thi hành bản án hình sự đối với người bị kết án”). Tuy nhiên, khi áp dụng cách tính thời hiệu thi hành BAHS theo quy định tại đoạn 1 khoản 3 Điều 55 BLHS năm 1999, chúng ta cần chú ý một số vấn đề dưới đây.

* Về cơ bản, căn cứ vào Điều 226 Bộ luật TTHS, thì thời điểm thi hành BAHS đối với người bị kết án bắt đầu được tính từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật (bao gồm: những BAHS của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị; những BAHS của Tòa án cấp phúc thẩm và những quyết định của Tòa án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm), chứ không phải từ thời điểm người đó có BAHS (bản án sơ thẩm) hoặc từ thời điểm BAHS có hiệu lực thi hành (bản án có hiệu lực pháp luật kèm theo các điều kiện khác phát sinh sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ví du: thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với A về tội giết người theo Điều 93 BLHS năm 1999 phải được tính từ ngày bản án đó có hiệu lực pháp luật (có thể là bản án hình sự không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc bản án hình sự phúc thẩm hoặc quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm), chứ không phải là từ ngày có BAHS hoặc từ ngày BAHS có hiệu lực thi hành đối với A.

* Việc tính lại thời hiệu đã qua đối với tất cả ba thời hạn (tương ứng với các loại hình phạt và mức hình phạt được nêu tại khoản 2 Điều 55 BLHS năm 1999) có nghĩa là: nếu người bị kết án trong một thời hạn nhất định đã qua lại phạm tội mới (không kể là họ có bị phạt tù hay không), thì thời gian đã qua không được tính vào thời hiệu thi hành BAHS mà sẽ được tính lại kề từ ngày người đó phạm tội mới (cần lưu ý là trong BLHS năm 1985 trước đây còn quy định thêm ngoài việc người bị kết án đó phạm tội mới thì họ còn phải bị xét xử và bị áp dụng hình phạt tù).

4. Bằng các quy phạm của đoạn 2 khoản 3 Điều 55 BLHS năm 1999, PLHS Việt Nam đã quy định việc tính lại thời hiệu đã qua (và việc tính lại này áp dụng kể từ thời điểm người bị kết án ra trình diện hoặc bị bắt giữ) đối với tất cả ba thời hạn (tương ứng với loại hình phạt và mức hình phạt quy định tại khoản 2 Điều luật đang bình luận), nếu người bị kết án trong thời hạn đã qua đã cố tình trốn tránh (ví dụ: đã trực tiếp tham dự phiên tòa xét xử, nhận được bản sao BAHS nhưng không chịu chấp hành mà trốn khỏi nơi ở hoặc trốn ra nước ngoài; thay đổi họ tên, địa chỉ; làm các phẫu thuật để thay đổi hình dạng cho khác với hình dáng ban đầu…) và cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền đã ra lệnh truy nã người đó. Có nghĩa là, ở đây việc đã có lệnh truy nã phải là điều kiện bắt buộc – nếu người bị kết án mặc dù đã cố tình trốn tránh, nhưng đã không có hoặc chưa có lệnh truy nã của cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền, thì thời gian mà người đó đã cố tình trốn tránh (bỏ trốn) vẫn được tính vào thời hiệu để không thi hành BAHS đối với người bị kết án.

5. Như vậy, theo tinh thần Điều 55 BLHS năm 1999, nếu người bị kết án muốn không bị thi hành BAHS do hết thời hiệu, tức là được hưởng chế định nhân đạo này của PLHS Việt Nam, thì người bị kết án phải có tổng hợp cả căn cứ pháp lý chung có tính chất bắt buộc và ba điều kiện cần, đủ dưới đây:

* Căn cứ pháp lý chung có tính chất bắt buộc là: kể từ ngày bản án hình sự có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án nhất thiết phải qua một thời hạn nhất định và thời hạn ấy phải do BLHS quy định (khoản 1).

* Ba điều kiện cần, đủ là: a) Điều kiện thứ nhất – một trong các thời hạn đã qua ấy phải tương ứng với một trong các loại hình phạt và mức hình phạt được BLHS quy định cụ thể (khoản 2); b) điều kiện thứ hai – trong khoảng thời gian đã qua ấy, người bị kết án phải không được phạm tội mới và không kể là hình phạt ấy có phải là tù hay không (đoạn 1 khoản 3); c) và cuối cùng, điều kiện thứ ba – trong khoảng thời gian đã qua ấy, người bị kết án không cố tình trốn tránh (hoặc mặc dù họ cố tình trốn tránh) và đối với người bị kết án đó phải không có lệnh truy nã của cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền (đoạn 2 khoản 3).

6. Bằng các quy phạm tại khoản 4 Điều 55 BLHS năm 1999, nhà làm luật Việt Nam quy định việc áp dụng thời hiệu đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình sau khi đã qua thời hạn mười lăm năm, thì do Chánh án TANDTC quyết định theo đề nghị của Viện trưởng VKSNDTC. Trong trường hợp không cho áp dụng thời hiệu thi hành bản án thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân, tù chung thân được chuyển thành tù ba mươi năm (khác với quy định tương ứng trong BLHS năm 1985 trước đây là “tù chung thân sẽ đổi thành tù hai mươi năm”). Do vậy, chỉ những hành vi phạm tội nào được thực hiện từ ngày 1/7/2000 mà người đó bị phạt tù chung thân thì mới được chuyển thành tù ba mươi năm.

7. Theo quy định của Điều 56 BLHS năm 1999, thì chế định thể hiện tính nhân đạo về thời hiệu thi hành BAHS không được phép áp dụng: a) không chỉ những đối với các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (được quy định tại các Điều 341 – 344 BLHS năm 1999 tương ứng với các Điều 277 – 279 BLHS năm 1985 trước đây); b) mà còn đối với tất cả các tội xâm phạm an ninh quốc gia (được quy định tại các Điều 78 – 91 BLHS năm 1999). Như vậy, phạm vi không áp dụng thời hiệu thi hành BAHS được mở rộng theo hướng nghiêm khắc hơn đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Điều đó phản ánh rõ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta là kiên quyết bảo vệ an ninh quốc gia, cũng như thẳng tay trừng trị những người xâm phạm an ninh, hòa bình và ổn định của các nước khác trên thế giới.

IV.

Tóm lại, xuất phát từ việc nghiên cứu chế định thời hiệu trong PLHS Việt Nam hiện hành chúng ta có thể đi đến những kết luận chung dưới đây:

1. Một là, bằng một số quy phạm mới trong BLHS năm 1999, chế định thời hiệu trong luật hình sự nước ta đã thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự của Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền.

2. Hai là, để không bị truy cứu TNHS (hoặc không phải chấp hành bản án hình sự) do hết thời hiệu được quy định trong PLHS, thì ngoài căn cứ pháp lý chung có tính chất bắt buộc (kể từ ngày tội phạm mà người đó thực hiện hoặc từ ngày bản án hình sự đã được tuyên nhất thiết phải qua một thời hạn nào ấy do luật định), người đó phải đáp ứng được một loạt những điều kiện cần đủ, có tính chất bắt buộc và do luật hình sự quy định.

3. Ba là, bên cạnh việc lĩnh hội quy định được thừa nhận chung của PLHS quốc tế về thời hiệu – không áp dụng chế định này đối với các tội xâm phạm hòa bình và an ninh của nhân loại, PLHS Việt Nam cũng còn có quy định riêng thể hiện tính nghiêm khắc hơn trong việc tăng cường xu hướng trấn áp về hình sự – không áp dụng chế định này đối với cả các tội xâm phạm an ninh quốc gia.

4. Và cuối cùng, chế định thời hiệu trong luật hình sự là một trong các chế định cơ bản của luật hình sự Việt Nam nên việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa chế định này để làm sáng tỏ về mặt lý luận là nhiệm vụ quan trọng hiện nay của khoa học luật hình sự nước ta.

ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ KHPL SỐ 2/2001

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: