RSS

Điều tra thân thiện đối với người chưa thành niên

08 Feb

Khái niệm điều tra thân thiện (điều tra nhạy cảm) – mô hình điều tra được tiến hành theo những nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế, cân nhắc nhu cầu và quyền lợi của trẻ em, cân nhắc sự cân bằng giữa quyền được bảo vệ của trẻ em với luật pháp quốc gia và nhu cầu của cộng đồng – là khái niệm ngày càng phổ biến trong đời sống pháp lý quốc tế và các quốc gia có hệ thống pháp luật phát triển, trở thành một chỉ số đánh giá mức độ thực hiện quyền con người và tiến bộ xã hội. Là quốc gia đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em, với những yêu cầu mà các văn kiện pháp lý quốc tế về điều tra, xử lý những vụ án trẻ em/người chưa thành niên (NCTN) phạm tội hoặc bị tổn thương bởi tội phạm, Việt Nam sẽ tiếp cận mô hình điều tra thân thiện (ĐTTT) như thế nào? Cần có các điều kiện gì để hoàn thiện mô hình ĐTTT?

1. Điều tra thân thiện đối với người chưa thành niên theo pháp luật quốc tế

Khái niệm ĐTTT được hình thành từ sự ra đời và thực hiện một loạt các văn bản pháp luật quốc tế về quyền của trẻ em trong thời gian gần đây như Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em (1989), Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hiệp quốc về tư pháp NCTN (1985), Hướng dẫn phòng, chống tội phạm ở NCTN (1990), Quy tắc về bảo vệ NCTN bị tước đoạt quyền tự do (1990), Hướng dẫn của Liên hiệp quốc về các vấn đề tư pháp liên quan tới nạn nhân và nhân chứng trẻ em (2005)…

Qua các văn kiện pháp luật quốc tế, thông lệ quốc tế và các quan điểm khoa học về ĐTTT với NCTN, chúng tôi nhận thấy khái niệm ĐTTT được tiếp cận ở các góc độ cơ bản sau: thứ nhất, ĐTTT được tiếp cận như một thiết chế tố tụng tiền xét xử với yếu tố bộ máy, nhân lực, cơ sở vật chất và phương thức làm việc với NCTN trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ; thứ hai, ĐTTT được tiếp cận như một phương thức tiến hành tố tụng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN tham gia tố tụng với sự ghi nhận quyền của NCTN và trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Hoạt động ĐTTT đối với NCTN cần đạt được các tiêu chí cụ thể1: “Việc điều tra phải thực hiện trên cơ sở trẻ em/NCTN phải được coi là vô tội cho tới khi luật pháp chứng minh được chúng có tội; cấm mọi hình thức đe dọa, vũ lực hoặc làm trẻ sợ hãi; công tác quan hệ với nạn nhân, nhân chứng được cải thiện tốt hơn sẽ khiến trẻ và gia đình sẵn sàng khai báo những vụ ngược đãi và ủng hộ hơn cho hệ thống tư pháp; cần đối xử nhạy cảm và quan tâm chăm sóc đến nạn nhân, nhân chứng trẻ em, cân nhắc nhu cầu, độ tuổi, giới tính, mức độ trưởng thành của các em, tôn trọng sự toàn vẹn thể chất, tinh thần và đạo đức của các em; không được ép cung trẻ em/NCTN, ép chúng nhận tội dưới bất kỳ hình thức nào. Các phương pháp lừa gạt và mọi hình thức đe dọa tâm lý có thể được hoặc có thể không được cho phép trong quá trình lấy cung một nghi phạm người lớn sẽ không được sử dụng trong các vụ việc liên quan tới trẻ em/NCTN; nhân viên thực thi luật pháp không được áp dụng, xúi giục hoặc cho phép mọi hành động tra tấn hoặc các hành động dã man, vô nhân đạo hoặc thô bạo khác; quá trình tố tụng phải được tiến hành không chậm trễ; trong các trường hợp một trẻ bị giam giữ trong quá trình điều tra, cần nhanh chóng kết thúc quá trình điều tra mà không sợ ảnh hưởng tới kết quả; trong trường hợp cần thiết, cần có người phiên dịch để đảm bảo quá trình điều tra được công bằng và các tuyên bố và thú nhận của người vi phạm không bị hiểu sai. Trẻ cũng có quyền yêu cầu một người phiên dịch khi cần để giao tiếp với đại diện của mình; trẻ em/NCTN phải được báo tin trực tiếp và nhanh chóng về các cáo buộc chống lại chúng ngay khi một cuộc điều tra về các cáo buộc đó được tiến hành; quyền tự do cá nhân của trẻ cần được tôn trọng trong suốt quá trình điều tra và các quy trình tố tụng khác; trẻ em/NCTN có quyền được bào chữa và được hưởng sự trợ giúp pháp lý và các hình thức biện hộ khác trong quá trình chuẩn bị và đưa ra lời biện hộ của mình. Trẻ em và người đại diện của chúng có quyền đối chứng và quyền đưa nhân chứng khác đại diện cho chúng. Quyền này buộc cảnh sát phải có trách nhiệm cung cấp thông tin cho trẻ về những chứng cứ chống lại chúng và các thông tin liên quan khác mà cảnh sát thu thập được trong quá trình điều tra”.

Như vậy, mô hình ĐTTT qua những phác thảo này nhấn mạnh đến phương thức đối xử của các cơ quan tiến hành tố tụng với NCTN theo hướng tôn trọng danh dự, nhân phẩm cho đối tượng đặc biệt này. Trong mô hình ĐTTT, việc đặt ra trách nhiệm, nghĩa vụ đối xử của các cơ quan tiến hành tố tụng chính là phương thức bảo đảm cho các quyền của NCTN. Những tiêu chí nêu trên của mô hình ĐTTT xuất phát từ nguyên tắc cơ bản về quyền trẻ em: “Mọi trẻ bị cáo buộc, buộc tội hoặc bị coi là vi phạm luật hình sự đều có quyền được đối xử phù hợp với sự phát triển ý thức về nhân phẩm và phẩm chất của trẻ. Sự phát triển ý thức đó giúp tăng thêm ý thức tôn trọng các quyền con người và quyền tự do cơ bản của người khác, và giúp xem xét khía cạnh lứa tuổi của trẻ và mong muốn của chúng về sự tái hòa nhập cộng đồng” (Điều 40 Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em).

Cách tiếp cận khái niệm ĐTTT theo giác độ thứ hai cũng có những hợp lý, bởi phương thức đối xử với NCTN, phương thức xử lý các vấn đề trong vụ án NCTN quy định nội hàm, bản chất của cái gọi là “ĐTTT”. Tuy nhiên, để phương thức đó được thực hiện, các điều kiện về pháp luật, bộ máy, con người, cơ sở vật chất… (mà cách tiếp cận thứ nhất đưa vào nội dung khái niệm) phải được đặt ra, những yếu tố này là điều kiện để bảo đảm cho mô hình ĐTTT.

Nói một cách khái quát, chúng tôi cho rằng, ĐTTT được hiểu là một phương thức xử lý các vấn đề trong quá trình điều tra vụ án có sự tham gia tố tụng của NCTN trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng tối đa các quyền của NCTN, các quyết định và hành vi tố tụng phải xuất phát từ sự cân nhắc nhu cầu và quyền lợi của NCTN.

Mặc dù không quy định cụ thể về ĐTTT nhưng các văn bản pháp lý quốc tế đòi hỏi (Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em) hay khuyến nghị (với các Quy tắc, Hướng dẫn khác của Liên hiệp quốc):

– Tôn trọng và thực hiện đầy đủ các nội dung nhân quyền cơ bản của NCTN khi họ tham gia tố tụng hình sự (quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản…);

– Tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quyền cơ bản của người bị buộc tội trong TTHS (quyền được suy đoán vô tội, quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa…);

– Tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quyền ưu tiên của NCTN về đối tượng chứng minh trong vụ án NCTN phạm tội;

– Giai đoạn điều tra và toàn bộ quá trình tố tụng hướng tới sự phục hồi nhân cách, phẩm giá của NCTN phạm tội và NCTN bị tổn thương bởi tội phạm với yêu cầu giảm thiểu tối đa phạm vi tiếp cận thông tin về vụ án từ phía công chúng và các chủ thể có liên quan; các thiết chế vật thể – hoạt động tố tụng phải bảo đảm sự phù hợp với độ tuổi trẻ em/NCTN từ kiến trúc, các trang thiết bị nội, ngoại thất, giảm thiểu tối đa tính thị uy, trấn áp mà không gian tổ chức điều tra, giam giữ đưa lại;

– Giai đoạn điều tra và toàn bộ quá trình tố tụng giảm thiểu tối đa thời hạn tố tụng; hướng bỏ ngỏ ở mức độ tối đa khả năng chuyển hướng xử lý sang các biện pháp pháp lý phi hình sự;

– Việc giam giữ tiền xét xử NCTN trong thời hạn ngắn nhất có thể và là biện pháp cuối cùng; chế độ giam giữ riêng theo hướng nhân đạo hơn đối với NCTN phạm tội phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi.

– Người tiến hành tố tụng phải có kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm về tội phạm do NCTN thực hiện, về tâm sinh lý lứa tuổi chưa thành niên, về giao tiếp với NCTN và tâm huyết, sự chia sẻ với NCTN;

– Sự tham gia tố tụng sớm hơn, sâu hơn và đầy đủ hơn, thậm chí là bắt buộc của người bào chữa trong vụ án NCTN;

– Sự tham gia tố tụng bắt buộc của đại diện gia đình và/hoặc của tổ chức bảo trợ trẻ em đại diện cho cộng đồng cùng sự cung cấp các dịch vụ y tế và hỗ trợ tâm lý trong vụ án NCTN.

2. Pháp luật Việt Nam hướng tới mô hình điều tra thân thiện đối với trẻ em

Xuất phát từ chính sách hình sự nhân đạo và sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với NCTN, Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) Việt Nam đã có những quy định tại Phần thứ 7 Chương XXXII gồm 10 điều ghi nhận và bảo đảm thực hiện các quyền của người bị buộc tội, các quyền của trẻ em, nhiều điều luật đã hướng tới một môi trường tố tụng thân thiện đối với NCTN.

Người tiến hành tố tụng là chủ thể quan trọng nhất trong việc tạo ra một môi trường ĐTTT. Bộ luật TTHS đã đặt ra yêu cầu “Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán tiến hành tố tụng đối với NCTN phạm tội phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của NCTN” (Điều 302).

Các vấn đề đặc thù trong vụ án NCTN đã được các nhà làm luật Việt Nam quy định trong pháp luật TTHS có tác dụng định hướng tiến trình điều tra. Mặc dù đây là những vấn đề thuộc về mục đích, nội dung của hoạt động chứng minh nhưng liên quan chặt chẽ đến phương thức và các biện pháp điều tra. Bởi lẽ, việc làm rõ trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội, điều kiện sinh sống và giáo dục, nguyên nhân và điều kiện phạm tội của NCTN… về cơ bản chỉ đạt hiệu quả tốt khi bản thân các chủ thể chứng minh có tâm huyết, sự cảm thông chia sẻ và kỹ năng làm việc với NCTN. Tâm huyết, sự cảm thông, chia sẻ và kỹ năng làm việc với NCTN chính là điều kiện cho việc thiết lập một môi trường ĐTTT với NCTN.

Công ước về quyền trẻ em yêu cầu trẻ em không bị tước đoạt quyền tự do một cách bất hợp pháp hay tùy tiện. Việc giam giữ NCTN trước khi xét xử chỉ trong thời hạn thích hợp ngắn nhất và là biện pháp cuối cùng khi không còn sự lựa chọn nào khác. Pháp luật TTHS Việt Nam cũng đã có những quy định hạn chế việc áp dụng các biện pháp giam giữ khi cho phép Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể ra quyết định giao NCTN phạm tội cho cha, mẹ hoặc người đỡ đầu của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của NCTN phạm tội khi có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. Điều 303 Bộ luật TTHS quy định: “1. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 của Bộ luật này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. 2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 của Bộ luật này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng”.

Để bảo đảm quyền bào chữa của NCTN, bảo đảm cho việc xác định toàn diện các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án NCTN cũng như bảo đảm cho NCTN nhận được các hỗ trợ về tâm lý trong quá trình điều tra, sự tham gia của người bào chữa và đại diện gia đình, nhà trường, tổ chức trong giai đoạn điều tra cũng được pháp luật ghi nhận. Người bào chữa tham gia tố tụng là bắt buộc trong vụ án NCTN phạm tội và cơ quan điều tra có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ tham gia tố tụng.

Những quy định nêu trên cho thấy pháp luật Việt Nam đã chủ động hướng tới một mô hình ĐTTT cho NCTN. Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, pháp luật Việt Nam mặc dù đã có những nỗ lực không nhỏ trong việc nội luật hóa các chuẩn mực, yêu cầu về bảo đảm quyền của NCTN trong TTHS cũng như tiếp thu các kinh nghiệm lập pháp nước ngoài, nhưng vẫn còn những bất cập tương đối lớn cần được bổ sung, hoàn thiện, cụ thể:

Một là, các văn bản pháp luật quốc tế yêu cầu các quốc gia thành viên ban hành các thủ tục, đạo luật, thành lập các cơ quan chuyên trách xử lý NCTN vi phạm pháp luật, đặc biệt khuyến nghị các quốc gia thành lập tòa án chuyên trách thực hiện việc xét xử NCTN phạm tội. So với các yêu cầu trên, pháp luật TTHS Việt Nam tuy đã có một chế định bao gồm 10 điều luật quy định trong một chương riêng của Bộ luật TTHS nhưng chưa có một văn bản pháp luật độc lập ở cấp độ luật quy định về thủ tục tố tụng đối với NCTN. Thủ tục tố tụng đối với NCTN là người bị hại, người làm chứng được ghi nhận tản mạn trong Bộ luật TTHS.

Hai là, các văn bản dưới luật hiện nay cũng chưa đặt ra tiêu chuẩn về đào tạo, kinh nghiệm đối với đội ngũ cán bộ tố tụng được phân công thụ lý vụ án NCTN để cụ thể hóa quy định về những người tiến hành tố tụng phải là “những người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của NCTN”.

Ba là, pháp luật quốc tế đặc biệt nhấn mạnh sự rút ngắn các thời hạn tố tụng và thời hạn giam giữ đối với NCTN. Pháp luật Việt Nam tại Điều 303 Bộ luật TTHS chỉ đề cập đến các trường hợp bắt, tạm giữ, tạm giam NCTN theo tinh thần chung là hạn chế việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn này với NCTN phạm tội trên cơ sở loại tội phạm mà chưa có sự rút ngắn về thời hạn tạm giữ, tạm giam NCTN.

Bốn là, đối với NCTN là người làm chứng, người bị hại, việc giải quyết các vụ án liên quan đến họ cần được tiến hành nhanh nhất có thể, có sự hỗ trợ của các nhà chuyên môn để NCTN được cảm thấy an toàn, khai báo trung thực, tự do bày tỏ quan điểm về kết quả tiến trình tố tụng. Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12/07/2011 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật TTHS đối với người tham gia tố tụng là NCTN – văn bản được ban hành gần đây nhất – cũng mới chỉ đặt ra những quy định mang tính khuyến nghị đối với các cơ quan tiến hành tố tụng về vấn đề này.

Năm là, các bảo đảm cho NCTN là người làm chứng, người bị hại được phục hồi và thúc đẩy sự phục hồi về sức khỏe, tâm lý do tác động của tội phạm và quy trình TTHS, tái hòa nhập xã hội, các dịch vụ tư vấn tâm lý, bảo vệ an toàn, bảo vệ sự riêng tư… mà Hướng dẫn của Liên hiệp quốc về các vấn đề tư pháp đối với trẻ em là người bị hại và người làm chứng khuyến nghị cũng chưa được pháp luật Việt Nam đặt ra cụ thể và cũng chưa có chính sách xã hội về vấn đề.

3. Đội ngũ cán bộ, chế độ chính sách và các điều kiện kinh tế – xã hội khác để áp dụng mô hình điều tra thân thiện

Mô hình ĐTTT được áp dụng thí điểm tại một số địa phương như Đồng Tháp, Hải Phòng từ năm 2007 và tiếp đó là TP. Hồ Chí Minh, Lào Cai, Hà Nội… Qua theo dõi thực tiễn áp dụng thí điểm mô hình này, chúng tôi nhận thấy có ba tiêu chí là những yếu tố cơ bản định hình mô hình ĐTTT. Đó là: cơ sở vật chất (buồng hỏi cung) có nội thất nhẹ nhàng, phù hợp tâm lý lứa tuổi NCTN; cách thức hỏi cung, tiến hành các hoạt động điều tra trực tiếp với NCTN có sự khác biệt đối với người thành niên (nhẹ nhàng hơn, không mắng mỏ, áp đặt; điều tra viên ngồi sau tấm kính một chiều để người bị hại chưa thành niên không nhìn thấy mặt…); các cán bộ tiến hành tố tụng chuyên sâu hơn về án NCTN, thường được phân công điều tra thụ lý vụ án NCTN phạm tội và có hiểu biết về tâm lý giáo dục và thái độ thân thiện, gần gũi với NCTN (tuy đội ngũ cán bộ điều tra này chưa phải là một bộ phận riêng hay chuyên trách điều tra án do NCTN thực hiện). Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12/07/2011 cũng đã đặt yêu cầu: “Nơi lấy lời khai hoặc hỏi cung cần được bố trí theo cách thức phù hợp để làm giảm bớt sự căng thẳng, sợ hãi của NCTN”; và “Điều tra viên, Kiểm sát viên khi tiến hành lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là NCTN phải có thái độ, hành vi cũng như sử dụng ngôn ngữ phù hợp với độ tuổi, giới tính, khả năng nhận thức, mức độ trưởng thành của họ”.

Tuy những phác thảo trên trong hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật còn có khoảng cách nhất định với những đòi hỏi, khuyến nghị của quốc tế về mô hình ĐTTT với NCTN, nhưng đã là tiến bộ vượt bậc về nhận thức và thực tiễn TTHS ở nước ta. Song, qua bốn năm áp dụng thí điểm, mặc dù chưa có tổng kết chính thức nhưng có thể nhận thấy mô hình này cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ “thí điểm”, hiệu quả còn tương đối hạn chế và chưa mang tính phổ cập. Điều quan trọng hơn là những nhận thức về mô hình ĐTTT còn tương đối phiến diện, nặng về mô hình “vật thể”; vấn đề con người, thể chế – những yếu tố phi vật thể chưa thực sự được chú trọng.

Tình trạng điều tra viên không có nhiều kiến thức về NCTN và tâm lý giáo dục dẫn tới những bất cập trong quá trình xử lý vụ án NCTN phạm tội còn tương đối phổ biến. Không ít điều tra viên chưa hiểu hết tâm sinh lý trẻ em nên áp dụng những phương pháp không thật sự phù hợp trong quá trình làm việc với NCTN. Vì vậy, có ý kiến cho rằng qua những từ ngữ trong các biên bản lấy lời khai mà Cơ quan điều tra lập ra cho thấy, những nghi ngờ về các nội dung  không phải do trẻ khai mà do điều tra viên khai không phải là không có cơ sở, ví dụ: làm sao NCTN có thể biết, sử dụng thuần thục những từ ngữ như “hành vi, âm hộ, giao cấu”2. “Thực tế có chuyện điều tra viên mặt hầm hầm, thậm chí đập bàn, quát tháo khi lấy lời khai các cháu. Làm như thế trẻ sẽ hoảng loạn ngay, nhiều khi khai sai sự thật”3. Vì vậy, tiến tới một mô hình ĐTTT, bên cạnh các vấn đề pháp luật và hoàn thiện pháp luật, phải có những người tiến hành tố tụng và những cán bộ tham gia quá trình giải quyết vụ án (cán bộ nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam…) “chuyên nghiệp”. Tính chất chuyên nghiệp trong loại án trên thậm chí đặt ra yêu cầu có hoạt động đào tạo và bằng cấp riêng với đội ngũ cán bộ đặc biệt này, bởi lẽ họ không chỉ đóng vai trò đại diện cho Nhà nước và xã hội mà còn là đại diện cho thế giới “người lớn”. Hình ảnh của Nhà nước, của xã hội, sự công bằng xã hội thể hiện cụ thể, trực tiếp trước mắt NCTN thông qua người tiến hành tố tụng cũng như những cán bộ tham gia quá trình giải quyết án. Do đó, bên cạnh phương diện chuyên môn, về phương diện đạo đức, những người này phải công tâm, chính trực, không định kiến, không tiêu cực. Nếu không có những phẩm chất đó, thái độ và việc làm của họ sẽ dẫn tới sự phủ nhận và ngộ nhận về bản chất của xã hội, của Nhà nước và của thế giới người lớn trong nhận thức của NCTN phạm tội, gây khó khăn cho việc định hình lại nhân cách đứa trẻ. Ngoài ra, bảo đảm NCTN được đối xử thật sự thân thiện còn đòi hỏi sự tham gia bắt buộc của người bào chữa chuyên nghiệp. Trong trường hợp gia đình NCTN không biết hoặc không mời được người bào chữa, cơ quan tiến hành tố tụng phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư chỉ định người bào chữa đã được đào tạo và có kinh nghiệm làm việc với NCTN.

Như chúng tôi đã đề cập, mô hình ĐTTT phải bỏ ngỏ ở mức độ tối đa khả năng chuyển hướng xử lý sang các biện pháp pháp lý phi hình sự. Ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới, các biện pháp xử lý của tư pháp phục hồi và xử lý chuyển hướng cần được nhận thức và áp dụng song hành với tiến trình tố tụng hoặc trước, sau với tiến trình tố tụng để vừa như một điều kiện bảo đảm của mô hình ĐTTT, vừa bảo đảm quyền lợi cho NCTN, đồng thời giúp các cơ quan tư pháp hình sự có thêm các tình tiết là căn cứ quyết định hình phạt, rút ngắn thời gian giam, giữ để điều tra, truy tố, xét xử hoặc giảm thiểu mức trách nhiệm hình sự mà Tòa án áp dụng với NCTN phạm tội hoặc giúp cho quá trình cải tạo, giáo dục, tái hòa nhập cộng đồng của NCTN vận hành đúng hướng.

Yếu tố kinh phí tác động rất lớn tới sự duy trì và lan tỏa của mô hình ĐTTT. Cơ sở vật chất – kỹ thuật của các thiết chế phòng làm việc với NCTN tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, nhà tạm giữ, trại tạm giam, chế độ giam giữ NCTN với các vấn đề về khẩu phần ăn, chế độ sách báo, quần áo, đồ sinh hoạt cá nhân của NCTN cũng có vai trò không nhỏ đối với việc thiết lập môi trường tố tụng thân thiện, chăm lo sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần cho NCTN. Do đó, nếu không có một chính sách tài chính phù hợp thì cũng rất khó có thể đòi hỏi sự khác biệt theo hướng tích cực của thủ tục tố tụng đối với NCTN so với thủ tục tố tụng chung.

Trong mô hình ĐTTT, gia đình, nhà trường, các tổ chức bảo trợ trẻ em và dư luận xã hội đóng vai trò điểm tựa về tâm lý cho NCTN và giúp NCTN tham gia vào quá trình khôi phục các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại. Các chủ thể này, đặc biệt là gia đình thực hiện việc bồi thường thiệt hại, làm giảm bớt tác hại của tội phạm, động viên, khuyến khích NCTN xin lỗi người bị hại để NCTN được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được chuyển hướng xử lý. Những việc làm đó giảm bớt những mâu thuẫn, căng thẳng từ hai phía, khiến người bị hại thân thiện hơn với NCTN, giúp cho NCTN nhận thức được những sai lầm, phục hồi nhân cách và tìm kiếm con đường trở lại với xã hội sau quá trình thi hành án.

Các vấn đề nêu trên dù chưa phải là toàn bộ những tiền đề cho sự vận hành của mô hình ĐTTT với NCTN ở Việt Nam, nhưng cho thấy một hướng đi đúng để tiếp cận với các chuẩn mực của thế giới trong điều kiện Việt Nam trên cả ba lĩnh vực: luật pháp, việc thực thi của các cơ quan chuyên trách và các biện pháp, dịch vụ hỗ trợ.

Chú thích:

(1) Theo: Phạm Văn Hùng, Hệ thống ĐTTT với NCTN, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 20(136), tháng 12/2008.

(2) Theo Vi Trần, Tòa án cho vị thành niên: Không thể trì hoãn, Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh, xem: http://phapluattp.vn /216658p1015c1074/toa-cho-vi-thanh-nien-khong-the-tri-hoan.htm

(3) Theo Vi Trần, Tòa án cho vị thành niên, tlđd

 

ThS. Lê Minh Thắng – Khoa Nhà nước & pháp luật, Học viện Chính trị – Hành chính khu vực I

Theo: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử (www.nclp.org.vn)

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: