RSS

Trao đổi về việc xét xử hành vi trộm cắp thiết bị công trình điện và thông tin liên lạc

26 Dec

1. Đặt vấn đề      

“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.” (Điều 8 – BLHS). Trong khi xã hội lại luôn ở trong quỹ đạo vận động và phát triển, chính vì vậy mà các quan hệ xã hội cần được pháp luật hình sự bảo vệ cũng luôn thay đổi theo. Theo đó, có những hành vi ở thời kỳ này được coi là nguy hiểm cho xã hội nhưng sang thời kỳ khác lại không còn nguy hiểm nữa. Ngược lại, có những hành vi ở thời kỳ trước là không nguy hiểm cho xã hội nhưng sang thời kỳ sau lại là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Có những hành vi phạm tội ở thời kỳ này thể hiện tính chất rất nguy hiểm cho xã hội cần phải quy định khung hình phạt cao nhưng sang thời kỳ khác tuy vẫn còn nguy hiểm cho xã hội nhưng ở mức độ hạn chế hơn nên cần quy định khung hình phạt thấp hơn. Do vậy, để phù hợp với quy luật vận động và phát triển của xã hội thì việc thực hiện tội phạm hóa (quy định thêm các hành vi được coi là  phạm tội, kể cả tăng mức chế tài xử phạt) và phi tội phạm hóa (bãi bỏ các hành vi được coi là phạm tội, kể cả giảm mức chế tài xử phạt) luôn đặt ra cho cơ quan lập pháp.Về mặt lý thuyết thì việc tội phạm hóa và phi tội phạm hóa chỉ tồn tại trong hoạt động lập pháp nhưng trên thực tế còn xẩy ra ở cả trong nhận thức và hoạt động thực thi pháp luật. Chẳng hạn như, một vài năm trước đây do nhận thức lệch lạc, phiến diện nên ở một số địa phương, các cơ quan tiến hành tố tụng đã hình sự hóa một số vụ việc phát sinh từ các quan hệ kinh tế, dân sự. Cụ thể là, đã truy cứu trách nhiệm hình sự những người chậm thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận trong các hợp đồng kinh tế, dân sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Hậu quả là nhiều cơ quan tiến hành tố tụng đã phải bồi thường thiệt hại và phải công khai xin lỗi đối với những người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan. Hoặc như, thời gian qua tại một số nơi những người buôn bán thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần (tuy có chứa một hàm lượng nhất định chất ma túy nhưng là dùng để chữa bệnh) đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với những mức hình phạt rất cao. Thế nhưng, theo Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24-12-2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân nhân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp (Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999) thì: “Chất gây nghiện, chất hướng thần là chất ma túy; còn thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là để chữa bệnh (chỉ chứa một hàm lượng nhất định chất ma túy) và được quản lý theo quy chế quản lý dược phẩm của Bộ Y tế. Người nào không thuộc đối tượng quy định tại Điều 201 BLHS mà vi phạm trong việc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần nhằm mục đích kinh doanh thuốc chữa bệnh hoặc để chữa bệnh thì bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng khác không phải là tội phạm về ma túy…”.

Thực tế hiện nay việc điều tra, truy tố, xét xử đối với tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia có lẽ cũng không nằm ngoài thực trạng này, xin được cùng trao đổi về vấn đề này để có sự nhìn nhận thấu đáo và chuẩn xác hơn.

2. Thực tiễn xét xử

Trong những năm qua tình trạng một số thanh thiếu niên cắt trộm dây cáp và tháo trộm thiết bị của các công trình truyền tải điện và truyền dẫn thông tin liên lạc xẩy ra tương đối nhiều tại các địa phương. Thực tế thì việc trộm cắp dây cáp và các thiết bị khác của công trình điện và thông tin liên lạc của các bị cáo đơn giản chỉ để bán phế liệu lấy tiền chi tiêu. Số tiền mà các bị cáo thu được khi bán tài sản lấy trộm là không lớn, nhưng do bị xét xử về tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia nên cái giá phải trả là những mức án mà bản thân bị cáo và gia đình của họ không thể ngờ đến. Xin nêu một vài vụ án cụ thể sau đây để minh chứng cho điều này.

Vụ án thứ nhất, tối ngày 26-8-2006, Ngô Quốc D (sinh năm 1990), Trần Văn H (sinh năm 1991) và Trần Văn Th hẹn nhau đến tuyến cáp thông tin liên lạc liên xã, từ xã Quảng Long đến xã Quảng Phương, huyện Quảng Trạch (Quảng Bình) cắt trộm 125m dây cáp. Cả ba người mang số dây cáp đến nơi vắng người qua lại rồi đốt lấy lõi đồng đem đi bán được 3.500.000 đồng chia nhau. Sau khi bị phát hiện Trần Văn Th bỏ trốn (đang bị truy nã), còn Ngô Quốc D và Trần Văn H đã bị khởi tố điều tra rồi truy tố, xét xử về tội phá hủy công trình quan trọng về an ninh quốc gia, mỗi bị cáo phải chịu mức án 24 tháng tù.

Vụ án thứ hai, trong khoảng thời gian từ ngày 08 đến ngày 23-11-2006, Lê Hiến Th (sinh năm 1991) đã 9 lần tham gia cùng các đồng phạm cắt trộm dây cáp của tuyến thông tin liên xã, từ xã Quảng Phú đến xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch (Quảng Bình). Số dây cáp cắt trộm được các bị cáo đốt lấy lõi đồng đem đến bán cho những người thu mua phế liệu lấy tiền chia nhau chi tiêu. Sau khi bị khởi tố vì là người chưa thành niên nên được tại ngoại, Lê Hiến Th lại tiếp tục cắt trộm dây cáp thông tin thêm hai lần nữa. Với những lần cắt trộm dây cáp đó, Lê Hiến Th bị truy tố và xét xử trong hai vụ án theo tội danh phá hủy công trình quan trọng về an ninh quốc gia với tổng mức hình phạt của hai bản án là 54 tháng tù.

Vụ án thứ ba, từ ngày 04-01-2008 đến ngày 18-02-2008, Thái Văn Th (sinh năm 1991) đã ba lần đến hệ thống tuyến cáp truyền dẫn thông tin phục vụ điện thoại cố định cho 48 hộ dân tại xã Quảng Phong (Quảng Bình) cắt trộm dây cáp đốt lấy lõi đồng bán lấy tiền chi tiêu. Tổng số ba lần, Thảo cắt trộm được 52m dây cáp bán được 832.000đồng. Đến lần thứ tư khi chưa kịp tiêu thụ số dây cáp cắt trộm được thì bị phát hiện bắt giữ. Với hành vi phạm tội đó, Thái Văn Th đã bị Tòa án xử phạt 36 tháng tù về tội phá hủy công trình quan trọng về an ninh quốc gia.

Trong cả ba vụ án nêu trên, do các bị cáo đều là những người chưa thành niên nên được hưởng chính sách hình sự về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội và quy định tại Điều 74 BLHS là chỉ phải chịu mức hình phạt tối đa không quá 3/4 so với mức hình phạt áp dụng đối với người đã thành niên, nếu không thì mức án dành cho các bị cáo còn cao hơn nhiều.

Không chỉ ba vụ án nêu trên mà thực tiễn xét xử tại các địa phương cho thấy, hầu hết tất cả các trường hợp cắt trộm dây dẫn và lấy trộm thiết bị khác của hệ thống truyền tải điện và hệ thống truyền dẫn thông tin liên lạc đang hoạt động đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phá hủy công trình quan trọng về an ninh quốc gia. Tuy hành vi của các bị cáo là lén lút chiếm đoạt tài sản, thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành của tội trộm cắp tài sản nhưng lại bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phá hủy công trình quan trọng về an ninh quốc gia. Sở dĩ như vậy là do những người tiến hành tố tụng cho rằng tất cả các công trình thuộc hệ thống truyền tải điện và truyền dẫn thông tin đều là các công trình quan trọng về an ninh quốc gia. Mặt khác, theo nguyên tắc định tội danh khi hành vi phạm tội xâm phạm nhiều quan hệ xã hội (khách thể) thì căn cứ vào tính chất quan trọng của quan hệ xã hội nào thể hiện được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì sẽ định tội theo tội danh đó. Từ thực tế đó, câu hỏi đặt ra là, việc xét xử hành vi trộm cắp dây cáp và các thiết bị của hệ thống tải điện và truyền dẫn thông tin như hiện nay liệu có đúng pháp luật? Để trả lời cho câu hỏi này thì cần phải làm rõ có phải tất cả các công trình truyền tải điện và truyền dẫn thông tin đều là công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia hay không.

3. Đi tìm lời giải

Như chúng ta đã biết, pháp luật là quy tắc xử sự chung điều chỉnh các quan hệ xã hội, do đó để hiểu đúng, hiểu đủ tinh thần quy định của pháp luật thì trước hết cần phải thấu hiểu quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh. Ngược thời gian lịch sử trở về giai đoạn từ sau khi đất nước được thống nhất cho đến những năm đầu của thời kỳ đổi mới, do sự tàn phá nặng nề của chiến tranh cộng với nhiều năm thực hiện cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa, bao cấp nên cơ sở hạ tầng kinh tế của đất nước còn quá nghèo nàn và lạc hậu, phần lớn người dân sống trong cảnh nghèo đói. Trong thời kỳ này, hệ thống truyền tải điện và hệ thống truyền dẫn thông tin liên lạc còn quá ít, chủ yếu phục vụ hoạt động của các cơ quan, tổ chức và các cơ sở kinh tế của nhà nước ở khu vực thành thị mà chưa vươn tới việc phục vụ dân sinh (có chăng chỉ là số ít cư dân thành thị).  Trong điều kiện lịch sử đó, thì hầu như công trình truyền tải điện và truyền dẫn thông tin liên lạc nào cũng xứng tầm để xếp vào diện công trình quan trọng về an ninh quốc gia và được bảo vệ nghiêm ngặt. Bất cứ một hành vi nào xâm phạm đến các công trình điện và thông tin liên lạc cũng đều ảnh hưởng đến việc bảo vệ an ninh quốc gia. Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại các thế lực thù địch, các phần tử bất mãn chính trị tìm mọi cách chống đối nên tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội tương đối phức tạp. Bộ luật Hình sự năm 1985 được ban hành trong bối cảnh đó nên nhà làm luật đã xếp tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (quy định tại Điều 94) vào Chương I – Các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Theo tinh thần chủ đạo đó, Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của BLHS năm 1985 đã nhấn mạnh: “Nói chung, mọi hành vi cắt trộm đường dây thông tin – liên lạc (điện thoại hoặc truyền thanh), đường dây tải điện, đang vận hành hoặc đang mắc dở dang để chuẩn bị vận hành mà không có mục đích chống chính quyền nhân dân, đều cấu thành tội phạm quy định ở Điều 94” (tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia). Trong những năm sau đó tình trạng cắt trộm đường dây thông tin liên lạc (đặc biệt là tuyến đường dây thông tin liên lạc của đường sắt) xẩy ra tương đối nhiều nên Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành nhiều công văn cũng như trong các báo cáo tổng kết công tác xét xử hàng năm đã chỉ đạo các Tòa án địa phương phải xét xử nghiêm đối với loại tội phạm này.

Sau một thời gian tình hình kinh tế – xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được củng cố, ổn định, cùng với nhận thức mới về mặt nội dung cũng như kỹ thuật lập pháp nên khi soạn thảo và ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999, tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia không được coi là tội xâm phạm an ninh quốc gia và đã được đưa vào Chương XIX – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (quy định tại Điều 231). Đến nay, đã trãi qua hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế – xã hội, kết quả bước đầu đã gặt hái được những thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Cơ sở hạ tầng từng bước được hiện đại hóa, kinh tế tri thức ngày càng chiếm ưu thế, đời sống vật chất và tinh thần của người dân từng bước được nâng cao. Hiện nay, các công trình truyền tải điện và thông tin liên lạc không chỉ độc tôn phục vụ hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cơ sở kinh tế của nhà nước mà lượng lớn hơn là phục vụ dân sinh. Việc xã hội hóa không chỉ từ phía người sử dụng dịch vụ mà cả ở phía bên cung cấp dịch vụ. Điện sáng và thông tin liên lạc đã đến tận các bản, làng xa xôi. Việc sử dụng điện thoại di động đã trở thành loại dịch vụ bình dân mà mọi tầng lớp trong xã hội đều có thể sử dụng. Phương tiện thông tin liên lạc hữu tuyến đã và đang lép vế so với thông tin liên lạc vô tuyến. Do đó, trong điều kiện hiện nay thì không thể coi tất cả mọi công trình truyền tải điện và truyền dẫn thông tin liên lạc đều là công trình quan trọng về an ninh quốc gia. Không thể căn cứ vào quy mô công trình lớn hay nhỏ; lưới điện cao áp hay hạ áp để xác định đó là công trình quan trọng về an ninh quốc gia mà phải căn cứ vào tính năng, mục đích sử dụng của từng công trình cụ thể. Với sự chuyển biến của tình hình kinh tế – xã hội, đòi hỏi phải có tư duy và nhận thức mới để khoanh vùng, xác định ranh giới rõ nét hơn đối với các công trình quan trọng về an ninh quốc gia. Điều này không chỉ để tập trung nhân lực, vật lực nhằm bảo vệ tốt hơn đối với các công trình quan trọng về an ninh quốc gia mà qua đó còn góp phần xác định đúng đắn tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, xử lý công bằng, minh bạch đối với những hành vi xâm phạm công trình quan trọng về an ninh quốc gia cũng như công trình không liên quan đến an ninh quốc gia. Xuất phát từ đòi hỏi đó ngày 20-4-2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Để triển khai thực hiện Pháp lệnh này, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 126/2008/NĐ-CP ngày 11-12-2008, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh nói trên (sau đây gọi tắt là Nghị định số 126). Pháp lệnh Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia cũng như Nghị định số 126 đã quy định cụ thể các tiêu chí để xác định công trình thuộc danh mục công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Tiêu chí trước hết, phải là công trình có một trong các đặc trưng sau:

Thứ nhất, công trình đó phải là cơ sở vật chất đặc biệt quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, đó là:“- Công trình quốc phòng, an ninh quan trọng nếu để xẩy ra sự cố hoặc bị phá hoại sẽ làm suy yếu khả năng phòng thủ bảo vệ Tổ quốc hoặc trực tiếp tác động đến sự tồn tại của chế độ; – Công trình văn hóa, thông tin – truyền thông nếu bị phá hoại hoặc bị lợi dụng làm phương tiện thông tin, tuyên truyền chống lại chính quyền nhà nước sẽ trực tiếp tác động đến tư tưởng người dân, đến sự tồn tại của chế độ; – Công trình có sử dụng công nghệ hạt nhân (lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu, nhà máy điện hạt nhân), công trình đặc biệt quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị – xã hội, giao thông, đê điều, điện lực, thủy lợi, xây dựng nếu để xẩy ra sự cố hoặc bị phá hoại sẽ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đến nền kinh tế quốc dân, gây thảm họa đối với đời sống con người, môi trường sinh thái”.

Thứ hai, là nơi tập trung lưu giữ, bảo quản nhiều hồ sơ tài liệu, mẫu vật, hiện vật thuộc danh mục bí mật nhà nước hoặc có giá trị đặc biệt quan trọng về chính trị – ngoại giao, văn hóa – lịch sử, kinh tế, khoa học – kỹ thuật; nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động nghiên cứu, hoạch định chủ trương, chính sách thuộc phạm vi bí mật nhà nước.

Thứ ba, là nơi bảo quản vật liệu, chất đặc biệt nguy hiểm đối với con người, môi trường sinh thái.

Thứ tư, công trình khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Ngoài các tiêu chí thể hiện tính chất đặc trưng nêu trên thì công trình đó phải là công trình đòi hỏi phải áp dụng công tác bảo vệ đặc biệt, tuyệt đối an toàn trong quá trình khảo sát, thiết kế, xây dựng, quản lý và sử dụng theo quy định của Pháp lệnh Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, quy định của Nghị định số 126 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

Các công trình có các tiêu chí trên phải được cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị, được Hội đồng thẩm định xét duyệt trình Thủ tướng Chính phủ quyết định đưa vào danh mục công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Với các quy định nêu trên thì phạm vi đối tượng các công trình được coi là công trình quan trọng về an ninh quốc gia đã thu hẹp hơn so với quan điểm truyền thống xưa nay thể hiện qua thực tiễn xét xử.

4. Kiến nghị

Như vậy, từ thực tiễn, lý luận và pháp luật thực định nêu trên dễ nhận thấy rằng, việc nhận thức và áp dụng pháp luật trong việc xét xử các hành vi trộm cắp thiết bị công trình điện và thông tin trong những năm qua đã xa rời và không theo kịp với sự phát triển của kinh tế và xã hội cũng như các quy định của pháp luật mới ban hành. Các tuyến đường dây truyền dẫn thông tin phục vụ dân sinh như đã nêu ở các vụ án trên khó có thể đáp ứng được các tiêu chí để được coi là công trình quan trọng về an ninh quốc gia. Không chỉ xét theo các tiêu chí trên mà một người dân bình thường cũng có thể nhận thức được rằng, việc cắt trộm các tuyến đường dây thông tin phục vụ dân sinh như ở các vụ án trên thì không thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Đành rằng, việc trộm cắp các thiết bị công trình điện và thông tin phục vụ dân sinh thể hiện tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với trộm cắp các tài sản thông thường. Tuy nhiên, điều đó chỉ có ý nghĩa khi quyết định mức hình phạt mà không thể khép vào tội danh có khung hình phạt cao hơn nhiều so với tội trộm cắp tài sản.

Sở dĩ, có thực trạng như đã nêu trên, trước hết là do yếu tố nhận thức pháp luật của những người tiến hành tố tụng, tuy nhiên cũng có một phần là do sự bất cập của pháp luật hình sự hiện hành. Cụ thể đó là, mặc dù tiêu đề của Điều 231 BLHS là “Tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”, tuy nhiên trong nội dung dấu hiệu pháp lý về khách thể của tội phạm này thì không có giới hạn về phạm vi công trình được coi là quan trọng mà lại gồm tất cả các công trình hoặc phương tiện giao thông vận tải, thông tin – liên lạc, công trình điện,…Do vậy, việc xét xử như đã nêu trên tuy không hợp lý, không phù hợp với đòi hỏi của thực tế cuộc sống nhưng lại phù hợp với căn cứ pháp luật. Trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự ban hành ngày 19/6/2009 chưa sửa đổi nội dung điều luật này.

Để chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ trong việc xét xử về tội phá hủy công trình quan trọng về an ninh quốc gia, trong năm 2009 TANDTC đã liên tiếp ban hành Công văn số 99/TANDTC-KHXX ngày 01/7/2009 và Công văn số 144/TANDTC-KHXX ngày 20/8/2009 hướng dẫn, để xác định công trình quan trọng về an ninh quốc gia cần phải căn cứ vào quy định của Pháp lệnh Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia và Nghị định số 126/2008/NĐ-CP. Tuy nhiên, do giá trị hiệu lực pháp lý của hình thức văn bản nên dường như chưa thật sự “đủ liều” để thay đổi nhận thức của những người thực thi pháp luật. Để đảm bảo sự thống nhất trong các quy định của pháp luật cũng như nhận thức, áp dụng pháp luật trong việc xét xử về tội phá hủy công trình quan trọng về an ninh quốc gia, trước mắt liên ngành các cơ quan tư pháp ở cấp trung ương cần sớm thống nhất hướng dẫn về vấn đề này. Về lâu dài cần nghiên cứu sửa đổi quy định tại Điều 231 của BLHS theo hướng xác định khách thể của tội phạm này theo tinh thần quy định của Pháp lệnh Bảo vệ công trình quan trọng về an ninh quốc gia và Nghị định số 126/2008/NĐ-CP. Mặt khác, song song với việc hoàn thiện pháp luật và nhận thức trong áp dụng pháp luật cần tiến hành việc rà soát để thực hiện theo nguyên tắc có lợi khi phi hình sự hóa cho những người đã bị kết án về tội phá hủy công trình quan trọng về an ninh quốc gia mà đối tượng bị xâm phạm thực sự không phải là công trình quan trọng về an ninh quốc gia.

Phạm Thái Quý, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Quảng Bình

Theo: Cổng thông tin điện tử TANDTC (http:toaan.gov.vn)

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: