RSS

Một số điểm cần lưu ý khi áp dụng thông tư liên tịch số 7/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP

10 May

Tội phạm mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 194 của BLHS năm 1999: “Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Tội phạm mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 194 của BLHS năm 1999: “Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Tuy nhiên trên thực tế xác định như thế nào là hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hay trường hợp người thực hiện mua bán, trao đổi… ma túy giả có được coi là hành vi mua bán trái phép chất ma túy hay không. Từ đó để xử lý người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy đòi hỏi phải có sự thống nhất về đường lối xử lý giữa các ngành, các địa phương, nhằm đảm bảo sự công bằng, đúng pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, điều tra, truy tố người phạm tội trước pháp luật.

Ngày 24/12/2007 Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp đã ký ban hành Thông tư liên tịch số 17/TTLT-BCA- VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999. Theo đó khi xử lý người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy cần chú ý những vấn đề như:

Thứ nhất, mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 194 là một trong các hành vi sau :

+ Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;

+ Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

+ Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

+ Dùng chất ma túy nhằm trao đổi, thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc do đâu mà có);

+ Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;

+ Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

+ Vận chuyển ma túy nhằm bán trái phép cho người khác.

Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi mua bán trái phép chất ma túy như đã trình bày ở trên đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy.

Như vậy, với hành vi bán trái phép chất ma túy, dùng chất ma túy nhằm trao đổi, thanh toán trái phép đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 194 BLHS năm 1999, không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy đó do đâu mà có. Còn lại các hành vi khác như mua, xin, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy… thì cần phải chứng minh được mục đích thực hiện hành vi này là bán trái phép chất ma túy đó.

Trường hợp bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác cũng đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 194 của BLHS năm 1999. Đây là điểm mới so với Thông tư liên tịch số 01, 02 năm 1998, hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương VIIa “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1985, để tránh một số trường hợp trên thực tế người phạm tội khi bị phát hiện, bắt giữ khai bán hộ chất ma túy cho người khác nhằm phủ nhận hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy.

Thứ hai, trong trường hợp một người biết là chất ma túy giả nhưng làm cho người khác tưởng là chất ma túy thật nên mua bán, trao đổi… thì người đó không phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, mà chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 của BLHS năm 1999, nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác nữa trong cấu thành tội phạm này.

Đây là điểm mới trong Thông tư liên tịch số 17 so với Thông tư liên tịch số 01, 02 ban hành năm 1998. Đồng thời là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xử lý người phạm tội theo đúng pháp luật. Thực tế cho thấy, ở một số địa phương có trường hợp đối tượng làm giả chất ma túy để bán cho người khác nhằm mục đích kiếm lời. Trường hợp này trong khoảng thời gian trước khi ban hành Thông tư liên tịch số 17, ở các địa phương, cách xử lý có nhiều quan điểm khác nhau, có địa phương truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo, song có địa phương không truy cứu trách nhiệm hình sự được. Chính điều đó đã tạo ra sự không thống nhất trong đường lối xử lý giữa các địa phương, các ngành. Hiện nay nếu vận dụng theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 17 thì nếu chứng minh được ý thức chủ quan của đối tượng là chủ định làm ma túy giả để mua bán, trao đổi… thì sẽ xem xét trách nhiệm hình sự của đối tượng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 của BLHS năm 1999.

Thứ ba, trường hợp sau khi giám định không phải là chất ma túy, nhưng người thực hiện hành vi mua bán ý thức rằng đó là chất ma túy thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 194 của BLHS năm 1999.

Theo quy định của pháp luật, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy. Thực tế hiện nay xảy ra một số trường hợp là sau khi gửi mẫu đi giám định thì kết luận của cơ quan giám định xác định không phải chất ma túy, hoặc không phải chất ma túy theo quy định của danh mục các chất ma túy do Chính phủ Việt Nam ban hành, nhưng lại thuộc danh mục kiểm soát ma túy của quốc tế. Như vậy những trường hợp này vận dụng quy định của Thông tư liên tịch số 17, nếu chứng minh được ý thức của người thực hiện hành vi mua bán rằng họ tin tưởng đó là chất ma túy, thì họ vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 194 – BLHS năm 1999.

Tóm lại: Nghiên cứu, nắm vững những vấn đề trên khi áp dụng Thông tư liên tịch số 17/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTP trong xử lý người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy là vấn đề rất cần thiết, nó giúp cho công tác phát hiện, điều tra tội phạm mua bán trái phép chất ma túy đạt hiệu quả hơn, từ đó xác định, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mặt khác, trong điều kiện nước ta đang thực hiện chính sách mở cửa, thu hút đầu tư từ nước ngoài, nhiều người nước ngoài vào Việt Nam để sinh sống, làm việc, kéo theo nhiều loại ma túy mới xuất hiện ở nước ta, trong khi đó danh mục các chất ma túy chưa thể bổ sung kịp thời thì những quy định của Thông tư liên tịch số 17 sẽ là cơ sở pháp lý rất quan trọng cho việc xử lý người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy nếu cán bộ, chiến sĩ CSND biết vận dụng một cách khéo léo./.

Hoàng Hữu Toản, G.viên ĐH Cảnh Sát Nhân Dân

Theo: Cổng thông tin điện tử ĐHCSND (http: http://www.pup.edu.vn)

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: