RSS

Pháp luật về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật và kiến nghị sửa đổi, bổ sung

09 Feb

1. Các dấu hiệu pháp lý hình sự và hình phạt của Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

Khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2009 (BLHS), quy định: “Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm”. Từ nội dung này và căn cứ vào khoa học luật hình sự, ta thấy các dấu hiệu pháp lý và hình phạt áp dụng đối với tội phạm này như sau:

1.1. Khách thể của tội phạm

Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân nói riêng, quyền tự do, dân chủ của công dân nói chung.

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một trong những quyền tự do cá nhân rất quan trọng của công dân. Rộng hơn nữa, nó còn được coi như một quyền cơ bản của con người được công nhận tại Điều 9 Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người năm 1948: “Không ai bị bắt, giam giữ hay đày đi nơi khác một cách độc đoán”. Điều 9 Công ước quốc tế về Các quyền dân sự và chính trị năm 1966 cũng ghi nhận: “Ai cũng có quyền tự do thân thể và an ninh thân thể. Không ai có thể bị bắt giữ hay giam cầm độc đoán. Không ai có thể bị tước đoạt tự do thân thể ngoại trừ những trường hợp và theo những thủ tục luật định”. Trên cơ sở này, Điều 71 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001) đã quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật”. Từ các quy định của pháp luật quốc tế và của Hiến pháp, vấn đề bắt, giữ hoặc giam người được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS) cụ thể hóa bằng nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự Việt Nam – nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (Điều 6) – và hàng loạt các quy định chặt chẽ về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục áp dụng các biện pháp bắt, giữ hoặc giam người. Ngoài ra, dưới góc độ pháp lý, việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính cũng được quy định chặt chẽ trong Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (PLXLVPHC) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Do đó, bất kỳ người nào xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân thông qua hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, thì tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đều phải bị xử lý bằng chế tài hành chính hay chế tài hình sự.

Đối tượng tác động của tội phạm là con người cụ thể bị người phạm tội bắt, giữ hoặc giam trái pháp luật.

1.2. Mặt khách quan của tội phạm

 Điều 123 BLHS quy định ba hành vi phạm tội: bắt người trái pháp luật; giữ người trái pháp luật; giam người trái pháp luật.

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “Bắt là nắm giữ lấy, không cho hoạt động tự do”; “Giữ là: 1. Làm cho ở nguyên một chỗ, không có sự xê dịch; 2. Làm cho ở trạng thái ổn định, không có sự thay đổi; 3. Trông coi, bảo quản; 4. Đảm nhận”; “Giam là: 1. Giữ người có tội ở chỗ nào đó; 2. Bị ràng buộc, không cho tự do”1.

Dưới góc độ khoa học luật hình sự Việt Nam, bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật được hiểu là các hành vi ngăn cản, tước đoạt sự tự do hoạt động, tự do dịch chuyển thân thể của người khác trái với những quy định của pháp luật về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục. Các hành vi này đều có cùng tính chất và đều là những hành vi xâm phạm quyền tự do thân thể của người khác, có mục đích tước đoạt sự tự do hoạt động, dịch chuyển thân thể của người khác nhưng chỉ khác nhau ở hình thức thể hiện.

Tính pháp luật được đề cập trong nội dung điều luật là không đúng về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục pháp luật quy định trong việc bắt, giữ hoặc giam người. Nội dung này BLTTHS đã quy định tại Điều 80 (Bắt bị can, bị cáo để tạm giam), Điều 81 (Bắt người trong trường hợp khẩn cấp), Điều 82 (Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã), Điều 86 (Tạm giữ), Điều 87 (Thời hạn tạm giữ) và Điều 88 (Tạm giam).

Ngoài ra, tính pháp luật còn được biểu hiện bằng việc quy định về căn cứ, thẩm quyền, thủ tục về tạm giữ người theo thủ tục hành chính (Điều 44) trong PLXLVPHC cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành.

Như vậy, để xác định có hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật hay không, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử cần phải đối chiếu với các quy định của BLTTHS cũng như PLXLVPHC và các văn bản có liên quan về việc bắt, giữ hoặc giam người và tạm giữ hành chính để xác định sai phạm ở khâu nào, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đến đâu mà quyết định xử lý có căn cứ pháp lý, cũng như định tội danh cho chính xác. Tuy vậy, trên thực tế, hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật diễn ra rất đa dạng, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cũng khác nhau, nên thường chỉ xử lý về hình sự đối với các hành vi sau2: thứ nhất, người không có thẩm quyền mà bắt, giữ hoặc giam người (trừ trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc bắt người đang có lệnh truy nã); thứ hai, người tuy có thẩm quyền nhưng lại bắt, giữ hoặc giam người không có căn cứ theo quy định của pháp luật.

Đối với các hành vi bắt, giữ hoặc giam người tuy là trái pháp luật nhưng xét thấy tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi không đáng kể thì không xử lý hình sự mà xử lý bằng các biện pháp khác. Chẳng hạn, khi bắt, giữ hoặc giam người đúng về nội dung, đối tượng, thẩm quyền, đủ căn cứ, chỉ sai về thủ tục, trình tự như: bắt người vào ban đêm mà không phải trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang hay tuy có lệnh bắt nhưng không đọc lệnh khi bắt;… hoặc hành vi tạm giữ người theo thủ tục hành chính mà không có quyết định bằng văn bản của người có thẩm quyền trong lĩnh vực này; v.v..

Thời điểm hoàn thành của tội phạm đối với trường hợp thứ nhất là thời điểm người phạm tội hoàn thành việc thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người. Còn thời điểm hoàn thành của tội phạm đối với trường hợp thứ hai là thời điểm lệnh bắt, giữ hoặc giam người đã được ký và có đóng dấu.

Thủ đoạn, cách thức tiến hành bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật không ảnh hưởng đến việc định tội danh. Thực tiễn cho thấy, người phạm tội có thể dùng sức mạnh về vật chất như đấm, đá, đạp… để trói, nhốt vào thùng xe, cabin, phòng… hoặc dùng bạo lực về mặt tinh thần như đe dọa bắn, đánh, phá tài sản… nếu không để cho bắt, giữ hay giam, hoặc dùng lệnh thật hoặc giả lệnh của cơ quan nhà nước, cũng có thể mời đến làm việc trụ sở cơ quan Công an rồi giữ lại để bắt, giam;…

“Hậu quả của tội phạm” là gây ra những ảnh hưởng tiêu cực không tốt không chỉ đối với người bị bắt, giữ hoặc giam trái pháp luật, mà còn đối với cả người thân, gia đình họ. Ngoài ra, đối với trường hợp do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện thì việc làm này còn có thể làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật và đội ngũ cán bộ, công chức, làm giảm hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm; đồng thời dẫn đến hậu quả là xâm phạm đến quyền tự do thân thể nói riêng, quyền tự do, dân chủ nói chung, đặc biệt là quyền con người của người đã bị bắt, tạm giữ hoặc tạm giam oan, sai. Nếu lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội sẽ bị xử lý theo điểm b Khoản 2 Điều 123 BLHS. Tuy nhiên, “hậu quả của tội phạm” không phải là dấu hiệu bắt buộc trong yếu tố mặt khách quan của tội phạm. Nếu trường hợp người phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật mà “gây hậu quả nghiêm trọng” sẽ bị xử lý theo Khoản 3 Điều 123 Bộ luật này.

Trường hợp khi xem xét hành vi giam, giữ người trái pháp luật trong tội này cần phân biệt với hành vi giam, giữ người trái pháp luật của Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật (Điều 303 BLHS). Theo đó, điểm khác cơ bản nhất là hành vi giam, giữ người trái pháp luật quy định tại Điều 303 BLHS là hành vi không quyết định trả tự do hoặc hành vi không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do của người có chức vụ, quyền hạn trong việc giam, giữ, bao gồm: điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, giám thị và nhân viên nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam. Ngoài ra, khách thể chung của tội phạm ở Điều 123 BLHS là xâm phạm đến quyền tự do, dân chủ của công dân, còn ở Điều 303 là xâm phạm hoạt động tư pháp. Do đó, ngoài hai hành vi đã nêu này, các hành vi giam, giữ người trái pháp luật khác đều phải xử lý theo Điều 123 BLHS trên những cơ sở chung.

Bên cạnh đó, nếu một người có hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật nhưng người bị hại là người nước ngoài (người không có quốc tịch Việt Nam) đang sinh sống, du lịch hay làm việc tại nước ta thì người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) về tội phạm này trên những cơ sở chung. Bởi lẽ, đối tượng tác động của tội phạm này là con người cụ thể (nói chung). Hơn nữa, Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001) đã khẳng định: “Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam” (Điều 81).

1.3. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý. Mục đích phạm tội rất đa dạng, có thể do tư thù cá nhân, do muốn có thành tích, do xúi giục, do nhận tiền làm thuê;… Tuy nhiên, mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm này.

Mặc dù vậy, trong quá trình xem xét mục đích phạm tội kết hợp đánh giá với hành vi khách quan của tội phạm cũng cần chú ý khi định tội danh như sau:

– Nếu người phạm tội có hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật nhằm mục đích giết người hoặc cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về Tội giết người (Điều 93) hoặc Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104) trên những cơ sở chung. Tuy nhiên, nếu người phạm tội có hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, đồng thời còn có hành vi giết người hoặc cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ 11 % trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp do luật định, thì bị truy cứu TNHS theo nguyên tắc phạm nhiều tội trên những cơ sở chung.

– Nếu người phạm tội có hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật nhưng đối tượng là phụ nữ (hoặc trẻ em) nhằm mục đích hiếp dâm, thì bị truy cứu TNHS về Tội hiếp dâm (Điều 111) hoặc Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112) trên những cơ sở chung.

– Nếu người phạm tội có hành vi bắt, giữ hoặc giam trái pháp luật đối tượng là người lớn (từ đủ 16 tuổi trở lên, cả nam và nữ giới) hoặc trẻ em (dưới 16 tuổi) nhằm mục đích mua bán, trao đổi, thì bị truy cứu TNHS về Tội mua bán người (Điều 119) hoặc Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120) trên những cơ sở chung.

– Nếu người phạm tội có hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật nhưng có mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản thông qua việc đe dọa thân nhân, gia đình của người bị hại dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị truy cứu TNHS về Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134) trên những cơ sở chung.

– Nếu người phạm tội đã có ý định bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, đồng thời họ đã chuẩn bị công cụ, phương tiện, bố trí lịch trình, cách thức tiến hành, xác định thời gian, địa điểm mà người bị hại có mặt, chuẩn bị lực lượng tham gia… để thực hiện tội phạm, nhưng lại không thực hiện được hành vi phạm tội, thì căn cứ vào các tình tiết khách quan của vụ án và tùy trường hợp cụ thể, họ có thể bị truy cứu TNHS về tội phạm này nhưng ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt trên những cơ sở chung.

1.4. Chủ thể của tội phạm

Tội phạm được thực hiện bởi bất kỳ người nào có đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS do BLHS quy định. Hiện nay, BLHS không trực tiếp định nghĩa thế nào là “tình trạng có năng lực TNHS”, mà lại quy định tình trạng đối lập của nó – “tình trạng không có năng lực TNHS”. Dưới góc độ khoa học luật hình sự Việt Nam, “tình trạng có năng lực TNHS” được hiểu là khả năng của một người có thể nhận thức được đầy đủ tính chất pháp lý và tính chất thực tế của hành vi phạm tội, cũng như khả năng điều khiển hành vi đó3. Trong khi đó, về tuổi chịu TNHS, Điều 12 BLHS quy định: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm; 2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Do đó, kết hợp hai tiêu chí (năng lực TNHS và độ tuổi chịu TNHS), đồng thời căn cứ vào nội dung các điều 8, 12 và 123 BLHS cho thấy, Khoản 1 của tội này – là tội phạm ít nghiêm trọng; Khoản 2 – tội phạm nghiêm trọng, Khoản 3 – tội phạm rất nghiêm trọng. Tương ứng như vậy – chủ thể của tội phạm này như sau – là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực TNHS (Khoản 1 và Khoản 2); là người từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực TNHS (Khoản 3)4. Như vậy, chủ thể của tội phạm này khác chủ thể Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật (Điều 303).

1.5. Hình phạt

Điều luật quy định ba khoản tương ứng với ba khung hình phạt và một khoản đề cập đến hình phạt bổ sung như sau:

– Khoản 1: là hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

– Khoản 2: hình phạt tù từ một năm đến năm năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có tổ chức: Đây là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ và mang tính bền vững, thể hiện tính chất và mức độ nguy hiểm cao cho xã hội giữa những người cùng thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật; do đó, cần xử lý nghiêm khắc hơn so với trường hợp thông thường. Trên thực tế, biểu hiện của hình thức này là các hành vi của băng nhóm côn đồ, lưu manh bắt, giữ hoặc giam người để xiết nợ, đòi nợ thuê hoặc đòi hỏi các yêu sách đối với thân nhân của nạn nhân. Tuy nhiên, không được quan niệm mọi vụ bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật có nhiều người tham gia đều là phạm tội có tổ chức mà phải đáp ứng những điều kiện do pháp luật quy định5.

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: là trường hợp người có chức vụ, quyền hạn và có thẩm quyền trong việc bắt, giữ hoặc giam người đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Trường hợp có chức vụ, quyền hạn nhưng không có thẩm quyền trong việc bắt, giam, giữ người thì xử lý theo Khoản 1 Điều luật này.

c) Đối với người thi hành công vụ: là trường hợp một người có hành vi bắt, giữ hoặc giam người đang thi hành nhiệm vụ Nhà nước giao6, nhằm cản trở hoặc đe dọa không cho họ thực hiện nhiệm vụ. BLHS chỉ quy định “đối với người thi hành công vụ” nhưng cần hiểu rộng áp dụng cả đối với cả các trường hợp người “đã, đang hoặc sẽ” thi hành công vụ.

d) Phạm tội nhiều lần: là trường hợp một người có hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật từ hai lần trở lên và chưa bị truy cứu TNHS và người phạm tội bị đưa ra xét xử cùng một lần. Cũng cần lưu ý, nếu trước đó người phạm tội đã phạm vào một tội khác thì không xác định là phạm tội nhiều lần.

đ) Đối với nhiều người: Đây là trường hợp một người phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật đối với từ hai người trở lên.

– Khoản 3: là hình phạt tù từ ba năm đến mười năm khi phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng.

Từ khi ban hành BLHS đến nay, dấu hiệu “hậu quả nghiêm trọng” chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất của các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền. Trước đây, Nghị quyết số 04/NQ-HĐTP ngày 29/11/1986 về Hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần các tội phạm của BLHS của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn vấn đề này nhưng nó đã lạc hậu (Hướng dẫn thi hành điều luật tương ứng – Điều 119 BLHS năm 1985).

Dưới góc độ khoa học, phạm tội gây “hậu quả nghiêm trọng” được hiểu là gây thiệt hại về tinh thần, vật chất cho người bị hại hoặc gia đình họ, ảnh hưởng xấu về mặt xã hội, như: người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật uất ức mà tự sát, hoặc do bị giam, giữ lâu ngày mà mắc bệnh nặng, làm gia đình ly tán… Còn gây thiệt hại về vật chất như: người bị giam, giữ lâu ngày là lao động chính nuôi sống gia đình, do bị giam, giữ làm cho kinh tế gia đình họ lâm vào tình trạng đặc biệt khó khăn; hay về mặt xã hội – làm cho dư luận quần chúng nhân dân lên án, căm phẫn, ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước, đến cán bộ bảo vệ pháp luật;…

– Khoản 4: quy định hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một đến năm năm đối với người phạm tội sau khi đã chấp hành xong hình phạt chính.

2. Những tồn tại trong thực tiễn xét xử và hạn chế trong quy định của pháp luật về Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

Thực tiễn cho thấy, tình hình xét xử các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân chỉ tập trung đặc biệt vào Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, còn các tội phạm khác có xảy ra nhưng chiếm tỷ lệ rất ít. Ngoài tội phạm quy định tại Điều 123 BLHS, nhiều năm không có vụ án và không có bị cáo nào bị đưa ra xét xử về các tội phạm khác trong Chương XIII này7. Vì vậy, việc làm rõ những tồn tại trong thực tiễn xét xử và hạn chế trong BLHS (và cả văn bản hướng dẫn thi hành) về tội này là việc làm cần thiết để đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật, qua đó nâng cao hiệu quả áp dụng và góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm.

2.1. Tồn tại trong thực tiễn xét xử về Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

Hiện nay, thực tiễn có những tranh luận về việc định tội (danh) đối với trường hợp một người (hay nhiều người) thực hiện một, hai hoặc cả ba hành vi phạm tội – bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật.

Ví dụ: Nguyễn Văn A, Phạm Văn B vừa có hành vi bắt, vừa có hành vi trói để giữ Trần Văn C trong thời gian 30 phút do C nợ tiền A. Khi Công an đến, A và B mới thả C. Như vậy, việc định tội của A và B là một tội – Tội bắt giữ người trái pháp luật hay hai tội – Tội bắt người trái pháp luật và Tội giữ người trái pháp luật? Cũng trong trường hợp này, nếu A và B lại giam C vào nhà kho hai tiếng nữa thì phạm một tội (Tội bắt giữ và giam người trái pháp luật) hay phạm ba tội (Tội bắt người trái pháp luật, Tội giữ người trái pháp luật và Tội giam người trái pháp luật)? Về vấn đề này, chúng tôi tán thành với quan điểm của ThS. Đinh Văn Quế khi giải quyết việc định tội (danh) như sau với sáu trường hợp cụ thể8:

– Nếu người phạm tội chỉ có hành vi bắt người trái pháp luật mà không có hành vi giữ hoặc giam người trái pháp luật thì chỉ định tội là “bắt người trái pháp luật”;

– Nếu người phạm tội chỉ có hành vi giữ người trái pháp luật mà không có hành vi bắt hoặc giam người trái pháp luật thì định tội là “giữ người trái pháp luật”;

– Nếu người phạm tội chỉ có hành vi giam người trái pháp luật mà không có hành vi bắt hoặc giữ người trái pháp luật thì định tội là “giam người trái pháp luật”;

– Nếu người phạm tội vừa có hành vi bắt, vừa có hành vi giữ người trái pháp luật mà không có hành vi giam người trái pháp luật thì định tội “bắt giữ người trái pháp luật” (không có dấu phẩy);

– Nếu người phạm tội vừa có hành vi bắt, vừa có hành vi giam người trái pháp luật mà không có hành vi giữ người trái pháp luật thì định tội “bắt giam người trái pháp luật” (không có dấu phẩy);

– Nếu người phạm tội có cả ba hành vi bắt, giữ và giam người trái pháp luật thì định tội “bắt giữ và giam người trái pháp luật” (không có dấu phẩy và liên từ hoặc).

Sở dĩ chúng tôi tán thành với quan điểm này bởi lẽ:

Một là, bảo đảm khi xét xử Tòa án sẽ định đúng tội (danh) đối với một hoặc các hành vi phạm tội mà người phạm tội đã thực hiện trong điều luật này về phương diện khoa học và thực tiễn;

Hai là, sẽ không thể xét xử các bị cáo về hai, ba tội độc lập được, mà chỉ xét xử họ thuộc về sáu trường hợp đã nêu vì nếu xét xử các bị cáo về hai, ba tội thì khung hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 123 BLHS sẽ phải áp dụng hai hoặc ba lần, điều này là không thể được9.

Ba là, nếu mỗi hành vi phạm tội được áp dụng một lần, thì sẽ gây bất lợi cho các bị cáo khi phải áp dụng hai, ba lần khi có hai, ba hành vi phạm tội trong cùng một điều luật. Đặc biệt, nếu mỗi hành vi phạm tội được áp dụng một lần sẽ là vướng mắc nếu bị cáo phạm tội quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 123 BLHS thì khả năng bất lợi cho bị cáo sẽ tăng lên đáng kể khi khung hình phạt ở các khoản sau nặng hơn.

Tuy nhiên, quan điểm này cũng có điểm chưa thật hợp lý ở chỗ – nếu so sánh một người thực hiện một hành vi so với một người thực hiện hai hay cả ba hành vi phạm tội thì rõ ràng trường hợp sau nguy hiểm hơn nhưng cũng chỉ áp dụng một lần là chưa bảo đảm nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam. Mặc dù việc thực hiện hành vi bắt là để giữ hoặc giam; tuy vậy, trong khi chưa có phương án khả thi, thì vấn đề định tội danh vẫn tiến hành như vậy nhưng khi quyết định hình phạt, các Tòa án cần chú ý để lượng hình và cá thể hóa TNHS của người phạm tội cho bảo đảm nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam.

2.2. Một số hạn chế trong quy định của pháp luật

Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy, các hạn chế của pháp luật được thể hiện ở ba nội dung:

Về mặt khách quan của tội phạm, điều luật quy định ba hành vi phạm tội. Các hành vi này đều là hành vi xâm phạm quyền tự do thân thể của người khác nhưng khác nhau ở hình thức thể hiện cụ thể – bắt, giữ hay giam người trái pháp luật. Do đó, tính pháp luật được đề cập trong nội dung điều luật là không đúng về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục mà BLTTHS quy định trong việc bắt, giữ hoặc giam người, cũng như quy định trong PLXLVPHC về tạm giữ người theo thủ tục hành chính. Điều này gây khó khăn nhất định cho công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân.

BLHS và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định cụ thể một người (hay nhiều người) có hành vi bắt, giữ hay giam người trái pháp luật trong thời gian bao lâu mới bị coi là phạm tội hay mới bị coi là trái pháp luật và xâm phạm đến quyền tự do thân thể của công dân, từ đó dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau trong các vụ án được Tòa án đưa ra xét xử.

Ví dụ: Nguyễn Trung D, Phạm Văn E có hành vi bắt, giữ hoặc giam Đỗ Quang F trong thời gian 05 phút (hoặc 15 phút, 30 phút, 45 phút, 2 tiếng, 4 tiếng;), thì trường hợp nào sẽ là phạm tội? Rõ ràng, vấn đề này cũng cần có hướng dẫn chính thức của các nhà làm luật hoặc quy định trong BLHS, tránh dẫn đến việc nhận thức và áp dụng không thống nhất trong một số vụ án cụ thể10. BLHS và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng chưa giải thích cụ thể về trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại Khoản 3 Điều 123 BLHS dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất.

3. Hướng sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật

Từ những tồn tại, hạn chế đã nêu trong thực tiễn xét xử và trong quy định của pháp luật hình sự về tội phạm này, chúng tôi đề nghị:

3.1. Sửa đổi, bổ sung nội dung Điều 123 BLHS (Khoản 1) theo hướng bổ sung khái quát hóa việc bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là không đúng với các quy định về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục do pháp luật quy định11; đồng thời bổ sung cụm từ “không kể thời gian bao lâu” để bảo đảm việc tôn trọng và bảo vệ quyền tự do thân thể của công dân, cũng như tránh bỏ lọt tội phạm và người phạm tội. Còn tùy từng trường hợp cụ thể mà điều luật đã có các chế tài lựa chọn để áp dụng – phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm. Như vậy, từ kiến nghị này, Khoản 1 Điều 123 BLHS (mới) sẽ như sau:

“Điều 123. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người không đúng căn cứ, thẩm quyền và thủ tục do pháp luật quy định, không kể thời gian bao lâu, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm…”.

3.2. Cần có văn bản hướng dẫn thi hành Khoản 3 Điều 123 BLHS về trường hợp phạm tội “gây hậu quả nghiêm trọng”. Dưới góc độ khoa học, nó được hiểu thuộc một trong các trường hợp sau12:

a) Thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng là do bị bắt, giữ hoặc bị giam trái pháp luật mà người bị bắt, bị giữ, bị giam đã tự sát chết, hoặc bị thú dữ tấn công, hoặc vì những nguyên nhân khác mà người phạm tội không lường trước được. Nếu người phạm tội biết trước hoặc bỏ mặc cho hậu quả chết người xảy ra, thì tùy trường hợp có thể còn bị truy cứu TNHS về tội giết người;

b) Thiệt hại về sức khỏe được coi là hậu quả nghiêm trọng do hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật gây ra là trường hợp người bị bắt, bị giữ hoặc bị giam bị tổn hại đến sức khỏe mà tỷ lệ thương tật từ 41% trở lên ngoài ý muốn của người phạm tội;

c) Thiệt hại về tài sản được coi là hậu quả nghiêm trọng do hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật gây ra là trường hợp do bị bắt, bị giữ hoặc bị giam mà người bị hại không làm ra của cải vật chất hoặc phải chi phí do bị bắt, bị giữ hoặc bị giam có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên;

d) Thiệt hại khác được coi là hậu quả nghiêm trọng do hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật gây ra là trường hợp do hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật đã gây ra mất lòng tin, dư luận xấu trong nhân dân đối với chính quyền, cơ quan nhà nước, hàng trăm người kéo đến trụ sở đòi phải xử lý và trừng trị người phạm tội, gây mất trật tự xã hội nghiêm trọng, gây ách tắc giao thông, đường phố trong thời gian nhiều giờ;…

3.3. Cũng cần có văn bản hướng dẫn thi hành vấn đề định tội đối với các trường hợp một người (hay nhiều người) có một hoặc nhiều hành vi phạm tội đối với một người trong Điều 123 BLHS. Theo đó, về hướng sửa đổi, bổ sung nội dung này chúng tôi tán thành với quan điểm đã nêu trong điểm 2.1. mục 2 đã nêu.

Tóm lại, quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một trong những quyền tự do, dân chủ rất quan trọng của công dân được bảo vệ bằng Hiến pháp và pháp luật. Xâm phạm đến quyền này chính là xâm phạm đến quyền con người. Bởi lẽ, “quyền con người là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người”13. Do đó, nếu người nào thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật đều phải bị xử lý nghiêm minh theo đúng các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, để có cơ sở pháp lý đầy đủ và vững chắc, thì việc tiếp tục hoàn thiện Điều 123 BLHS và kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành về tội này phục vụ thực tiễn xét xử là yêu cầu có tính cấp thiết hiện nay.

Chú thích:

(1)  GS, TS. Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2010, tr. 90, 647 và 620.

(2) TS. Trần Minh Hưởng (chủ biên), Tìm hiểu Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và những văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2010, tr. 262.

(3) Xem: GS, TSKH. Lê Cảm, Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền (Một số vấn đề cơ bản của Phần chung), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1999, tr.77.

(4) Trên thực tế, cũng có trường hợp chủ thể của tội phạm có thể là người có chức vụ, quyền hạn đã có hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật nhưng thông thường phạm tội khi thi hành công vụ vì mục đích cá nhân hoặc những mục đích khác, còn nếu lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật thì sẽ bị xử lý tăng nặng TNHS (điểm b Khoản 2 Điều 123 BLHS).

(5) Xem cụ thể hơn: Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 16/11/1988 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn bổ sung Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 05/01/1986 cũng của Hội đồng thẩm phán TANDTC.

(6) Người thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nhiệm vụ (như: tuần tra, canh gác, bảo vệ…) theo kế hoạch của Nhà nước, của xã hội. Xem thêm: Nghị quyết số 04/NQ-HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán TANDTC ban hành về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Phần các tội phạm BLHS.

(7) Xem: TS. Trịnh Tiến Việt (chủ biên), Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân theo luật hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 183-194.

(8) Xem: ThS. Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học BLHS Phần các tội phạm, Tập III – Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân; xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, Nxb. TP, Hồ Chí Minh, 2002, tr.34-35.

(9)  Xem thêm: ThS. Lê Văn Luật, Bàn về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật quy định tại Điều 123 BLHS, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 23 (tháng 12)/2007, tr. 31.

(10) Xem cụ thể hơn: TS. Trịnh Tiến Việt, “Nguyễn Văn Hoa và Nguyễn Văn Huy phạm tội bắt người trái pháp luật”, Số chuyên đề Người Bảo vệ công lý, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 14(138)/2000, tr. 20; ThS. Lê Văn Luật, Pháp luật hình sự Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2010, tr. 191; Hà Huy Cầu, Các bị cáo có phạm tội bắt người trái pháp luật hay không?, Số chuyên đề Người Bảo vệ công lý, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 12 (136)/2000, tr. 18; Nguyễn Thị Thanh, Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 84.

(11) Do pháp luật quy định ở đây cần hiểu rộng bao gồm: các căn cứ, thẩm quyền và thủ tục bắt, giữ hoặc giam người do BLTTHS quy định; căn cứ, thẩm quyền và thủ tục do PLXLVPHC về tạm giữ người theo thủ tục hành chính quy định.

(12)  Về trường hợp phạm tội “gây hậu quả nghiêm trọng” (Khoản 3 Điều 123 BLHS), chúng tôi thấy đề xuất của tác giả Đinh Văn Quế là hợp lý nên tham khảo, có bổ sung thêm ý kiến của mình để kiến nghị trong bài viết này. Xem: ThS. Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học BLHS Phần các tội phạm, Tập III – Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân; xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, Nxb. TP Hồ Chí Minh, 2002, tr. 61-62.

(13) Xem: United Nation, Human Rights: Question and Answers, New York and Geneva, 2006, p.6.

 

TS. Trịnh Tiến Việt – Phó chủ nhiệm bộ môn Tư pháp Hình sự, Khoa Luật ĐHQGHN

ThS. Nguyễn Thị Thanh – Phó chánh án TAND Quận Cầu Giấy, Hà Nội

Theo: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử (www.nclp.org.vn)

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: