RSS

“Nguyên đơn dân sự có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS theo Khoản 2 Điều 46 BLHS hay không?”

09 Jan

 

* Khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 có quy định về các tình tiết giảm nhẹ:

“2.Khi quyết định hình phạt, Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án”.

Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của BLHS năm 1999 cũng đã có hướng dẫn chi tiết quy định này tại tiểu mục c Mục 5. Theo đó, các tình tiết sau đây được coi là các tình tiết giảm nhẹ khác:

“- Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sỹ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước.

– Bị cáo là thương binh hoặc có người thân thích như vợ, chồng, cha, mẹ, con (con đẻ hoặc con nuôi), anh, chị em ruột là liệt sỹ;

– Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên;

– Người bị hại cũng có lỗi;

– Thiệt hại do lỗi của người thứ ba;

– Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo;

– Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khỏe của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản;

– Phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu.

Ngoài ra, khi xét xử, tùy theo từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi rõ trong bản án”.

Như vậy, ngoài các tình tiết giảm nhẹ TNHS đã được liệt kê tại Khoản 1 Điều 46 BLHS và tiểu mục c Mục 5 Nghị quyết 01/2000 nói trên (được quy định là tình tiết giảm nhẹ ở Khoản 2 Điều 46 BLHS) thì pháp luật cũng đã có quy định “mở” là: khi xét xử, tùy theo từng trường hợp và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội thì còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi rõ trong bản án.

Vận dụng quy định này, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, tùy theo từng trường hợp cụ thể mà nhiều Tòa cũng đã coi các tình tiết mà các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hình sự chưa liệt kê ra là tình tiết giảm nhẹ TNHS cho người phạm tội như: bị cáo là lao động chính trong gia đình; bị cáo có con nhỏ; hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo nộp lại tiền thu lợi bất chính cho Nhà nước (không phải tiền bồi thường, sửa chữa, khắc phục hậu quả); bị cáo là người dân tộc; bị cáo không biết chữ; bị cáo còn đi học hay bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt (hoặc xin hưởng án treo) của tập thể nhân dân địa phương hoặc tổ chức nơi cư trú, học tập hoặc nơi công tác…

Tuy nhiên, do là quy định mang tính chất tùy nghi chứ không bắt buộc chung. Do đó, tùy theo từng địa phương, thậm chí là tùy theo từng vụ án mà từng Tòa hay từng HĐXX có thể áp dụng là tình tiết giảm nhẹ TNHS cho bị cáo này nhưng lại không áp dụng cho bị cáo khác.

Đối chiếu lại với hai trường hợp mà tác giả nêu ra, theo quan điểm của chúng tôi thì HĐXX có thể coi hoặc không coi việc “Nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” là một tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 46 BLHS cũng đều không sai với hướng dẫn tại tiểu mục c Mục 5 của Nghị quyết 01/2000.

Mặt khác, chủ thể xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hoặc được xem xét để áp dụng là tình tiết giảm nhẹ TNHS cho bị cáo cũng không nhất thiết phải là người có quyền kháng cáo đến phần hình phạt đối với bị cáo, thậm chí họ còn không có tư cách tham gia tố tụng trong vụ án chứ chưa nói đến có quyền gì trong tố tụng như: cha, mẹ, anh, chị, em ruột… của bị cáo đã thành niên; nhân dân địa phương, cơ quan đơn vị nơi bị cáo công tác, học tập (trừ trường hợp bị cáo phạm tội vì lí do công vụ liên quan đến cơ quan, đơn vị…).

Như vậy, nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hoàn tòan có cơ sở để xem xét, áp dụng là một tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại Khoản 2 Điều 46 BLHS.

Tuy nhiên, để pháp luật được áp dụng thống nhất theo chúng tôi các cơ quan tố tụng ở trung ương cũng cần tiến hành tổng kết những kinh nghiệm chung trong những năm qua, có văn bản liên ngành liệt kê cụ thể và đầy đủ hơn những tình tiết nào có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ TNHS theo Khoản 2 Điều 46 BLHS để tránh sự tùy tiện trong việc vận dụng trong thực tế.

Trên đây là quan điểm của chúng tôi, rất mong nhận được sự góp ý tranh luận của các đồng chí và bạn đọc.

Hoàng Thị Thu Hằng

Theo: Cổng thông tin điện tử TANDTC (http://toaan.gov.vn)

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: