RSS

Những vướng mắc khi áp dụng Điều 105 BLTTHS vào thực tiễn

11 Jan

 

Trước tiên chúng tôi hoàn toàn đồng tình với tác giả về quy định tại Điều 105 BLTTHS năm 2003 còn có nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau trong thực tiễn do chưa có các văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể chi tiết.

Tuy nhiên, đối với trường hợp cụ thể ở ví dụ 2 mà tác giải đã nêu ra, chúng tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm thứ hai, bởi lẽ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất (sau đây gọi chung là người bị hại) chỉ có quyền yêu cầu khởi tố vụ án trong một số tội phạm cụ thể đã được liệt kê và tội phạm đó cũng phải bị truy cứu TNHS ở khoản 1 (khoản có khung hình phạt nhẹ nhất) của điều luật chứ luật không quy định người bị hại có quyền yêu cầu khởi tố một bị can (bất kỳ nào đó) cụ thể:

“1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại Khoản 1 các Điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của BLHS chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.” (Khoản 1 Điều 105 BLTTHS).

Còn quyền và cũng là trách nhiệm khởi tố bị can là của cơ quan điều tra (Khoản 1 Điều 126 BLTTHS: “Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan Điểu tra ra quyết định khởi tố bị can”). Mặt khác, tại Khoản 2 Điều 105 BLTTHS nhà làm luật cũng đã quy định:“2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ…”.

Do đó, khi người bị hại xin rút yêu cầu (là yêu cầu khởi tố vụ án theo quy định tại Khoản 1 điều này) trước ngày mở phiên toà sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ (không phân biệt vụ án đó có một bị can hay nhiều bị can). Hiểu theo cách khác, trong một vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì khi người đã yêu cầu khởi tố đó rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa thì vụ án đó bị đình chỉ và đương nhiên tất cả các bị can đồng phạm trong vụ án đó cũng phải bị đình chỉ điều tra bị can, tức luật không cho phép người bị hại có sự lựa chọn chỉ xử lý TNHS với một (hay nhiều) bị can này mà không yêu cầu xử lý đối với một hay những bị can còn lại.

Trong vụ án cụ thể mà tác giả nêu ra (ở ví dụ 2) thì yêu cầu của người bị hại xin không xử lý B chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại Khoản 2 Điều 46 BLHS (đã được hướng dẫn tại tiểu mục c mục 5 Nghị quyết số 01/2000 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của BLHS năm 1999). Nếu B có nhiều tình tiết giảm nhẹ khác, lập công lớn hoặc do chuyển biến của tình hình tội phạm mà hành vi của người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa… thì sẽ được các cơ quan tiến hành tố tụng trong từng giai đoạn cụ thể, tương ứng với thẩm quyền xem xét và quyết định việc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại các Điều 25, 54, 57 BLHS.

Mặt khác chúng tôi cũng đồng tình với quan điểm thứ hai cho rằng, việc khởi tố bị can không phụ thuộc vào ý chí của người bị hại sẽ đảm bảo được tính công bằng, bình đẳng trước pháp luật, tránh được sự bất công giữa những người cùng thực hiện một tội phạm với một chủ thể nhất định.

Ví dụ: A và B cùng gây thương tích cho C 11%. Sau đó, A có điều kiện kinh tế khá giả nên đã bồi thường một số tiền lớn cho C và đã mua chuộc được C “bỏ qua” cho mình. Trong khi đó, B vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên chưa có điều kiện để bồi thường hoặc bồi thường không đúng theo yêu cầu của C. Lúc này, C vì lóa mắt trước đồng tiền nên chỉ yêu cầu khởi tố B (có thể có mục đích là ép buộc B cũng phải bồi thường một khoản tiền thì sẽ rút đơn), trong khi đó lại không yêu cầu khởi tố A. Như vậy sẽ tạo ra sự bất bình đẳng trước pháp luật.

Như vậy, theo chúng tôi dựa trên các câu từ được dùng ở Khoản 1 Điều 105 BLTTHS và các quy định khác có liên quan trong pháp luật hình sự Việt Nam thì quyền của người bị hại đã được quy định rất rõ ràng là: có quyền quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ án (thông qua việc có hay không có yêu cầu khởi tố vụ án), còn quyền khởi tố hay không khởi tố bị can cụ thể là quyền và trách nhiệm của cơ quan điều tra dựa trên các quy định của pháp luật. Do đó, không cần thiết phải có thêm văn bản dưới luật hướng dẫn quy định này.

Tuy nhiên theo chúng tôi thì Điều 105 BLTTHS có một điểm chưa được hợp lý đó là quy định về thời hạn dành cho người bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án được quy định tại Khoản 2 điều luật:   

“2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.

Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”

Theo quy định của Điều luật này thì người bị hại có quyền và cũng chỉ có quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án kể từ thời điểm xảy ra vụ án cho đến trước ngày mở phiên toà sơ thẩm, khi đó thì vụ án mới được (hoặc phải) đình chỉ. Theo quan điểm của chúng tôi, việc nhà làm luật quy định như vậy là hạn chế quyền tự định đoạt, thỏa thuận giữa bị can (bị cáo) với người bị hại. Bởi lẽ: trong thực tế vì nhiều lý do khác nhau (bị cáo khó khăn, ăn năn hối cải, người bị hại thay đổi suy nghĩ của mình…) nên có nhiều trường hợp đến tận ngày mở phiên toà (nhưng trước thời điểm khai mạc phiên toà) hoặc khi phiên toà đang diễn ra thì người bị hại mới quyết định rút yêu cầu khởi tố vụ án. Khi đó, theo quy định tại Khoản 2 Điều 105 BLTTHS thì quyền rút yêu cầu của người bị hại đã không còn, do đó phiên tòa sơ thẩm vẫn phải mở hoặc tiếp tục xét xử. Như vậy là bất lợi cho bị cáo và cũng không thỏa mãn ý chí của người bị hại (không muốn xử lý hình sự bị cáo nữa).

* Để điều luật được hiểu, áp dụng thống nhất và mang tính nhân văn cao, theo quan điểm của chúng tôi các cơ quan tố tụng liên ngành ở trung ương cần kiến nghị sửa đổi Điều 150 BLTTHS về thời hạn rút yêu cầu khởi tố của người bị hại theo hướng phân tích ở trên. Điều đó sẽ mở rộng hơn quyền của người có quyền yêu cầu khởi tố vụ án trong pháp luật hình sự và cũng là quyền lợi của người bị khởi tố trong vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Tuy nhiên, cũng phải giới hạn thời hạn chấm dứt quyền yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại để tránh tình trạng “tự do thái quá” sẽ làm “nhờn” pháp luật; gây mất thời gian, làm tốn công sức, tiền bạc của các cơ quan hay những người tiến hành tố tụng. Do đó, nhà làm luật nên quy định thời hạn thực hiện quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án của người có quyền yêu cầu khởi tố vụ án là “đến trước khi chủ toạ phiên toà đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử” theo quy định tại Điều 201 BLTTHS.

Trên đây là quan điểm của chúng tôi, rất mong nhận được sự góp ý tranh luận của các đồng chí và bạn đọc.

Đoàn Ngọc Thảo

Theo: Cổng thông tin điện tử TANDTC (http: toaan.gov.vn)


 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: