RSS

Quan điểm về tội phạm của một số nước trong bối cảnh toàn cầu hóa

Các quốc gia đều xác định tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực, các hoạt động tội phạm luôn đi ngược lại với lợi ích xã hội, gây ra thiệt hại cho xã hội. Trong mỗi thời kỳ khác nhau và trong mỗi giai đoạn khác nhau, tội phạm trong xã hội luôn có sự biến đổi cả về nội dung lẫn hình thức. Thế kỷ 21 đã xuất hiện những hình thức biến tướng mới của tội phạm. Vì vậy, nhận thức đầy đủ về phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm và có giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm luôn được các quốc gia ưu tiên quan tâm, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Bài viết tổng hợp một số quan điểm mới về tội phạm và giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay của một số nước. 

1. Các quan điểm về tội phạm và giải pháp phòng, chống tội phạm ở Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa

a) Quan điểm về tội phạm

Phân tích các quan điểm về tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa của các quốc gia thuộc nhóm này, có thể rút ra một số kết luận:

Thứ nhất, tất cả các quốc gia này trong bối cảnh toàn cầu hóa đều không đề cập về bản chất giai cấp của tội phạm. Họ cho rằng, tội phạm chỉ là một hiện tượng xã hội tiêu cực, có quá trình phát sinh, tồn tại, phát triển và diệt vong. Vì nó mang bản chất tiêu cực luôn đe dọa và gây ra những thiệt hại cho xã hội, do vậy cần được quy định cấm trong luật hình sự để làm cơ sở đấu tranh loại trừ.

Thứ hai, các quốc gia này đều xác định, một người khi thực hiện một trong các hành vi nguy hiểm đã được ghi nhận trong Luật Hình sự thì mới bị coi là tội phạm. Điều này có nghĩa, tội phạm được xác định trên nguyên tắc: không có luật thì không có tội và “trong luật không có tội phạm thì không có hình phạt”.

Read the rest of this entry »

 
 

Làm giả bột ngọt, tội gì?

Cùng một hành vi làm giả bột ngọt nhưng có nơi xử lý hình sự về tội sản xuất hàng giả, có nơi lại xử lý về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh. Theo quy định, xử tội nào mới đúng?

Ngày 5-1 vừa qua, TAND quận Bình Tân (TP.HCM) đã tuyên phạt Dương Thị Yến Xuân hai năm sáu tháng tù treo, Đặng Hữu Tài và Lê Thái Hiền mỗi người hai năm tù treo về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh.

Mỗi nơi áp một tội

Theo hồ sơ, Hiền và Tài được Xuân thuê sản xuất bột ngọt và bột giặt giả. Các bị cáo đổ một bao bột ngọt Trung Quốc loại 25 kg trộn đều với 1 kg muối, 1 kg bột ngọt nhãn hiệu Ajinomoto rồi chia ra thành từng bịch nhỏ. Cạnh đó, các bị cáo lấy một bao bột giặt nhãn hiệu Yes pha trộn với một xô bột giặt Omo thật và 1 kg chất tạo bọt để làm bột giặt Omo giả.

Tổng giá trị bột ngọt giả nhãn hiệu Ajinomoto là gần 27 triệu đồng, còn bột giặt giả nhãn hiệu Omo là hơn 1 triệu đồng. Số hàng giả này được các bị cáo đem đi tiêu thụ ở chợ Bình Tây.

Các cơ quan tố tụng ở Bình Tân kết luận hành vi pha chế bột ngọt giả của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về sản xuất buôn bán các loại hàng hóa là lương thực, thực phẩm. Hành vi này không những làm mất ổn định thị trường mà còn đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người tiêu dùng, đã phạm vào tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157 BLHS). Riêng hành vi sản xuất bột giặt giả của các bị cáo chỉ có tổng giá trị hơn 1 triệu đồng nên chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Read the rest of this entry »

 

Những vướng mắc khi áp dụng Điều 105 BLTTHS vào thực tiễn

 

Trước tiên chúng tôi hoàn toàn đồng tình với tác giả về quy định tại Điều 105 BLTTHS năm 2003 còn có nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau trong thực tiễn do chưa có các văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể chi tiết.

Tuy nhiên, đối với trường hợp cụ thể ở ví dụ 2 mà tác giải đã nêu ra, chúng tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm thứ hai, bởi lẽ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất (sau đây gọi chung là người bị hại) chỉ có quyền yêu cầu khởi tố vụ án trong một số tội phạm cụ thể đã được liệt kê và tội phạm đó cũng phải bị truy cứu TNHS ở khoản 1 (khoản có khung hình phạt nhẹ nhất) của điều luật chứ luật không quy định người bị hại có quyền yêu cầu khởi tố một bị can (bất kỳ nào đó) cụ thể:

“1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại Khoản 1 các Điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của BLHS chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.” (Khoản 1 Điều 105 BLTTHS).

Còn quyền và cũng là trách nhiệm khởi tố bị can là của cơ quan điều tra (Khoản 1 Điều 126 BLTTHS: “Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan Điểu tra ra quyết định khởi tố bị can”). Mặt khác, tại Khoản 2 Điều 105 BLTTHS nhà làm luật cũng đã quy định:“2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ…”.

Do đó, khi người bị hại xin rút yêu cầu (là yêu cầu khởi tố vụ án theo quy định tại Khoản 1 điều này) trước ngày mở phiên toà sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ (không phân biệt vụ án đó có một bị can hay nhiều bị can). Hiểu theo cách khác, trong một vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì khi người đã yêu cầu khởi tố đó rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa thì vụ án đó bị đình chỉ và đương nhiên tất cả các bị can đồng phạm trong vụ án đó cũng phải bị đình chỉ điều tra bị can, tức luật không cho phép người bị hại có sự lựa chọn chỉ xử lý TNHS với một (hay nhiều) bị can này mà không yêu cầu xử lý đối với một hay những bị can còn lại.

Read the rest of this entry »

 

Những vướng mắc trong thực hiện Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội

Theo qui định tại điểm c.1 khoản c Điều 2 Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội quy định không xử lý đối với người trộm cắp tài sản có giá trị dưới 02 triệu đồng, trừ trường hợp có yếu tố định tội khác. Song, do Nghị quyết không quy định cách giải quyết cụ thể đối với những trường hợp bị cáo trộm cắp dưới 02 triệu đồng nhưng có nhiều tiền án, nên trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự còn gặp nhiều vướng mắc, nhiều quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn về định tội, định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị can có nhiều tiền án trộm cắp dưới 02 triệu đồng. Dưới đây là một số trường hợp để các đồng chí cùng trao đổi, tháo gỡ:

Trường hợp 1:

Năm 2005, Nguyễn Văn A trộm cắp 25 triệu đồng bị xử theo khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự (viết tắt BLHS), mức án 09 tháng tù giam.

Năm 2006 A lại trộm cắp tài sản có giá trị 600.000đ, bị xét xử theo khoản 1, Điều 138 BLHS với tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo Điều 48 BLHS, mức án là 12 tháng tù giam.

(Cả hai bản án trên A đều đã thi hành án xong cả phần hình sự lẫn dân sự).

Năm 2007, A trộm cắp tài sản có giá trị 50.000đ, bị xét xử theo khoản 1, Điều 138 BLHS với tình tiết tăng nặng là “tái phạm” và phạt tiền 05 triệu đồng (thuộc trường hợp yếu tố định tội khác). Bản án này A chưa thi hành khoản tiền phạt 05 triệu đồng.

Tháng 3/2011, A trộm cắp tài sản có giá trị trên 02 triệu đồng.

Read the rest of this entry »

 
 

“Nguyên đơn dân sự có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS theo Khoản 2 Điều 46 BLHS hay không?”

 

* Khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 có quy định về các tình tiết giảm nhẹ:

“2.Khi quyết định hình phạt, Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án”.

Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của BLHS năm 1999 cũng đã có hướng dẫn chi tiết quy định này tại tiểu mục c Mục 5. Theo đó, các tình tiết sau đây được coi là các tình tiết giảm nhẹ khác:

“- Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sỹ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước.

- Bị cáo là thương binh hoặc có người thân thích như vợ, chồng, cha, mẹ, con (con đẻ hoặc con nuôi), anh, chị em ruột là liệt sỹ;

- Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên;

- Người bị hại cũng có lỗi;

- Thiệt hại do lỗi của người thứ ba;

- Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo;

Read the rest of this entry »

 
 

Thực trạng và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp

Tranh tụng tại phiên tòa là một trong những nội dung có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự, là vấn đề có tính thời sự được xã hội quan tâm. Tranh tụng tại phiên tòa hình sự không chỉ là yêu cầu của việc bảo đảm tính dân chủ, công bằng giữa những người tham gia tố tụng với Viện kiểm sát, mà kết qủa tranh tụng tại phiên tòa là căn cứ để Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự xác định sự thật vụ án. Thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS) và Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” (gọi tắt là Nghị quyết 08) trong đó xác định: “Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác

Khi xét xử, các Tòa án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết qủa tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, người làm chứng, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn luật định. Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để Luật sư tham gia vào qúa trình tố tụng, tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa…”

Thời gian gần đây nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng BLTTHS của cơ quan có thẩm quyền được ban hành và sửa đổi kịp thời cho phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08 nhằm đề cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật của HĐXX về các phán quyết của mình. Hầu hết các Thẩm phán có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, đội ngũ Thẩm phán và Thư ký Tòa án đều có trình độ cử nhân luật trở lên; đa số các Thẩm phán mới được bổ nhiệm đã được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ xét xử. Cơ sở vật chất, kinh phí đảm bảo cho hoạt động xét xử của các Tòa án ngày càng được Nhà nước quan tâm và tăng cường.

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, hoạt động xét xử của Tòa án theo quy định của BLTTHS và tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW cũng có những khó khăn nhất định, cụ thể là :

Read the rest of this entry »

 

Nguyên tắc việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội Thẩm nhân dân tham gia, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán: Thực tiễn và những bất cập

Một trong những đặc trưng của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Bản thân chế định Hội thẩm là sự thể hiện tư tưởng ” lấy dân làm gốc”, bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án. Tòa án là cơ quan quyền lực của Nhà nước, Nhà nước thông qua Tòa án để thực hiện quyền lực tư pháp của mình. Chính bằng hoạt động xét xử, Tòa án giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của nhân dân. Hội thẩm bằng sự tham gia của mình vào Hội đồng xét xử mà thực hiện quyền lực tư pháp và thông qua đó để nhân dân tham gia một cách có hiệu quả vào công tác quản lý Nhà nước nói chung, hoạt động của Tòa án nói riêng. Tại Điều 129 Hiến pháp 1992 quy định: ” Việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Tòa án Quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật. Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán”. Như vậy, nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán là một nguyên tắc Hiến định, nhưng tham gia cụ thể như thế nào lại do Luật tố tụng Hình sự, Dân sự… quy định. Vì là một nguyên tắc Hiến định nên nếu việc xét xử của Tòa án nhân dân mà không có Hội thẩm nhân dân  tham gia thì sẽ không chỉ là vi phạm Luật tố tụng mà còn là vi phạm Hiến pháp. Nguyên tắc này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong xét xử, bởi việc tham gia của Hội thẩm giúp cho Tòa án xét xử không chỉ đúng Pháp luật mà còn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Hội thẩm có đời sống chung trong cộng đồng, trong tập thể lao động, nên Hội thẩm hiểu sâu hơn tâm tư nguyện vọng của quần chúng, nắm bắt được dư luận quần chúng nhân dân. Khi được cử hoặc bầu làm Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm không tách khỏi hoạt động lao động sản xuất của cơ quan, đơn vị, cơ sở của mình. Với vốn hiểu biết thực tế, kinh nghiệm trong cuộc sống, với sự am hiểu về phong tục tập quán ở địa phương, Hội thẩm sẽ bổ sung cho Thẩm phán những kiến thức xã hội cần thiết trong quá trình xét xử để có được một phán quyết đúng pháp luật, được xã hội đồng tình ủng hộ. Tại Hội nghị học tập của ngành cán bộ Tư pháp năm 1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch. Như thế cũng chưa đủ. Không chỉ giới hạn hoạt động của mình trong khung Tòa án mà phải gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân…”. Muốn đưa ra phán quyết đúng, giải quyết các tranh chấp đúng pháp luật, hợp với lẽ công bằng, xử phạt đúng người, đúng tội, hiển nhiên đòi hỏi những người làm công tác xét xử phải có đạo đức trong sáng, có bản lĩnh, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ vững vàng. Ngoài ra, để Hội đồng xét xủ có phán quyết đúng đắn, Read the rest of this entry »

 

Xử án hình sự: Còn sai sót

Trong các vấn đề nổi lên tại hội nghị triển khai công tác năm 2012 do TAND Tối cao tổ chức tại TP.HCM ngày 3-1, đáng lưu ý hơn cả là việc xét xử án hình sự của các tòa địa phương vẫn còn nhiều lúng túng, sai sót…

Tòa Hình sự TAND Tối cao cho biết trong số 26 quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thì có đến 12 quyết định hủy án phúc thẩm, sơ thẩm để xét xử lại vì cho hưởng án treo không đúng.

Cho hưởng án treo sai

Theo Tòa Hình sự, điều kiện cho bị cáo hưởng án treo đã được quy định rõ tại Điều 60 BLHS và được hướng dẫn rất chi tiết trong Nghị quyết 01 ngày 2-10-2007 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao. Nhưng trong thực tiễn xét xử, các tòa lại thường không để ý đến nhân thân của bị cáo mà quá nhấn mạnh đến tình tiết bị cáo nộp tiền phạt hay tình tiết gia đình, người thân thích của bị cáo là người có công. Chính vì vậy có trường hợp bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội nhiều lần vẫn được tòa cho hưởng án treo.

Vụ án Hoa Anh Tuấn bị xét xử về tội cố ý gây thương tích là một minh chứng. Theo hồ sơ, do có mâu thuẫn với ông Tiến về việc thu mua phế thải, Tuấn đã nhờ một số người đánh dằn mặt người này. Tuấn đã chỉ nhà, chỉ mặt cho những người kia đánh, chém ông Tiến gây thương tật 23%. Xử sơ thẩm, TAND TP Hà Nội phạt Tuấn ba năm tù. Sau đó, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội đã sửa án sơ thẩm, cho bị cáo này hưởng án treo.

Đánh giá về vụ này, Tòa Hình sự TAND Tối cao cho rằng cả hai cấp tòa sơ, phúc thẩm đều có thiếu sót: Tuấn phạm tội thuộc trường hợp có tính chất côn đồ nhưng cấp sơ thẩm lại không áp dụng điểm i khoản 1 Điều 104 BLHS là sai, đồng thời chỉ phạt Tuấn ba năm tù là quá nhẹ, chưa tương xứng với mức độ, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội cùng vai trò chủ mưu, khởi xướng. Sau đó, cấp phúc thẩm đã không phát hiện ra sai lầm của cấp sơ thẩm lại còn cho Tuấn hưởng án treo trong khi Tuấn có nhân thân xấu (năm 2005 từng bị kết án về Read the rest of this entry »

 

Phòng, chống tội phạm: Sửa luật để tăng hiệu quả

Các nhà hình sự học thường nói khoa học càng tiến bộ thì tội phạm càng tinh vi. Nhận xét này chỉ mới đề cập đến khía cạnh kỹ thuật của công tác phòng, chống tội phạm.

Chính cách tiếp cận xã hội học mới đem lại những góc nhìn sâu và mới, từ đó cho thấy tình hình tội phạm ở nước ta hết sức đáng lo ngại.

Tình hình tội phạm hình sự ở nước ta đang gia tăng nghiêm trọng cả về số lượng và tính chất. Người ta dễ thấy tội phạm về con người xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự của người dân, tội phạm về sở hữu làm tổn thất thu nhập và tài sản của xã hội. Tuy nhiên, tác hại của tội phạm còn đáng quan ngại hơn dưới lăng kính xã hội học.

Tăng chi phí xã hội, giảm chất lượng sống

Trước hết là phí tổn hữu hình và vô hình của xã hội. Tội phạm nghiêm trọng đòi hỏi Nhà nước phải tăng cường nhân lực và phương tiện phòng, chống. Nếu có số liệu cụ thể để so sánh chi phí phòng, chống tội phạm của Nhà nước hiện nay với 10 năm trước thì chắc chắn sẽ có sự gia tăng rất lớn. Nhà cửa, xe cộ, công sở, tiệm quán phải xây dựng và trang bị an toàn hơn, nghĩa là tốn kém hơn. Sự đi lại, làm việc, nghỉ ngơi, giải trí của người dân sẽ phải thận trọng, cảnh giác, nghĩa là hạn chế hơn. Số lượng người bị giết, gây thương tích, môi trường bị tàn phá, nạn ma túy, tệ tham nhũng, ngoài những tác hại tức thời, hiện hữu cũng để lại những hậu quả xã hội sâu sắc và lâu dài về nhiều mặt.

Các nhà hình sự học đã từng báo động về tình trạng tội phạm hóa một bộ phận dân số. Khi đã có tiền án, thậm chí chỉ là tiền sự, trong điều kiện ở nước ta hiện nay, khả năng cải tạo và tái hòa nhập tương đối thấp. Điều này dẫn đến hậu quả: Tỉ lệ tái phạm sẽ càng cao và càng nghiêm trọng hơn. Càng nhiều người phạm tội, xã hội càng có nhiều tội phạm.

Read the rest of this entry »

 
 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.